16/8/12

Nhà mù Bừng Sáng: Ánh sáng nơi đâu?

Nhà mù Bừng Sáng: Ánh sáng nơi đâu?


VRNs (16.08.2012) – Sài Gòn – Ngày 15.07 vừa qua, Christine Hà, cô gái Mỹ gốc Việt đến từ Houston (Texas) đã vượt qua khoảng 30.000 người sáng mắt để lọt vào top 36 thí sinh dự chung kết cuộc thi truyền hình nổi tiếng MasterChef tại Mỹ. Cô gái này mắc một chứng bệnh về thần kinh, bắt đầu giảm thị lực từ năm 19 tuổi và bị mù hoàn toàn vào năm 27 tuổi. Hà đã làm lay động bao trái tim của khán giả khi thể hiện niềm đam mê nấu nướng cháy bỏng của mình với đôi mắt hầu như không nhìn thấy gì. Thiếu ánh sáng từ đôi mắt, Hà lấy ánh sáng từ trái tim.
50 em khiếm thị tại mái ấm Bừng Sáng sẽ phải làm gì để hội nhập và còn vươn lên hơn nữa với những người bình thường trong một xã hội còn quá nhiều phân biệt đối xử và khắc nghiệt với người khiếm thị?

Mái ấm của tình thương
Chị Hạnh, 24 tuổi, dáng người gầy ốm nhưng nói chuyện vui vẻ và thân thiện, chị bị khiếm thị do một tai nạn. Chị Hạnh dẫn chúng tôi quẹo vào một con hẻm nhỏ trên đường Nguyễn Tri Phương, Q.10, Sài Gòn (266/5 Nguyễn Tri Phương, P.4, Q.10). Trước mắt chúng tôi hiện lên một căn nhà nhỏ hẹp, khoảng 25 m2 và có một căn gác nhỏ. Dân chung quanh quen gọi là “nhà mù”.  
Mái ấm đang chăm sóc và nuôi dưỡng 50 em nhỏ. Mái ấm Bừng Sáng do thầy giáo khiếm thị Đào Khánh Trường sáng lập. Ông bị khiếm thị từ nhỏ do hậu quả của căn bệnh đầu mùa. Đồng cảm với những người khiếm thị, đặc biệt là các em thiếu nhi, năm 1977, thầy Trường nhận các em khiếm thị về nuôi. Đến ngày 16.09.1986, mái ấm Bừng Sáng chính thức thành lập. Cơ sở hoạt động đến nay đã được 25 năm.
Thầy Trường là giáo sư Âm Nhạc trường Khiếm Thị, cũng như các em, đôi mắt của thầy không thấy gì ngoài một màu đen. Để duy trì ngôi trường này miễn phí cho các em, thầy đã đi dạy và làm việc vất vả để có nguồn kinh phí ổn định cho nơi này. Cơ sở là một căn nhà chật hẹp, nằm trong con hẻm nhỏ, đang có 43 em khiếm thị sống ở đây, được giáo dục bởi người những người thầy khiếm thị. Cùng với sự hỗ trợ của cộng đồng thiện nguyện viên trong và ngoài nước.
Đến nay, trường Bừng Sáng đã xây dựng xong cơ sở 2 khang trang hơn ở gần ngay cơ sở 1 và có đầy đủ nhạc cụ, máy vi tính và những máy móc, phần mềm tin học dành riêng cho các bạn khiếm thị.
Từ khi thầy Trường mất, sơ Nguyễn Thị Hoàng,  (điện thoại: 0909681611), Hội Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức, đảm nhận công việc Chủ Nhiệm của trung tâm. Sơ Hoàng chia sẻ: “Lúc thầy Trường sinh thời, sơ và công đoàn thường xuyên lui tới thăm hỏi chia sẻ và giúp sức. Sau khi Thầy Trường mất, vì thương các em nhỏ không ai lo chăm sóc, nên sơ Hoàng xin chuyển về điều hành công việc, chăm lo cho các em về mặt tinh thần, giáo dục kiến thức, giúp các em tự tin vào bản thân, khuyến khích các em học tập nếu cám em ham muốn đi học, còn các em khác tùy vào khả năng sơ dạy làm đồ thủ công, bên cạnh đó còn có các bạn sinh viên, những nhà hảo tâm và các bạn đã rời mái trường trở về giúp duy trì và phát triển ngôi trường.”
  
Khó khăn không làm vơi ý chí
Những trẻ em nơi đây được sơ Hằng và sơ Hoa chăm sóc, nuôi dưỡng và dạy dỗ. Còn cô Loan, quê ở Tây Ninh, phụ trách công việc bếp núc cho các em.
Ban đầu còn khó khăn nhưng sau thời gian được các sơ chăm sóc, dạy dỗ và rèn luyện thói quen nên các em có thể thích nghi với cuộc sống thường ngày phần nào. Chị Hạnh tự hào cho biết: “Các bạn có thể tự nấu cơm bằng nồi cơm điện, nấu những món chiên xào đơn giản bằng bếp điện.”
Anh Hòa, 31 tuổi, sống tại mái ấm hơn 20 năm. Anh đang giảng dạy tin học cho các em. Anh kể về chính mình: “Khi mới tiếp cận với bất cứ công việc gì thì cũng khó khăn, nhưng dần dần quen rồi thì thấy mọi việc cũng bình thường. Tôi đã được Thầy Trường đón nhận và dạy dỗ, bây giờ tôi cũng phải dạy lại cho các em bằng chính những kinh nghiệm tôi anh có được”.
Tuy nhiên, điều khó khăn nhất đối với người khiếm thị chính là vấn đề học hành và đi lại. Mỗi lần các bạn muốn đi đâu thường phải nhờ người chở, hoặc phải có người dắt đi. Gần “nhà mù” có một vài công trình đang xây dựng và sửa chữa, nên việc di chuyển bất tiện và nguy hiểm. Chị Hạnh, khi đi cùng chúng tôi, không chú ý nên va phải các song sắt và cây gỗ từ một trong những công trình này.
Một số em được học tại trường Nguyễn Đình Chiểu, trường học dành riêng cho người khiếm thị, và một số thì được học tại các trường hòa nhập. Ngoài ra, sơ Hoa, các em nhỏ hay gọi sơ là “cô giáo Bông” đến tận nhà giảng dạy chữ Braille (loại chữ nổi dành cho người mù) và dạy toán cho các em. Đôi khi, các em học bằng cách thâu âm và sau đó về nghe lại những đoạn âm thanh đã thâu được. Ngoài ra, học tin học, học đánh đàn, học nghề… và những thứ khác đều trở nên khó khăn với các em.
Các giảng viên ở trung tâm Bừng Sáng cũng chính là những thành viên trong mái ấm này. Những người được đi học và về hướng dẫn lại cho nhau, chẳng hạn như thầy Phú, thầy Huyến dạy nhạc… Bên cạnh đó, các bạn còn được học nghề massage, học cách kết cườm, làm hoa, làm móc chìa khoá, đan giỏ… Sau khi học xong các lớp phổ thông thì các em còn được học tiếp lên đại học và cao đẳng.
Vào thời gian rảnh, chị Hạnh cho biết những trẻ em hay kiếm công việc làm thêm, chẳng hạn như massage, công việc thủ công, kết cườm, làm hoa, móc chìa khoá, làm giỏ. Khi chúng tôi hỏi các em làm việc này như thế nào khi không nhìn thấy ánh sáng, chị trả lời: “Các em vận dụng những giác quan khác và luyện tập nhiều lần để làm công việc này. Thí dụ như việc kết cườm, các em dựa vào cảm giác để phân biệt những hạt cườm theo kích thước to nhỏ khác nhau trong các hộp riêng biệt. Còn massage thì đi học ở trung tâm và làm theo hướng dẫn của thầy, tiền công là khoảng 15.000đ/tiếng.”
Nhờ những công việc ấy mà các bạn có thêm thu nhập cho cuộc sống cá nhân cũng như để phụ giúp với mái ấm trong việc lo cho các em nhỏ.
Tuy nhiên, công việc massage cũng có nhiều bất trắc. Chị Hạnh kể, có một chị bị khiếm thị từ thuở nhỏ, khách hàng gọi đến nhà để massage cho khách và cuối cùng là bị khách cưỡng hiếp.  “Cơ sở bên mình thì nữ làm cho nữ, nam làm cho nam. Những cơ sở khác thì không quan trọng điều này”.

Luôn có niềm hy vọng
Thời gian đầu khi mới vào ngôi nhà nhỏ bé này, các em đều mặc cảm với chính mình và xa lánh mọi người xung quanh. Các em nhỏ luôn luôn có cảm giác là mình bị bố mẹ bỏ rơi, Bé Vi 9 tuổi khiếm thị do di truyền vừa khóc vừa nói: “Sao mẹ lại quên em, có phải mẹ đã bỏ em rồi không chị, tại em bị mù phải không chị, tại em không giúp được gì cho mẹ phải không chị, tại em không ngoan phải không chị, tại em, tại em… ”. Hầu như các em nhỏ ở đây đều cảm thấy mình đã bị mất tình thương yêu của những người thân trong gia đình.
Theo thời gian, khi đã thích nghi được với mọi thứ thì nỗi buồn vơi đi, những niềm vui đã bắt đầu nhen nhóm trong tâm trí các em lúc này đã bừng sáng, các em cố gắng rất nhiều trong việc học hành, giao tiếp, vui chơi, thân thiện với mọi người. Anh Hòa 31 tuổi vui vẻ chia sẻ: “Cũng bình thường thôi, mọi việc đã trở thành thói quen”.
Niềm vui khiến các em nhiệt tình hơn, hăng say với các công việc hơn, trong các hoạt động giải trí ngoài công viên, tại các nhà thờ. Chúng tôi được nghe bé Đức kể chuyện diễn cảm, nghe bé Khang đàn một vài bài nhạc ưa thích và được bé Vy chia sẻ về ước mơ trở thành cô giáo giống như sơ Hoa, “cô giáo Bông”.
Trên thế giới có khoảng 161 triệu người mù lòa, trong đó có 124 triệu người khiếm thị (người vẫn còn nhìn thấy được, nhưng thị lực rất yếu, dưới mức 3/10) và 37 triệu người mù (người hoàn toàn không nhìn thấy gì) (theo thông kê vào năm 2002). Cứ 5 giây trôi qua lại có thêm một người bị mù và cứ một phút trôi qua lại có một đứa trẻ vĩnh viễn không nhìn thấy ánh sáng. Hàng năm cả thế giới phải tiêu tốn hơn 42 tỷ đôla Mỹ cho việc chữa trị các bệnh về mắt.
Theo khảo sát của RNIB trên những người khiếm thị về tuổi khởi phát bệnh, thì khoảng 75% trong số các bệnh gây mù có thể tránh được bằng các phương pháp điều trị hoặc phòng ngừa. Thống kê riêng ở Anh về tuổi khởi phát bệnh mù lòa cho thấy 31% người trả lời nói rằng bắt đầu mắc bệnh khi còn ở độ tuổi lao động (từ 17 đến 59 tuổi), nhưng 56% cho rằng bệnh khởi phát từ khi 60 tuổi trở về sau. Chỉ có 8% bắt đầu bị bệnh khi mới dưới 16 tuổi.
Riêng ở Việt Nam hiện nay có khoảng 900.000 người (1,2% dân số) bị khiếm thị, 5,1 triệu người có khuyết tật về mắt. Hai nguyên nhân chủ yếu dẫn đến khuyết tật về mắt là bị khiếm thị từ thuở nhỏ và do tai nạn.
Chẳng hiểu sao, tôi chợt nhớ đến sơ Hoàng, sơ Hằng, sơ Hoa với dáng người bé nhỏ nhưng yêu Chúa và thương các em vô vàn…
Những em ở mái ấm Bừng Sáng và những em khiếm thị ở các nơi khác luôn xứng đáng được hưởng một tương lai tươi sáng và hạnh phúc. Ánh sáng, phải chăng ở chính ước mơ của các em, sự hy sinh phục vụ của các sơ, lòng nhiệt huyết của những người thầy và ở ngay mỗi người trong chúng ta?
Teresa Đinh Trần Hoàng Vi – Anna Nguyễn Thị Thanh Xuân
Maria Đặng Thị Kim Huệ – Teresa Trần Ngọc Bích

Hâm mộ


Hâm mộ
Nhân viên đoàn ca nhạc  thông báo với nữ ca sĩ mới nổi khi cô ta trở vào trong cánh gà:
-         Các  fan của cô đã tới đây rồi!
-         Mời họ vào gặp tôi, mỗi  đợt 5 người thôi nhé!
-         Không được đâu!
-         Tại sao?
-         Vì tất cả chỉ có 3 người!

Sửa chính tả


Sửa chính tả
Cô giáo dạy tiểu học khoe  với người yêu:
-  Bức thư anh gửi cho em lần trước, em đã dùng nó để làm đề thi đấy!
-  Thế em cho học trò  phân tích ngữ pháp hay giải thích nội dung?
-  Em cho chúng sửa lỗi chính tả.

Cứu người


Cứu người
Cháy  lớn tại bệnh viện. Sau khi dập tắt đám cháy, một lính cứu hoả báo cáo với chỉ huy:    
 - Lửa đã bị  dập tắt hoàn toàn! Tại tầng hầm chúng tôi cứu được 9 nạn nhân. Đã làm hồi tỉnh được 4, còn 5 người kia rất tiếc đã chết!
Viên chỉ huy nghe xong liền ngất đi. Một lúc sau, tỉnh lại ông ta mới thều thào nói:
    - Chúa ơi! Dưới tầng hầm là cái nhà xác của bệnh viện mà!

Nói thật


Nói thật
Chàng và nàng mới quen nhau
Chàng : Dù em có đi đến đâu, nếu em cho phép, anh sẽ luôn  dõi theo bước chân em..
Nàng e thẹn : Thật vậy sao?
Chàng: Thật đấy, đây là địa chỉ công ty giầy của anh

Án tử, an tử và lòng thương hại

Án tử, an tử và lòng thương hại

Đăng bởi pleikly lúc
VRNs (16.08.2012) – Sài Gòn – Chết là quy luật muôn thuở. Sinh ký, tử quy. Không ai trường sinh, bất tử. Chúng ta không thể tạo được sự sống vậy tại sao lại dám cướp sự sống của người khác?
Cố triết gia Russell Kirk (đã gia nhập Công giáo) có thể là một trong các triết gia chính trị được yêu mến nhất. Không phải cái gì ông viết cũng đều hay, nhưng đa số những gì ông viết đều tuyệt vời. Nhưng ngay trong các tác phẩm lớn của ông tôi thấy là tiểu luận đặc biệt khiến tôi khâm phục. Ông viết về án tử (death penalty), chương “Tính chất Tội phạm và Lòng thương hại” (trong cuốn Redeeming the Time) là tác phẩm như vậy.
Trong bài này, Tiến sĩ Kirk giới thiệu trường hợp của ông về hình phạt thể lý dựa vào 3 điểm lớn:
1. Vì thương nên làm cho ai đó chết êm dịu còn hơn để họ sống khổ sở.
2. Tử hình là cách ngăn chặn các trọng tội tệ hại nhất.
3. Cần tử hình để bảo vệ những người vô tội khỏi bị người ác hại, vì có thể sau khi trốn thoát hoặc mãn hạn tù thì họ lại khủng bố nạn nhân khác.
Điểm 2 và 3 thì tôi không bàn ở đây. Nếu những điều đó đúng, họ có lý để ủng hộ án tử, vì đó là mục đích riêng của họ (ví dụ: bảo vệ người vô tội).
Điểm 1, tôi thấy rất rắc rối: Giết những người phạm trọng tội là cách đối xử yêu thương với họ. Cách lý luận coi hình phạt thể lý tương đương lòng thương hại đối với các tội nhân hoàn toàn khác bởi sự hiện hữu của tội khác với cách lý luận về việc làm cho các bệnh nhân bệnh nặng chết êm ái, gọi là an tử. Thật vậy, có thể “bệnh ở giai đoạn cuối” thì thường bất tiện đối với người chăm sóc.
Chiếc ghế điện được làm ra để “giúp” người ta chết êm ái hơn!
Về phần ông, TS Kirk cung cấp rõ ràng 3 ví dụ trên lá cách người ta coi tử hình là “thương” tử tội. Tác giả Stefan Andres, người Đức, viết truyện ngắn We Are God’s Utopia (Chúng Ta là Điều Không Tưởng của Thượng Đế), nói về cuộc nội chiến Tây Ban Nha. Trong đó, một phe bắt giữ hằng trăm tù binh của đối phương ở một tu viện bị bỏ hoang; cuối cùng các tù binh bị giết tập thể theo lệnh của viên chỉ huy là Don Pedro. Pedro đã phạm vài tội ác, quá khứ luôn dày vò ông ta khiến ông ta mất ăn mất ngủ; ông ta thấy mình “như sống trong địa ngục”. Sau đó, Don Pedro tìm gặp một linh mục trong số các tù binh để xưng tội. Linh mục đó khuyên ông ta cầu chết, đó là cách làm cho ông ta thấy lòng thanh thản và bình an.
TS Kirk viết: “Đối với Don Pedro, chết là giải thoát khỏi nỗi buồn khủng khiếp và nỗi cô đơn mà ông ta đã chịu đựng từ nhỏ; giải thoát khỏi ký ức dằn vặt về những tội ác của ông ta; giải thoát khỏi bản tính trụy lạc của ông ta. Giống như đa số những tên sát nhân, Pedro hoàn toàn không đồi bại: Ông ta có thể làm những việc tử tế và biết ơn. Nhưng không còn cách để ông ta có thể thoát khỏi sự dằn vặt về chính mình – ngoại trừ cái chết. Với một người như vậy, tử hình là giải thoát”.
Don Pedro là một quái vật đội lốt người, chỉ có Tử thần giải thoát được ông ta: Hầu như điều này nghe khác với tư tưởng của người Công giáo chính thống (hoặc thậm chí là người Kitô giáo). Cuối cùng, chúng ta sẽ có ngày được tái kết hợp với thân xác của chúng ta trong sự phục sinh, nếu thân xác làm chúng ta thành gian ác, cái chết của Don Pedro sẽ không cứu ông ta dù tình trạng linh hồn ông ta thế nào, nhưng nó sẽ cho ông ta trì hoãn tạm thời, cho rằng ông ta không ở trong số những người bị kết án. Tuy nhiên, nó sẽ tước mất bất cứ cơ hội nào khác để sám hối và sửa đổi (dù ông ta đã xưng tội); ông ta có thể đền tội trong khi ăn năn, nhưng đó chỉ là bắt đầu đền tội và hoàn toàn hoán cải. Nhiều tội nhân không bao giờ sám hối thì không thể bào chữa để bảo đảm không gì xảy ra, bằng cách “giảm bớt” sự sống của họ nhân danh lòng thương xót.
Phần của Don Pedro chỉ là hư cấu chứ không là thật, TS Kirk cho chúng ta những trải nghiệm của hai trong những cách hiểu thực tế, cả hai đều hèn hạ khi đưa ra sự xác thực đối với chuyện hư cấu. Hai người này –Eddie và Clinton Wallace – đều bị tù vì tội tương đối nhẹ (phạm tội cướp có vũ khí vì ảnh hưởng người thân và có thể có cả ma túy đối với Eddie, khinh tội đối với Clinton). Hai người liên can quan ngại về sự an toàn của mình khi đứng trước vành móng ngựa với những người có tính hung bạo hơn. Clintonnói với TS Kirk rằng phương diện tệ hại nhất của cuộc đời sau cánh cửa sắt “không có gì buồn tẻ, dù mất tự do, ngoại trừ những lời nói tục tĩu”. Đây là khởi đầu cho những lời sau đó mà ông ta nói với vợ của TS Kirk, khi bà hỏi ông ta cách phạm tội nào là vô tội: “Hoàn toàn vô tội… Người ta phải hỏi họ… Họ hoàn toàn có tội, thực sự có tội. Nhiều người trong số họ là thú vật, không đáng thương”. Hầu như không có tình cảm nào nhận thấy nhân phẩm của con người.
Thật vậy, họ đã phạm trọng tội (thậm chí là tội ác) bất xứng với nhân phẩm con người. Nhưng chúng ta có thể cho rằng mọi tội lỗi đều là trọng tội đối với Chúa và đối nghịch nhân phẩm chăng? Có thể chúng ta không nhớ rằng sự tàn ác không quá khủng khiếp vì chúng ta không thể vi phạm, nhưng vì chúng ta có thể có dịp hành động chăng? Cuối cùng, tất cả chúng ta đều là tội nhân, thậm chí là những tội nhân chai cứng. Khi nhận biết tội mình khi xưng thú, Thánh Augustinô đã cầu nguyện với Chúa: “Xin làm cho con sạch tội, dù con chưa công chính”. Với hồng ân Thiên Chúa, tất cả đều có thể!
Lòng thương thực sự nhận biết chúng ta đều là tội nhân, chúng ta cần phương thức canh tân và hoán cải nào đó thực tế trong đời sống để hy vọng vào kiếp sau. Dĩ nhiên, đây không có nghĩa là nhân danh lòng thương mà chúng ta để cho các tù nhân (nhất là các tử tù) tự do và tiếp tục phạm tội, cũng không vì thế mà xử tử hoặc an tử. Tuy nhiên, xử tử không là hành động yêu thương dành cho tội nhân (hoặc chúng ta), an tử cũng không là yêu thương người bệnh. Cứ cho rằng đó là việc “rút ngắn” đau khổ cho tử tù (hoặc bệnh nhân) có ý nghĩa nào đó thì việc chịu đau khổ vẫn có ý nghĩa nào đó.
An tử (euthanasia, mercy killing) là “làm chết êm ái”, nghe có vẻ “nhân đạo” quá! Nhưng đó là động thái khủng khiếp và dã man. Lịch sử nhân loại đầy những ví dụ điển hình do con người “đạo diễn”. Trung tâm Giáo dục Công giáo (Catholic Education Resource Center) định nghĩa: “An tử là việc sát nhân cố ý bằng cách hành động hoặc bỏ qua một con người độc lập về ích lợi của họ”.
Cuộc tàn sát người Do Thái (Holocaust, thời Hitler) và cuộc Cách mạng Văn hóa (Cultural Revolution) ở Trung quốc cho thấy rõ, rồi còn bao cuộc chiến khắp nơi trên thế giới, những vụ phá thai và hệ thống chiếm hữu nô lệ (chattel slavery system). Đó là những điều trái ngược nhân đạo hoặc “đạo làm người” của nhân loại, chứ chưa nói là trái ngược Luật Yêu Thương của Thiên Chúa. An tử là cách loại bỏ giá trị sự sống của con người.
Án tử đã là cách tiêu cực rồi, an tử còn tệ hại hơn. Đừng nhân danh lòng thương xót mà biện hộ cho động thái ích kỷ ngông cuồng của mình!
TRẦM THIÊN THU

Comment

Translate