19/8/12

Chương 5

Các bài đã đăng:

Chương 05

Thảo Giang ngồi xuống bờ cỏ xanh, mở chiếc khăn trùm đầu. Mái tóc cô bé xổ ra, chảy dài trên vai. Trưa nắng chói, trên mặt Thảo Giang đã có lấm tấm mồ hôi. Khi Sơn rửa tay chân dưới rãnh nước bước lên, đã thấy Thảo Giang mở gói cơm vắt để sẵn.
− Ăn đi anh Sơn!
Sơn mỉm cười:
− Cám ơn Thảo Giang. Thảo Giang tốt quá!
Thảo Giang cúi xuống. Mái tóc đổ theo, che đôi má vừa mới ửng màu hồng. Sơn ngồi trên một ụ rơm phơi từ trước Tết đã khô lại, nhận một vắt cơm trên tay Thảo Giang. Hạt cơm mềm mại thấm vào lưỡi cùng với mùi thơm của muối mè, đem lại cho Sơn một cảm giác mới. Ngày cấy lúa đầu tiên của một năm không còn giống như những ngày năm cũ. Vì nơi đây có Thảo Giang. “Đứa bé” không còn đứng ở đàng xa, mà đã ngồi trên cỏ. Nắm cơm đem ra mời Sơn, vừa giản dị tự nhiên vừa gây cho Sơn một niềm cảm động. Có phải những biến cố xảy ra trong đời sống, làm cho người ta gần lại với nhau không? Từ sau đêm bác Chiêu bỏ bến ra sông, Thảo Giang chỉ còn niềm an ủi duy nhất là Sơn. Cũng đêm ấy, Đại bơi xuồng ra đi. Qua hôm sau, không biết vì sao bị bại lộ, cha mẹ của Đại bị tra vấn liên miên. Những buổi trưa ở lại ngoài ruộng, là những buổi Sơn và Thảo Giang trao đổi với nhau sự lo lắng cho thân phận mình, cho những ngày bình yên quý giá chắc sẽ không còn.
Dưới những bóng cây, những người thợ cấy đang thiu thiu ngủ, nón úp trên mặt, Không gian yên lặng đến nỗi tưởng có thể nghe được tiếng gió lay ngọn mạ. Thảo Giang ngồi bó gối nhìn ra tận phía chân trời. Cái đường viền màu xanh đậm ở đó, thật bao la nhưng cũng đầy bí ẩn. Sơn hỏi rất khẽ:
− Nghĩ gì vậy,Thảo Giang?
Thảo Giang mơ màng đáp:
− Cái chân trời kia…
Sơn nhìn theo:
− Ừ, làm sao? Đó là tận cùng của cánh đồng.
− Không phải. Giang nghĩ đó là một rặng núi.
Sơn nhíu mày nhìn kỹ. Thật khó mà tưởng tượng được cái gì ở đó. Chắc là một nơi rất xa, không còn thuộc địa phận làng này. Ở đó có những gì? Đôi mắt Thảo Giang như muốn biết thật nhiều. Cô bé lẩm bẩm:
− Đúng là dãy núi. Màu xanh đậm thật đẹp, anh Sơn há?
Sơn reo lên:
− Tôi biết rồi! Không phải dãy núi, mà là dòng sông.
Thảo Giang trố mắt:
− Dòng sông? Dòng sông gì?...
− Sông Vàm Cỏ! Thảo Giang nhìn đi, cái màu xanh đậm đó đúng là màu của sông. Nó chạy từ đầu này đến đầu kia chân trời.
Sơn nói xong, tự nghĩ sao mình ngu xuẩn quá, chỉ biết giải thích như thế, không biết gì hơn. Nhưng Thảo Giang thì sáng đôi mắt lên, phân vân:
− Sông Vàm Cỏ! Vàm Cỏ… Sao anh Sơn biết?
Sơn đáp ngay:
− Anh Đại nói. Đêm đó anh đi theo bác trai, bơi xuồng trên rạch để ra sông Vàm Cỏ.
Rồi nhớ đến tiếng khua nước của mái dầm trong đêm tối mịt mờ của Đại, Sơn bùi ngùi. Người con trai ấy không biết có đến được nơi mình mong ước không, hay phải trôi dạt trên sóng nước của dòng sông to lớn mà trong đời một người dân quê chưa có lần nhìn thấy.
− Vàm Cỏ! Tên sông hay quá!
Thảo Giang lẩm bẩm như thế, rồi trong ánh mắt ngời lên vẻ háo hức. Sơn cúi xuống, ngắt một cọng cỏ, nói:
− Ừ! Tên sông đẹp quá! Sông Vàm Cỏ, tức là gì Thảo Giang biết không?
− Dạ không.
− Là… Thảo Giang.
Giọng Sơn nhẹ như gió ru. Thảo Giang im lặng, một lát trên mi mắt đã lấp lánh như có một giọt sương.
− Sao Thảo Giang lại buồn?
Cô bé lắc đầu:
− Dạ… đâu có! Mà không hiểu sao, nghe anh Sơn nói, Giang… cảm động quá!
Rồi Giang cúi đầu xuống, cười nhẹ:
- Thiệt là lẩm cẩm. Cả cái con rạch này, mình còn chưa biết tên, mơ gì đến sông Vàm Cỏ.
- Không ai đặt tên cho con rạch, thì mình đặt tên vậy.
Bỗng Sơn nhướng mắt nhìn ra phía trước. Sau những ngọn lúa thấp, Sơn thấy mấy bóng người khom lưng đi tới. Sơn nói nhỏ:
− Thảo Giang! Nhìn kìa! Có ai…
Thảo Giang ngó theo. Cả hai cùng im lặng theo dõi. Mấy người nông dân đã ngủ say. Một bóng người nhô lên. Chừng như họ đã thấy trên bờ cỏ chỉ còn hai đứa bé thức. Người đi đầu rón rén bước lại. Khi người ấy đứng thẳng lên, Sơn nhìn thấy bộ quần áo màu đen của người bết đầy bùn đất.
Người đàn ông hỏi:
− Này em! Cho hỏi thăm một chút.
Sơn đứng dậy, tự nhiên linh cảm một điều gì khác thường.
− Dạ, ông hỏi chi?
− Ở đây có nơi nào bán cơm không?
Sơn nhìn người lạ từ đầu đến chân, rồi đáp:
− Ông đi ngược trở lại, qua khỏi một chiếc cầu sẽ thấy một quán nhỏ.
Nghe đến chiếc cầu, đôi mắt người lạ sáng lên:
− Chiếc cầu à? Chiếc cầu dẫn đến đâu?
− Dạ, cầu bắc ngang rạch, dẫn qua vườn nhà ông Bá Huê bên kia bờ. Nhưng ông không phải qua cầu, vì quán cơm cũng ở xóm bên này.
Người đàn ông quay lại nói nho nhỏ với người đi phía sau. Bây giờ Sơn đếm được bọn họ gồm sáu người ăn mặc gọn ghẽ như nhau, và mệt mỏi như nhau. Sơn đưa mắt nhìn Thảo Giang, thấy gương mặt của cô bé cũng có vẻ hồi hộp. Người đi đầu mỉm cười:
− Cám ơn em nhé! Bọn tôi vì đi đường xa nên phải tìm quán mua cơm.
Rồi người ấy quay lại, cùng các bạn toan đi. Nhưng Thảo Giang chạy theo nói:
− Thưa ông, nếu các ông không ngại, xin cho tôi được biếu vắt cơm này.
Người lạ nhìn tay Thảo Giang. Gói cơm vắt vẫn còn phân nửa, Thảo Giang đưa ra:
− Anh em tôi chỉ ăn một phần, xin biếu ông nửa này.
− Cô là… em của cậu này?
− Dạ!
− Sao… sao cô không để mà ăn?
Sơn toan đáp thay, nhưng Thảo Giang đã nói:
− Chúng tôi đã no rồi. Nếu ông không chê, hãy ăn đi để có sức đi tiếp đường xa.
Người đàn ông cầm lấy gói cơm, mặt lộ vẻ cảm động:
− Cám ơn hai em.
Bọn người quay lưng đi. Sáu cái bóng ra khỏi khu ruộng, bắt đầu lẩn vào trong xóm. Sơn nhìn Thảo Giang, nói:
− Thảo Giang thấy gì không?
Thảo Giang thì thầm:
− Thấy. Họ là nghĩa quân. Ba của Giang tả họ như vậy.
− Họ ăn mặc cũng như mình.
− Nhưng gương mặt họ đã nói.
− Tôi thì thấy hình như có một con dao giắt trong lưng của người đi cuối.
− Thật sao?
− Thật. Đúng họ là nghĩa quân rồi.
Cả hai im bặt, như sợ cỏ lúa cũng nghe được điều ấy. Những người khác vẫn say ngủ. Chỉ có hai đứa trên đồng. Một nỗi gì chạy rùng rùng trong tim Sơn. Sơn nhón bước nhìn theo, nhưng chỉ còn thấy mấy rặng tre già đứng triền miên ở đầu xóm.
Sơn nhìn Thảo Giang, nói:
− Thảo Giang! Chút nữa mẹ tôi hỏi, Thảo Giang nói giùm là tôi đi qua nhà anh Huệ có chút việc nhé!
Rồi Sơn vội vàng đi về phía xóm. Được một quãng, Sơn nghe tiếng Thảo Giang gọi đàng sau:
− Anh Sơn!
Thảo Giang chạy tới, nói:
− Giang đi với. Cho Giang đi theo với!
Sơn nói nhỏ:
− Tôi định xin họ cho theo một quãng, rồi tôi sẽ trở về. Chưa chắc họ đã chịu.
− Nhưng cho Giang theo, Giang sẽ năn nỉ họ.
− Họ biết mình là ai?...
− Mình sẽ chỉ đường cho họ.
Ở quán cơm, hai đứa thấy sáu người đàn ông đi ra. Người đi đầu có vẻ ngạc nhiên khi thấy Sơn và Thảo Giang. Sơn chạy đến, nói khẽ:
− Thưa ông, cho hai anh em tôi đi theo với.
Người nọ trợn tròn đôi mắt, hỏi:
− Em nói gì?
Thảo Giang nối lời:
− Chúng em xin đi cùng với các ông, để… chỉ đường.
Người đàn ông lắc đầu:
− Chúng tôi đã có sẵn bản đồ. Cám ơn hai em.
Sơn bước theo, năn nỉ:
− Nhưng qua khỏi cầu, đến vườn nhà ông Bá Huê. Các ông không đi ngang đó được. Có cái ông gác vườn dữ lắm.
− Chứ các em làm gì được.
Thảo Giang nói:
− Em quen với ông già đó. Em sẽ dụ cho ông ấy chịu cho các ông qua, hoặc sẽ gạt ông ta đi khuất, các ông mới hòng qua được.
Người đàn ông nhíu mày ngẫm nghĩ. Người đứng kế đó lắc đầu:
− Đã có sẵn bản đồ, chúng ta chỉ cần đánh gục lão gác vườn là đi qua ngay.
Thảo Giang nói nhanh:
− Cho chúng em theo với, một đỗi thôi. Cha chúng em cũng đã đi rồi.
− Hả? Cha em… đi đâu?
− Cha chúng em đi cùng với nghĩa quân Trương Công Định rồi!
− Chúng tôi đi qua Tân An. Cha em đi đâu?
Sơn nói liều:
− Dạ! Đúng rồi! Cha em cũng đi qua Tân An. Các ông cho chúng em theo để biết đường, về sau chúng em sẽ dễ dàng tìm kiếm.
Người đàn ông nhìn năm người bạn. Hình như họ đã có vẻ bằng lòng. Mọi người ra dấu cho nhau đi.
Một mình Thảo Giang lên cầu, qua bên kia vườn. Nửa khắc sau, cô bé trở lại, vui mừng nói:
− May quá! Lão gác vườn đang ngủ trưa. Các ông đi qua mau lên.
Tám người qua cầu. Cánh cổng vườn chỉ khóa bằng uy quyền của ông Bá Huê, không bằng khóa sắt, đang được mở ra. Cả bọn rón rén đi vào vườn. Họ đi nhẹ nhàng dưới bóng lá âm u như những con sóc nhỏ. Người dẫn đầu mở một mảnh giấy, định hướng, rồi ra hiệu cho đoàn người tiếp tục đi về phía trước mặt.
Khu vườn to lớn như cả một cánh rừng. Khi tia sáng mặt trời đầu tiên lọt vào mắt Sơn, Sơn biết rằng đã đến ranh giới của làng. Tự nhiên tim đập rộn ràng trong lồng ngực. Sơn tự hỏi đàng sau dãy cây cối um tùm này, sẽ thấy cảnh gì? Ta đã xuyên được tấm màn xanh đen đặc phủ mờ đôi mắt từ thuở ấu thơ. Những người mặt rắn rỏi mắt sáng kia, có ngờ được là họ đang nhờ hai đứa bé khờ khạo ngu muội dẫn đường không?
Một hàng cọc dài, nhọn, chắn ngang trước mắt. Mấy người đàn ông ra sức xô ngã hai cây cọc. Con đường mở rộng giúp tám người ra khỏi lùm cây. Khi những cành lá không còn vướng víu trên lưng, Sơn đứng thẳng người lên. Khung cảnh mới mẻ hiện ra trước mặt. Một cánh đồng lúa! Sơn nghĩ nhanh như vậy rồi nhận ra rằng đây chỉ là một cánh đồng cằn cỗi. Những gốc rạ màu nâu đen, khô đét lại như không còn sức sống. Cánh đồng không có nước.
Người đầu đàn giở mảnh giấy ra nhìn, rồi gật đầu nói với bạn:
− Đúng rồi, đây là đám ruộng phèn, đi khỏi nơi đây ra đến sông cái.
Sơn hỏi:
− Sông gì vậy ông?
− Sông Vàm Cỏ.
Sơn và Thảo Giang ngạc nhiên nhìn nhau. Sao con rạch ở làng chảy ra sông Vàm Cỏ, mà qua khỏi chiếc cầu, đi tới cũng gặp sông đó? Người đàn ông chỉ tay vào bản đồ, nói:
− Em nhìn nè! Đây là sông Vàm Cỏ. Đây là làng em. Con rạch nhỏ xíu nằm đây. Con rạch, sông lớn và cây cầu kéo dài hợp thành hình tam giác. Hiểu chưa em? Hai con đường đều dẫn ra sông. Đi đường này là đi tắt, mau hơn đi đường rạch.
Thảo Giang mở to mắt, hỏi:
− Các ông… biết rành như vậy?
− Phải.
− Đi hết đám ruộng này, ra đến sông hở ông?
− Ừ. Ra đến sông lớn, có thuyền của nghĩa quân chờ.
Sơn náo nức:
− Rồi… rồi các ông đi đâu? Phải các ông sẽ đi đến Tân An không?
− Sao các em biết?
− Khi nãy các ông nói.
Người đàn ông xoa đầu Sơn, cười thú vị:
− À, quên nhỉ! Em thông minh lắm. Mai mốt lớn lên, nối gót chúng tôi…
Sơn hân hoan:
− Cho em theo nghĩa quân với! Em cũng lớn rồi!
Người đàn ông vừa đi vừa cười:
− Bao nhiêu tuổi?
− Dạ mười tám.
− Thua chúng tôi những mười tuổi.
Sơn nhìn kỹ người đàn ông. Gương mặt sạm nắng làm ông ta có vẻ khắc khổ. Có thể đó là một thanh niên chưa đến ba mươi.
− Cứ gọi tôi là anh.
Trong trí Sơn, hình ảnh thần tượng Trương Công Định hiện ra. Sơn e dè hỏi:
− Anh… anh có phải là Trương Công Định?
Cả bọn sáu người cùng ồ lên. Người đầu đàn cười hóm hỉnh:
− Sao em lại hỏi như vậy? Anh chỉ là một nghĩa quân thường, ở dưới quyền của ông Trương Công Định.
Sơn bẽn lẽn:
− Anh ở đâu đến?
− Ở Tân Hòa.
− Phải căn cứ của ông Định ở đó không anh?
− Đúng rồi. Bọn anh hôm nay qua Tân An để thăm dò tin tức. Căn cứ Tân Hòa đang bị tấn công. Đạo quân của ông Trương Công Định đang chuẩn bị về Biên Hòa.
Sơn chớp mắt… Toàn những cái tên xa lạ nhưng gợi cảm làm sao!
Người đầu đàn dừng lại, nói với Sơn:
− Cánh ruộng phèn này… đi nửa ngày mới ra sông. Này hai em, hai em hãy trở về đi! Theo chúng tôi không có lợi ích gì đâu.
− Thưa anh…
− Trở về nhà đi! Các em còn gia đình nữa phải không? Đừng để gia đình lo lắng. Hãy về trước trời tối.
Giang rơm rớm nước mắt:
− Em muốn gặp cha em.
Người thanh niên trìu mến hỏi:
− Cha các em tên gì?
− Cha em tên Chiêu, Nguyễn Văn Chiêu.
− Nếu gặp, anh sẽ nhắn lại.
− Người đã ra sông. Em muốn gặp người.
Sơn nắm tay Thảo Giang, nói như anh nói với em:
− Giang! Chúng ta phải về trước trời tối.
− Anh cám ơn hai em lắm! – Người thanh niên nói – Muốn giúp nghĩa quân, các em làm sao kêu gọi dân làng sẵn lòng giúp đỡ mỗi khi nghĩa quân đi qua, chiêu mộ trai tráng để chiến đấu giành lại những đất đai đã mất.
− Em cũng sẽ trở thành nghĩa quân. Anh… anh cho em xin tấm bản đồ nhé!
− Chi vậy?
− Để khi nào em có một đội nghĩa quân, em sẽ theo đó mà đi, gặp các anh.
Người thanh niên đưa tấm giấy ra, nói:
− Anh tin các em. Những đường đi trong này anh đã thuộc lòng. Cho em đây, giữ cho kỹ.
Sáu người nghĩa quân tiếp tục đi. Sơn và Thảo Giang đứng lại giữa ruộng. Trước mắt vẫn là cái chân trời mênh mông, mênh mông…

Chương 4

Các bài đã đăng:

Chương 04

TRƯƠNG CÔNG ĐỊNH, anh là ai? Cao hay thấp? Già hay trẻ? Anh từ đâu tới? Anh cũng sinh trưởng trên mảnh đất phì nhiêu này và đau lòng vì mất nước? Anh là người hay con của trời? Anh biết trước những điều mà chúng em chưa hề biết. Sao anh không đi qua đây? Xóm làng này có mấy kẻ như bác Chiêu – ba của Thảo Giang? – Đêm lặng lẽ tối tăm, người đã một mình ra đi – Bọn con trai mới lớn sống ngu muội thiếu niềm tin, thiếu thần tượng. Chúng em bơ vơ thật sự sau khi thầy đồ mất. Cái mái nhà xưa cũ làm nơi nương tựa của những tâm hồn bỡ ngỡ đã không còn. Nhưng từ đó, chúng em biết quê hương có anh. Anh ở xa quá nhưng con người của anh tiềm tàng đâu đây. Trương Công Định, thầy đồ chưa kịp tả hình dáng của anh. Nhưng Sơn đã tưởng tượng ra anh được rồi.
Anh người cao lớn, vạm vỡ, da sạm nắng như những người dân ở đây. Trán rộng, mắt sáng, nụ cười anh bao la, giọng nói anh sang sảng, bước đi anh vững chắc. Anh lớn hơn Sơn chắc độ mươi tuổi. Nhưng dưới tay anh đã có hàng vạn nghĩa quân. Anh không mang cẩm bào, không đeo kiếm báu. Anh chỉ mặc quần áo nâu, thắt lưng đen màu đất. Anh chỉ cầm giáo mác và mang một con tim biết tự vệ, biết yêu mến đất nước. Chừng đó là anh – Trương Công Định. Nhưng lý tưởng ngời sáng hơn cẩm bào, ý chí sắc bén hơn kiếm báu. Sao anh không đi qua làng?
Mùa đông đã hết. Tháng giêng bắt đầu là tháng ăn chơi. Những hội hè đình đám tổ chức liên miên, thu hút mọi người già trẻ lớn bé. Nhưng đối với Sơn, pháo đỏ, trống dồn không làm Sơn ham thích nữa. Cái cọng sắt đã trở thành cái dùi. Chiều nay Sơn cũng ngồi sau vườn lặng lẽ mài cái dùi cho nhọn. Để làm gì? Không còn để gặp tên Hộ, dọa nạt hắn. Mà để mỗi khi nhìn thấy nó, lòng cậu bé thấy rạt rào hơn, sôi động hơn. Cái dùi được mài lâu ngày, trở nên sáng quắc và nhọn lễu thấy sợ. Thân cây chuối đã lỗ chỗ toàn những vết cắm.
Trời mùa Xuân dìu dịu. Trong vườn, mấy cụm hoa đã nở tươi, rực rỡ màu sắc. Trên cành, trái cây cũng đang nẩy nở. Mùi rạ mới nồng nồng thoảng quanh nhà. Không gian có vẻ nhàn rỗi, bình yên. Bỗng xa xa, nghe có tiếng sáo của ai trổi lên. Sơn ngừng tay, lắng nghe. Tiếng sáo mới đầu thổi giọng trầm trầm, sau vút lên như tiếng khóc nức nở. Rồi cứ thế, giọng u uất đều đều. Sơn cau mày. Giữa mùa xuân, dân làng đang hòa mình trong những cuộc vui, sao lại có người tỏ bày nỗi thống thiết như vậy? Tiếng sáo khiến Sơn liên tưởng đến tâm sự của thầy đồ, tưởng như đó là tiếng khóc than của kẻ mất nước. Có phải ở cõi u minh nào, thầy đồ đã hiện về để nhắc nhở ta cái hoài bão mà thầy không làm trọn?
Tiếng sáo huyền hoặc khiến Sơn bỏ ra trước nhà. Sơn đi theo tiếng sáo ấy. Và cách nhà Sơn không xa, rõ ràng tiếng sáo ấy vọng lên từ nhà của Đại. Sơn rón rén bước vào. Qua mảnh sân phơi đầy rơm rạ, Sơn đã thấy người đang thổi sáo. Chính là Đại. Ống sáo trúc đưa ngang miệng. Tám ngón tay lướt nhanh trên đó. Tiếng sáo bây giờ oán hờn, ray rứt. Sơn đứng sững trong nhà của Đại. Bây giờ mới biết là không phải tiếng người chết than thở, mà như lời tự tình của người trẻ tuổi sống thiếu thốn, hụt hẫng.
Khi tiếng sáo dứt, Đại ngẩng lên. Gặp Sơn đứng trước mặt, người thanh niên hơi ngạc nhiên. Sơn nao lòng, hỏi:
− Anh không đi chơi sao, anh Đại?
Đại lắc đầu, buồn bã:
− Đi đâu hở Sơn?
− Xem hội, coi hát, đua thuyền… Thiếu gì trò chơi.
− Lũ em tôi đã rủ nhau đi hết. Tôi ở nhà một mình.
− Hai bác đâu?
− Cha mẹ tôi qua nhà chú tôi đánh bạc. Sơn ngồi chơi đi.
Sơn nhắc một chiếc ghế ngồi xuống, rồi hỏi khẽ Đại:
− Anh Đại! Có chuyện gì làm anh buồn chăng?
− Có gì đâu Sơn! Sao Sơn lại hỏi vậy?
Sơn đặt tay lên ống sáo trúc, nói:
- Anh Đại giấu tôi rồi! Chưa bao giờ tôi nghe anh thổi một khúc sáo buồn như hôm nay. Giữa ngày tháng xuân, mà có lý nào anh lại buồn như vậy.
Đại gật đầu:
- Đúng rồi! Tôi chỉ biết thổi những khúc vui. Nhưng Sơn biết sao không?... Từ hôm thầy mất, tôi bỗng như kẻ lạc đường…
Đại ngưng lại, cúi mặt thở dài. Sơn nhìn kỹ Đại, thấy trên gương mặt thanh niên ấy như có một nếp nhăn. Nụ cười vui vẻ mọi ngày không còn.
− Anh Đại này! Có phải anh buồn… tại vì câu chuyện mà thầy nói với bọn mình không?
− Sao Sơn biết?
− Vì tôi cũng vậy.
Đại trố mắt nhìn Sơn:
− Tôi tưởng…
Sơn nắm lấy tay Đại:
- Tôi cũng mang tâm trạng như anh. Thầy mất, tôi có cảm tưởng chúng ta không còn ai dìu dắt, nâng đỡ. Nhưng tôi không thổi sáo than thở như anh.
- Sơn làm gì?
- Tôi mài sắt làm dùi.
Đại giật mình, nhìn Sơn như vừa nghe thấy một điều kỳ lạ. Sơn muốn nói hết cho bạn nghe những câu nói cuối cùng của thầy đồ, những câu nói đã nung lòng Sơn bấy lâu nay.
- Anh biết để làm gì không? Chờ khi nghĩa quân qua làng, chúng ta sẽ xin thu nạp. Nghĩa quân đông lắm, vì gồm dân chúng mọi nơi. Cái người lãnh đạo chúng ta, là ông Trương Công Định.
Đại tròn xoe đôi mắt:
− Ai nói cho Sơn, mà Sơn biết vậy?
− Thầy nói, tôi nghe được, lúc thầy sắp chết.
− Ông Trương Công Định… là ai?
Sơn đáp hân hoan:
− Là một người anh hùng.
− Ông ấy ở đâu?
− Ở Tân Hòa. Thầy nói thế.
− Ông ấy còn trẻ như bọn mình không?
Sơn im lặng. Đó cũng là câu hỏi của Sơn mà! Sơn cũng muốn biết ông ấy già hay trẻ, cao hay thấp, ốm hay mập, mà người oai dũng thế? Sơn nói nhỏ:
− Mai mốt nghĩa quân qua làng, chắc thế nào mình cũng biết.
Đại nói như để một mình nghe:
− Ta sẽ theo nghĩa quân… Thật vậy chăng?...
Sơn băn khoăn:
− Anh nói gì vậy, anh Đại?
Đại bóp chặt tay Sơn, mắt sáng lên:
− Sơn đi không? Đi theo nghĩa quân không?
− Nhưng chưa có ai qua làng. Thầy bảo… nước non rộng thênh thang, đừng đi một mình, nguy hiểm. Điều quan trọng là mọi người phải một lòng như nhau, thì mới thành công được. Chứ bọn có thế lực như Bá Huê thường theo dõi lắm.
− Sơn biết nhiều điều hơn tôi quá! Thế mà bao lâu nay, tôi không có dịp gặp Sơn để trao đổi ý nghĩ.
− Tôi nhỏ tuổi hơn anh, không dám nhận là khôn hơn đâu. Chẳng qua là…
Đại cười, nụ cười cố hữu đã trở lại:
− Sơn làm tôi nức lòng lắm.
− Thôi tôi về nhé anh Đại!
Sơn đứng dậy. Đại đứng lên theo, nói:
− Khoan! Sơn! Tôi muốn nhờ Sơn… bẻ gãy ống sáo này.
− Sao vậy?
− Vì tôi không muốn tự tay bẻ cái công trình của mình, nhưng cũng muốn từ nay chẳng còn thổi lại những khúc ủy mị nữa.
Sơn cầm ống sáo lên, ngắm nghía:
− Sao lại bẻ đi?... Hay anh cho tôi? Đây là cả một công trình, hủy bỏ thì uổng lắm.
− Sơn giữ để làm gì?
Sơn cười:
− Làm kỷ niệm. Tôi chẳng biết thổi sáo, anh Đại đừng lo.
Đại bằng lòng. Sơn giắt nhanh thanh sáo trúc vào thắt lưng, chào bạn ra về. Sơn cũng không hiểu Sơn giữ ống sáo trúc làm gì. Chỉ cảm thấy ngay trong lúc này, ống sáo giắt bên lưng, cái tâm trạng lâng lâng thuở nhỏ đang trở về. Sơn quên mất khúc nhạc ai oán của Đại, tưởng như cái thời còn để chỏm ngồi vắt vẻo trên lưng trâu vẫn gần gũi Sơn lắm. Hình ảnh tên mục đồng với con trâu mỗi chiều về trong tiếng sáo đang trỗi dậy. Mau quá! Sơn đã lớn rồi! Đủ lớn để được nghe những điều quan trọng. Đủ lớn để thấy nao nao mỗi khi nghĩ đến Thảo Giang.
Thảo Giang, Thảo Giang! Cái tên là cả một giòng sông. Mái tóc cũng là cả một giòng sông. Đôi mắt cũng biến đổi như màu nước. Có lúc mắt Thảo Giang xanh thẳm như màu của một thời thơ ấu. Có lúc mắt đổi màu đen u buồn như chuỗi ngày từ lúc bác Chiêu bỏ làng mà đi. Ước mơ đã đến đó ngừng lại. Từ sau ngày thầy đồ mất, tóc Thảo Giang có thêm một vành khăn trắng. Mùa xuân đến chắc với Thảo Giang không còn một chút gì vui thú.
− Anh Sơn!
Tiếng gọi làm Sơn giật mình. Thảo Giang đi đàng sau lưng. Sơn ngừng lại để chờ. Nét mặt Thảo Giang có vẻ khác thường. Cô bé tiến đến, nói nho nhỏ:
− Anh Sơn biết gì chưa?
Sơn ngạc nhiên:
− Chuyện gì?
Thảo Giang thì thầm:
− Có nghĩa quân qua làng.
Sơn giật mình:
− Thật sao? Ở đâu? Sao tôi không thấy?
− Họ đâu dám lộ diện. Chỉ có ba người thôi, dường như là để thăm dò lòng dân.
− Sao Thảo Giang biết?
− Vì có cha của Giang về nữa.
− Bác Chiêu?
Sơn thốt lên nho nhỏ rồi đứng lại dưới một tàn cây lớn. Ở đây um tùm, tránh được những con mắt dòm ngó. Thảo Giang đứng lại theo, Sơn hỏi:
− Bác về nhà?
− Dạ. Tối nay cha Giang đi ngay.
− Bằng gì?
− Xuồng.
− Rồi bác sẽ đi đến đâu?
− Giang không biết. Chắc sẽ ra sông lớn.
Giang thở dài:
− Chuyện bí mật, cha Giang nói Giang là con gái, không nên biết. Hình như nhà ông Bá Huê cho người theo dõi Giang. Họ chắc đã biết cha Giang đi đâu.
− Còn tên Hộ?
− Hắn vẫn thập thò ở nhà Giang. Chiều nay biết chắc cha con hắn được mời đi ăn ở đám hội, Giang mới dám đi tìm anh Sơn.
Thảo Giang nhìn quanh, rồi nói:
− Thôi, Giang về. Anh Sơn cũng về nhà đi!
Và Thảo Giang thoăn thoắt bước mau. Sơn băn khoăn, lòng không yên, đứng nhìn theo bóng Thảo Giang mờ nhạt trong nắng chiều. Thảo Giang biến mất như một cơn gió. Mùi hương lúa quyện nhẹ trong không gian, hay hương tóc của cô bé thoang thoảng đâu đây? Gió man mát bên mình, hay gió của một trận cuồng phong sắp trỗi? Cảnh bình yên này là thanh bình hay chỉ là sự giả tạo? Tâm hồn Sơn hỗn độn những ý nghĩ vụn vặt. Đêm nay nghĩa quân sẽ ra đi. Chỉ có ba người, trở về âm thầm và ra đi bằng xuồng. Ở con rạch đó!...

***
… Và đêm đã xuống. Sau bữa cơm, khi tiếng khung cửi của mẹ cất lên như không cần biết mùa xuân, không cần biết hội hè, Sơn lặng lẽ đi ra giòng sông. Suốt dọc một khoảng dài, Sơn không nghe thấy gì. Thôn xóm yên lặng với những ngọn đèn hắt hiu. Những mảnh ruộng đã đồng màu với đêm tối. Sơn đến ngay đầu cầu, đứng lại lắng nghe. Bên kia sông, nơi vườn cây im lìm, đen đặc. Sơn nghe tiếng bìm bịp kêu dưới đám lau lách. Trong tiếng kêu đều đặn ấy, Sơn nghe tiếng mái chèo khua nước.
Sơn khom người, cố nhướng mắt nhìn xuống chân cầu. Chiếc xuồng con dường như sắp sửa bơi đi. Trên xuồng có hai người đàn ông. Còn một người nữa đâu?
Có tiếng lay động trong đám lau sậy. Sơn giương mắt to lên. Một người đàn ông nữa hiện ra, bước lên xuồng. Nhưng theo sau là một bóng con gái. Người đàn ông cúi xuống, thì thầm:
− Về đi! Giang!
Đứa con gái nghẹn ngào:
− Cha cho con đi theo với!
− Cha đã nói rồi, không chịu nghe. Mẹ con đau yếu, cần có con ở nhà.
Bóng con gái chới với như muốn giữ chiếc xuồng lại, giọng nói nức nghẹn:
− Con muốn theo nghĩa quân…
− Muốn mất đầu hả, Giang? Tình hình gay go lắm, chưa tiện cho cha ra mặt. Con theo cha, chỉ làm vướng chân.
− Cha!... Nhưng mà…
− Con về đi!
Tiếng nói của bóng đen lao chao trong tiếng khua nước. Xuồng tách khỏi bờ lau sậy. Đứa con gái khóc rấm rứt. Sơn đứng sững, tưởng như bi cảnh thời xưa đang diễn lại trước mắt. Giọt lệ Nguyễn Trãi tiễn chân cha đang rụng rơi, hòa với nước giòng sông.
Bóng đứa con gái thất thểu đi lên. Sơn kêu khẽ:
− Thảo Giang ! Sơn đây!
Thảo Giang ngừng lại, nhìn quanh. Sơn bước ra, nắm tay Thảo Giang cho cô bé bước lên mặt đường. Thảo Giang không dằn được, khóc trước mặt Sơn.
− Cha Giang đi rồi!
− Thảo Giang! Nín đi! Không thể theo bác được.
Cô bé sụt sùi:
− Giang có linh cảm chuyến này cha Giang đi luôn không về.
− Nói dại.
− Giang muốn đi theo cha, hầu hạ người, sống chết với người.
− Hãy nghĩ đến bác gái. Nghĩa quân không cần hầu hạ. Nghĩa quân không bao giờ chết.
Thảo Giang càng khóc tức tưởi hơn. Sơn siết chặt tay cô bé như để an ủi. Bàn tay nhỏ nhắn của Thảo Giang lạnh ngắt sương khuya. Chừng như sương cũng ướt đẫm trên tóc, trên áo của cô bé.
Một bóng người đi xuống chân cầu. Sơn đẩy Thảo Giang đứng nép vào một gốc cây, rồi nhẹ nhàng đi theo bóng đen. Nhận ra người ấy là Đại, Sơn kêu lên:
− Anh Đại! Anh đi đâu đó?
Đại nhìn lui, hỏi:
− Ai? Sơn phải không?
− Sơn đây.
Đại nói hấp tấp:
− Tôi đi nghe Sơn!
− Anh đi đâu?
− Theo nghĩa quân. Tôi đi theo anh tôi.
Sơn ngạc nhiên:
− Ai?
− Hai người về cùng với bác Chiêu. Họ mới ghé nhà tôi lúc đầu hôm. Họ là anh em cô cậu với tôi.
− Nhưng họ đi rồi…
Đại nói nhanh:
− Tôi phải theo họ.
Sơn nắm lấy tay Đại:
− Nhưng anh biết họ đi đâu?
− Họ ra sông Vàm Cỏ. Tôi bơi xuồng một mình, chắc sẽ bắt kịp họ. Sơn, Sơn ở lại… Nhớ chuyển lời chào của tôi cho cha mẹ tôi, các em tôi.
Sơn kêu lên:
− Anh Đại! Anh bồng bột quá!
Nhưng Đại đã kéo dưới chân cầu ra một chiếc xuồng con. Đại bước vào xuồng, cầm chiếc dầm bơi nhanh. Sơn ngơ ngẩn nhìn theo. Cái bóng cô độc lướt đi trên dòng sông. Người thanh niên đã muốn từ bỏ đời sống nông dân của mình rồi.

Chương 03

Các bài đã đăng:

Chương 03

Cọng sắt ngời sáng trong tay Sơn, phiến đá mài đã phủ đầy bụi kim khí óng ánh. Sơn vuốt nhẹ cọng sắt, nghe nóng lên như da thịt của chính mình. Sơn giắt thử vào thắt lưng, rồi đứng dậy, Sơn mỉm cười. Ta sắp thành một Kinh Kha hay một tráng sĩ nào đây? Sơn đấm mạnh vào không khí, tưởng như có tên thanh niên con ông Bá Huê trước mặt. Sơn thu tay về, rút cọng sắt ra, và phóng vào cây chuối. Phập! Cọng sắt dài hai tấc đã lút gần hết vào thân cây chuối. Cùng với lúc Sơn cất giọng cười khoái chí, Sơn nghe một tiếng rú nhỏ đàng sau lưng.
Sơn quay lại. Thảo Giang! Cô bé đang ôm lấy cột cửa, mặt tái xanh. Sơn ngạc nhiên một chút, rồi vội vàng chào hỏi:
- Thảo Giang qua chơi à?
Cô bé chưa hết run sợ, nói:
- Dạ.. Anh Sơn làm gì ghê quá vậy?
- À, à… tôi tập phóng dao.
Rồi Sơn bước tới rút cọng sắt ra khỏi thân chuối, đưa ra trước mặt. Thảo Giang rùng mình, nói:
- Đâu phải con dao! Cái dùi…
Sơn sáng mắt lên:
- Ừ đúng rồi, cái dùi! Cái dùi!
Thảo Giang nhìn Sơn, lộ vẻ thắc mắc. Sơn vuốt tay trên cái dùi, nói:
- Nó chỉ là cọng sắt nhỏ, nhưng được mài rồi, thành cái dùi. Thảo Giang biết tôi mài nó trong bao lâu không? Ba ngày đó!
- Để làm chi vậy?
- Để tôi…
Sơn định nói tiếp, rằng để tôi giắt ở trong lưng, để tôi có thể ung dung đi lên cầu, đi thăm dòng sông của tôi. Để tôi có thể ra đồng mà không phải đội nón che bớt mặt. Để tôi có thể sang thăm bác và Thảo Giang mà không sợ ai dòm ngó. Để tôi gặp thằng con ông Bá Huê, tôi trị tội hắn… Nhưng nhìn thấy đôi mắt Thảo Giang hiền dịu quá, Sơn không nói nữa. Sơn chỉ là một đứa bé. Thảo Giang cũng chỉ là một đứa bé. Cả hai đều lớn lên ở thôn làng này. Hai gia đình biết nhau từ con rạch này. Chưa có cha mẹ ai dạy con sự thù hằn cả. Sơn nghĩ thế rồi đem cái dùi cùng phiến đá mài cất vào góc bếp.

Thảo Giang đứng ở ngưỡng cửa, dáng nhỏ nhắn như một con mèo. Khi Sơn quay ra, Thảo Giang hỏi:
- Anh Sơn, chiều nay anh không ra sông hở?
Sơn đứng thẳng người, thở dài:
- Không. Từ bữa đó, tôi đã không còn lên cầu nữa.
- Thảo nào…mỗi chiều Giang không thấy anh ở đó.
- Thảo Giang vẫn đến nhà thầy đồ?
- Dạ.
- Thầy tôi hết bệnh chưa?
Thảo Giang lắc đầu:
- Dạ… Thầy vẫn vậy, không thuyên giảm.
Sơn ngồi xuống một thân cây chuối mới đốn, nói:
- Thảo Giang qua đây, có xin phép bác gái chưa?
- Dạ rồi. Mẹ Giang nói Giang qua thăm bên này, cám ơn anh đã…
- Đừng, Thảo Giang! Tôi không phải là hiệp sĩ. Tôi cũng nhát gan như bao đứa con trai khác.
Thảo Giang lộ vẻ xúc động, giọng cô bé run run:
- Hôm ấy nếu không có anh Sơn, chắc Giang chết mất.
Sơn cười nhẹ:
- Tôi còn nhiều điều băn khoăn chưa hiểu… Nếu Thảo Giang không ngại gì, Thảo Giang ngồi chơi, cho tôi hỏi…
- Dạ…
Thảo Giang ngồi xuống ngưỡng cửa, e dè xoắn xoắn vạt áo nâu. Chiếc khăn xanh không có ở trên cổ.
Lặng yên một lúc, rồi Sơn nói:
- Có thật ông Bá Huê… muốn biếu nhãn cho bác gái hôm đó không?
Thảo Giang gật đầu
- Thật. Mẹ Giang bệnh, Giang đến xin ông Bá cho mẹ nghỉ cấy. Ông ấy tỏ vẻ lo lắng lắm, bảo Giang chiều đó tới vườn, ông cho trái cây. Giang không bao giờ muốn nhận nhưng ông Bá nói như vậy là phải tội. Giang đến đó, không ngờ chỉ gặp tên Hộ con của ông ấy thôi.
Sơn nhíu mày:
- Ông ta có thâm ý gì?
Thảo Giang cúi đầu đáp nhỏ:
- Ông Bá muốn mẹ Giang… gả Giang cho tên Hộ…
- À ra thế!
Sơn thốt lên rồi lặng im, đưa tay hờ hững nhặt mấy cọng rơm vương vãi trên đất. Sơn nghĩ đến cái dùi, mới mài có ba ngày… Sơn buồn cười cho cái sự trẻ con của mình. Dễ dầu gì Sơn dám đối diện với tên Hộ, nói chi đến chuyện dùng cây dùi để tấn công hay hăm dọa hắn. Người lớn khôn ngoan hơn, đã nói chuyện với nhau trước rồi.

Khi Sơn ngước lên, thấy Thảo Giang đăm đăm nhìn ra phía ao nhỏ. Đôi mắt Thảo Giang buồn rười rượi. Sơn bồi hồi hỏi khẽ:
- Này Thảo Giang, bác bên nhà … có bằng lòng không?
- Bằng lòng việc gì?
- Thì… thì việc tên Hộ đó.
- Giang còn nhỏ, mẹ Giang chưa tính gì hết. Mà nếu có, thì cũng không phải là với thằng cha nham nhở hôm ấy.
- Bác gái không sợ ông Bá Huê dùng thế lực để ép buộc sao?
Thảo Giang rắn giọng lại:
- Cha của Giang đã dặn… không bao giờ làm thân với gia đình ông Bá Huê.
Sơn giật mình, chợt nhớ đến cha của Thảo Giang. Người nông dân hiền lành ít nói ấy, sau hôm hoàn thành cây cầu đã bỏ nhà đi biệt. Sơn muốn hỏi Thảo Giang về sự việc khó hiểu ấy. Nhưng đôi mắt u uẩn kia như sa sầm hẳn lại, như không muốn nói thêm một điều gì nữa.

Thảo Giang đứng lên, sửa lại vạt áo, nói:
- Nhưng chuyện đó không quan trọng bằng chuyện sắp tới đây.
- Chuyện gì vậy Thảo Giang?
- Bác của Giang trở bệnh nặng lắm. Hôm nay bác muốn gặp tất cả những người học trò.
Sơn hoảng hốt:
- Thật vậy sao? Tôi phải đến thăm Thầy ngay.
- Anh Sơn, nhờ anh nói giùm với các anh khác nhé.
- Được rồi. Thảo Giang cũng sẽ qua đó chứ?
- Dạ. Mẹ Giang bảo tối nay Giang ở lại bên bác để sắc thuốc. Lương y nói… chắc là bác không qua khỏi đêm nay.
- Vậy Thảo Giang đến Thầy trước nhé! Tôi đi gọi mấy anh bạn rồi sẽ đến sau.
Thảo Giang “dạ”, rồi chào Sơn để đi. Còn lại một mình Sơn trong sân vườn, Sơn lại nghĩ đến cái dùi, nghĩ đến cảnh nhàn rỗi của mình bao ngày nay. Thầy đồ sắp chết! Cái hình ảnh thần tượng to lớn của Sơn đã lu mờ từ mấy tháng nay, bây giờ lại sắp biến mất. Thầy đồ chết, bọn Sơn sẽ không còn ai dạy dỗ cho dăm mớ chữ nghĩa, hòng đi thi Hương, thi Hội. Sơn sẽ hoàn toàn là một nông dân, sẽ lớn lên và nối tiếp cuộc sống của ông cha. Sơn sẽ như Tùng, như Huệ, như Đại… mãi mãi là những người thấp cổ bé miệng. Có phải đời sống đã sắp bày như thế rồi chăng?

Sơn sửa lại quần áo cho chỉnh tề, khép cửa lại, cài then, rồi ra khỏi cổng nhà. Trời bây giờ đã nhá nhem tối. Tiếng ễnh ương kêu vang dưới những rãnh nước như bao ngày vẫn đều đặn hòa điệu buồn chốn thôn quê.
***

Nhà thầy đồ ở tận xóm trên. Khi Sơn cùng ba người bạn vào đến cửa, đã thấy ngọn đèn dầu được thắp sáng trong nhà. Mảnh sân vuông lúc trước dùng làm nơi học hành của bọn trẻ, bây giờ vắng ngắt, trơ trơ mấy chậu kiểng xơ xác. Bốn người bước vào nhà, đã thấy có sáu, bảy người học trò nữa đứng ngồi bên giường của thầy đồ. Chén thuốc để trên bàn còn đầy, nhưng cái cơ thể dẹp lép của người nằm trên giường như không còn cần đến sức sống.
Nước mắt Sơn dâng đầy tròng. Sơn bước tới, khe khẽ quỳ bên chân giường. Đôi mắt thầy đồ nhắm kín lại như người ngủ say, nhưng những nhịp thở đứt quãng, mệt nhọc chứng tỏ thầy đang gắng sống những giây phút quý giá nhất.
Thầy đồ cựa mình, mở đôi mắt trắng đục một lát rồi hỏi thều thào:
- Ai đây?
Sơn cầm lấy bàn tay của thầy, run run nói:
- Thưa thầy, Sơn đây ạ.
- Đứa nào nữa?
- Thưa thầy, có anh Tùng, Huệ và Đại.
Người bệnh cố gắng nhấc đầu dậy để nhìn kỹ mấy người học trò, nhưng rồi phải nằm trở lại để thở dốc. Sơn thấy se thắt cả lòng, vừa vuốt ngực cho thầy, vừa ứa nước mắt. Cái cảnh này, Sơn đã thấy cách đây ba năm, khi cha của Sơn lâm bệnh. Người nông phu chết đi, để lại cho vợ con một mảnh vườn nhỏ và ngôi nhà xiêu vẹo. Cái cày và con trâu, theo công nợ mà bán cho người. Mẹ con Sơn phải đi cấy mướn. Nay nhìn thầy đồ nằm thoi thóp, Sơn tự hỏi thầy sẽ để lại gì cho bọn học trò nửa đường này? Cái ước mơ làm kẻ sĩ chắc sẽ tàn lụi theo ngày tháng. Sơn thương thầy, nhưng cũng nghe thương thân, Sơn muốn khóc ròng như một đứa bé.
Đại cất tiếng khẽ:
− Thưa thầy, xin thầy rán uống miếng thuốc…
Thầy đồ xua tay, cười héo hắt:
- Khỏi con! Thầy không còn sống bao lâu nữa… Chắc sẽ không qua khỏi đêm nay.
Đám học trò có người khóc tấm tức. Thầy đồ thở dài:
- Gặp mặt đông đủ các con đây, thầy vui mừng lắm… Nhưng lại thương các con làm sao! Thầy chưa mãn nguyện vì… Thầy còn thiếu trách nhiệm với các con.
Sơn lại vuốt ngực cho thầy, nói:
- Thưa thầy, con xin thầy nằm nghỉ.
- Thầy còn khoẻ lắm các con ạ. Thầy muốn nói với các con rằng… thầy rất ân hận vì đã không dìu dắt các con đến nơi đến chốn. Xóm làng ta chưa có ai làm rạng rỡ hết. Mà thầy thì…
Nghe tiếng sụt sùi trong đám học trò, thầy đồ ngừng lại, đảo mắt yếu ớt nhìn quanh, rồi thều thào:
- Đừng khóc các con! Cái kẻ đáng khóc phải là thầy đây. Thầy phải khóc vì sự bất lực của thầy. Còn các con, các con chưa mất hy vọng đâu!... Hãy lại đây, nghe thầy nói… Cái ngọn đèn nào lúc sắp tắt cũng phải bùng lên. Thầy đã đến những phút cuối cùng rồi!
Bàn tay thầy đồ giá lạnh trong tay Sơn. Sơn tưởng thầy sắp chết sau một giây nữa thôi. Nhưng không, đôi mắt trắng đục, giương to lên, như muốn lôi kéo tất cả những tinh anh của thời trai trẻ trở về. Thầy đồ nói tiếp:
− Nếu thầy không nói cho các con nghe những điều mà thầy được biết thì khi chết đi thầy sẽ đắc tội với trời đất. Các con sống ở xóm làng này, trăm sự đều tùy thuộc vào làng xã và mấy tên bá hộ trọc phú. Các con có biết gì ngoài cái vốn liếng eo hẹp của các con đâu. Chỉ có thầy, biết mà không làm gì được, thì thật là vô lý nếu thầy giữ kín mà đem xuống lòng mộ.
Đám học trò nhìn nhau ngơ ngác. Cái điều gì mà quan trọng đến nỗi một người già nua quên mất sự trối trăng thông thường về gia tài của mình, về ngôi mộ, về chiếc quan tài mà mình sẽ nằm trong ấy?

Sơn kéo tấm chăn bông đắp lên tận ngực của thầy đồ, che kín thân hình còm cõi đang run rẩy của thầy. Thầy nói:
- Cái điều đau đớn trọng đại như thế mà không ai biết. Còn những kẻ biết thì ngậm miệng không dám nói. Nhưng một kẻ sắp về chầu Phật… như thầy đây, phải nói để các con liệu mà sống.

Sơn kê miệng gần tai thầy đồ, nói:
- Xin thầy dạy cho. Chúng con nghe đây.
- Các học trò của thầy! Các người trai trẻ ưu tú đây! Biết gì không? Mảnh đất mà các con đang sống, đã thuộc vào tay giặc rồi! Thầy đau đớn biết bao khi phải nói như vậy. Cái hòa ước khốn nạn đã đem dâng ba tỉnh Nam Kỳ cho giặc Tây. Thế mà các con, dân quê ngu muội, có biết gì không?
Một giọt lệ lăn từ khoé mắt già nua xuống gò má của thầy như nước thấm xuống nền đất nứt nẻ cằn cỗi. Thầy đồ nghẹn ngào:
- Trong lúc giặc đang khiếp vì sự kháng cự của dân ta, thì vua quan ta lại e sợ súng ống của giặc. Trong lúc giặc không ngờ là có sự hòa hoãn, thì ta lại bằng lòng ký giấy cắt đất. Cái tin đau buồn ấy, thầy biết từ mùa hè. Nhưng có biết làm gì hơn? Thầy bệnh hoạn, sắp chết, bất tài… Còn lũ trẻ các con sống trong cái làng hẻo lánh này, bị bao kín bằng lũy tre xanh này, làm sao biết được rằng khắp nơi dân chúng đang phẫn nộ. Người ta đã kết nạp nhau thành nghĩa quân, chống Pháp để giành lại đất. Còn chúng ta ở đây, đời sống còn yên lành quá! Nhưng… một mai, giặc sẽ đến. Rồi các con có yên không? Thầy nói thế để các con biết trước mà liệu. Đời bình yên rồi cũng sẽ không còn.
Thầy đồ ho một tràng, người mệt lả như muốn ngất đi. Sơn vuốt ngực cho thầy. Mấy người con trai phía sau quỳ hết cả xuống đất. Ai cũng nghe rõ tiếng gió đông rít lên ngoài vách nứa. Ngọn đèn dầu dường như hơi lao chao ánh lửa. Không gian chợt yên lặng như cảm thông với nỗi u uất của một người tuyệt vọng.
Giây lát sau, thầy đồ lại sức, tiếp tục trối trăng với đám học trò:
- Thế hệ của các con, không phải là thế hệ của thầy nữa. Đừng bắt chước mẫu người của thầy. Cái học nhà nho chỉ giúp ta sống cho phải đạo người, biết rõ lẽ trời… quý giá lắm! Nhưng không còn thực tế để giúp ta cứu nước. Trước kia thầy mong các con thành Tú Tài, Cử Nhân. Nhưng từ ngày nghe tin chua xót ấy, thầy thấy một điều rõ rệt là thầy không còn mong như vậy. Các con hãy làm một cái gì khác. Thầy muốn nói rằng… khác với hình ảnh con người khoa bảng, mơ ước áo rộng khăn to mà bao lâu nay người ta đã vẽ.
Mười đứa học trò yên lặng. Sơn đưa tay vặn ngọn đèn dầu cho sáng thêm. Một chút rạng rỡ hiện trên gương mặt thầy đồ. Giọng thầy trầm xuống:
- Các con hiểu thầy nói gì không? Điều khổ sở nhất của thầy, thầy đã nói hết. Các con còn trẻ lắm, gắng mà tranh đấu để giữ ruộng, giữ làng. Giặc đã nắm quyền cai trị ta ở trên giấy tờ. Thì sớm muộn gì chúng cũng sẽ đến đây. Lúc đó nhà tan cửa nát. Đau khổ lắm các con ơi! Giặc có súng ống tối tân, nhưng không phải vì thế mà ta khiếp sợ. Ta có tre vót thành mác, có sắt mài thành dùi….
Sơn giật mình. Thầy đồ vừa nói một điều rất khích động. Sơn đã thấy rồi! Cái đó có thể làm Sơn nghe máu trong tim cuồn cuộn, không phải tiếng trống dồn dập nổi lên giữa sân đình, hay tiếng pháo nổ dòn trong những đám cưới. Mà là lời của thầy vừa nói đó! Cái màn tối ngu muội đang được xé rách giữa tâm hồn Sơn. Ta có tre vót thành mác, có sắt mài thành dùi! Sơn đã mài sắt bao nhiêu ngày. Sắt chưa nhọn, nhưng bây giờ lửa hăng hái đã bén. Sơn nhìn thầy đồ. Bỗng nghe tim đau nhói. Ôi, thầy của con, người sinh đồ nho nhã một đời, tưởng yếu ớt như cọng cỏ, không ngờ mang trong lòng cả một nghĩa khí to lớn.
Những tiếng ho làm giọng thầy đồ đứt quãng:
- Tội nghiệp các con!... Sống mà không biết là mình sống… Nô lệ mà vẫn tưởng là được… thái bình. Cái lũy tre đã che mắt các con… Không thấy sông rộng, không thấy núi cao, sao gọi là con trai cho được!...
Thầy đồ thở hổn hển, nước mắt sống chảy ràn rụa xuống hai gò má xương xẩu. Đợi cho cơn ho của thầy dứt, Đại ra hiệu cho anh em đứng lên, rồi nói nho nhỏ:
- Chúng mình hãy ra ngoài cho thầy nằm nghỉ. Tôi thấy thầy nói nhiều, e… có hại.
Rồi Đại cúi xuống sửa lại tấm chăn cho thầy đồ. Đám học trò rón rén đi ra sân.
Sơn nhìn lên vòm trời xám ngắt. Một chút ánh trăng giải trên làn mây u ám. Còn mảnh trăng khuyết thì đã lẩn trong mây. Khung cảnh buồn như chưa bao giờ. Ở đây, mọi màu sắc đều đồng nghĩa với sự chết chóc. Gió đông thổi rít qua cây lá, đập vào da thịt Sơn, tưởng như hơi thở hắt của người bệnh. Sơn đưa mắt nhìn lén vào cửa sổ. Thấp thoáng trong nhà có bóng Thảo Giang bên cạnh giường của thầy đồ. Tay cô bé nâng chén thuốc, miệng nói gì nho nhỏ với người bệnh. Sơn thấy thầy đồ xua tay, và kéo Thảo Giang ngồi xuống. Đèn dầu leo lét không che giấu được trên má Thảo Giang nước mắt tuôn chảy. Sơn thấy thầy đồ thở những hơi mệt nhọc. Nhưng đôi môi khô héo vẫn thều thào những lời dặn dò. Sơn thương thầy quá! Một người không vợ, không con, ở phút cuối chỉ còn đứa cháu gái. Sơn liên tưởng đến cha của Thảo Giang. Sự biệt tích của ông, chắc thầy đồ biết. Và chắc cũng có liên quan đến điều mà thầy vừa nói với đám học trò.
Sau ý nghĩ ấy, Sơn vùng bước nhanh vào nhà. Thảo Giang đang nâng đầu thầy đồ lên, ghé tai nghe những lời thầy nói bây giờ đã bắt đầu khó khăn. Sơn quỳ xuống bên giường, nghe tiếng thầy như hòa trong sương khói:
- Nghĩa quân đông lắm!... Chờ khi họ qua làng, các con xin gia nhập… Cha của cháu, Thảo Giang à,… chắc chú ấy đang ở Tân Hòa. Đừng… đừng qua đó, nguy hiểm… Thế nào nghĩa quân cũng sẽ về… khi chiếm lại được đất…
Thảo Giang nức nở:
- Bác ơi! Cháu làm sao biết được cha cháu ở cánh quân nào mà theo?
- Nghĩa quân đông lắm… vì kết nạp dân chúng mọi nơi. Nhưng dù đông… vẫn ở dưới… bóng cờ của Trương…Công…Định. Đừng đi một mình nghe cháu! Nước non rộng thênh thang. Đợi nghĩa quân…qua làng…rồi…rồi…
Sơn ôm bàn tay giá lạnh của thầy đồ, nói như một lời hứa:
- Thưa thầy, chúng con sẽ theo nghĩa quân.
Thầy đồ gượng cười. Sơn nhìn đăm đăm vào bàn tay thầy. Gần hết đời người, bàn tay ấy trung thành với ngọn bút lông. Đến nay Sơn mới có dịp nắm lấy bàn tay thầy để nhận thấy những mạch máu, những nếp xương nổi lên dưới làn da xám ngắt, giống như sông, như núi, chạy ngoằn ngoèo trên một giải đất. Có phải đó là ước mơ thầy vẽ cho bọn học trò ngu muội hay không? Chúng con sẽ theo nghĩa quân. Vâng, thưa thầy! Sẽ chiếm lại đất, sẽ chống lại giặc. Chúng con có tre làm mác, có sắt làm dùi. Nhưng cái con người mang tên Trương Công Định mà thầy vừa nhắc tới, có phải là thần tượng của chúng con không? Người ấy ra sao? Già hay trẻ? Mập hay gầy? Thấp hay cao? Người có giọng nói miền nào? Người cũng sinh ra tại quê hương này và đau lòng vì mất nước? Chúng con phải biết một chút gì về hình dáng người – để mai đây nghĩa quân qua làng, biết đâu sẽ thấy người trước mặt. Sơn muốn hỏi như thế, nhưng nhìn lại thầy đồ, đã thấy gương mặt của thầy im lìm như tượng đá. Đôi mắt trắng như muốn nhìn xuyên thủng cả mái nhà để thấy bầu trời rộng. Môi thầy không còn mấp máy nữa… Thảo Giang nấc lên một tiếng nghe nhức buốt cả tim. Sơn không còn biết nước mắt mình sẽ chảy ra hay đã đông lại thành tuyết mất rồi?
Bên con rạch nhỏ chảy qua làng, thầy đồ đã đi chuyến đò cuối.

Chương 2

Các bài đã đăng:

 

Chương 02

Sơn vứt cọng cỏ chỉ xuống dòng nước. Cọng cỏ yếu ớt từ từ chảy xuôi theo cùng với những chiếc lá, những mảnh bèo con. Tự nhiên Sơn nghe nao nao trong lòng. Nước đã đổi sang màu đen thẫm. Chiều sắp tắt. Lũ trẻ không còn ở đây. Mẹ của Sơn chắc giờ này cũng đã về nhà. Đêm sẽ xuống với ngọn đèn dầu leo lét. Tiếng khung quay sẽ cất lên như hòa nhịp với đời sống. Sơn nhắm mắt lại. Có một ngày nào ta sẽ xa rời nơi này không? Ta không mong như vậy. Nhưng mơ hồ cảm thấy vẻ thanh bình ở làng thôn này có một cái gì giả tạo quá. Ta biết mơ ước gì? Những người trai tráng đã lớn lên, tiếp tục công việc ruộng vườn của ông cha, và sẽ có vợ, có con. Rồi họ sẽ già, sẽ nằm xuống bên cạnh ngôi nhà của họ, hoặc trong mảnh vườn, hoặc giữa cánh đồng ngập nước. Sơn cũng vậy chứ? Vì đó là lề lối, là mơ ước muôn đời của những người sống sau lũy tre này. Sơn còn biết mơ ước gì hơn?
Sơn nghe có một làn gió nhẹ thoảng qua, dường như có đưa theo mùi hương của lúa. Sơn mở mắt, thấy mình vẫn đang đứng ở trên cầu. Nhưng theo sau làn gió ấy, là Thảo Giang. Thảo Giang sắp đi ngang qua mặt Sơn. Cô bé lên cầu làm gì? Chừng như bước chân của Thảo Giang bắt đầu luống cuống khi cô bé thấy Sơn đứng giữa cầu. Chiếc khăn xanh không có ở trên cổ. Thảo Giang chỉ còn biết đưa tay nắm một nhánh tóc che ngang má, và cắm đầu bước nhanh. Nhưng đúng lúc Thảo Giang đi ngang qua mặt Sơn, thì chiếc guốc mỏng bị vấp một mắc gỗ của ván cầu làm Thảo Giang lảo đảo suýt ngã. Sơn vội vàng đưa tay đỡ lấy cô bé, một cách không chủ ý. Thảo Giang kêu lên một tiếng nhỏ, rồi ngượng nghịu quay đi.
Sơn bỗng nhiên có cảm tưởng mình vừa mới làm một điều gì sai. Đôi mắt u buồn của Thảo Giang như đang có một chút long lanh. Chừng như cô bé sắp khóc.
- Thảo Giang qua bên đó hả?
Đôi mắt Thảo Giang liếc nhìn qua phía vườn cây, cô bé ấp úng:
- Dạ… dạ… ông Bá nói em qua vườn, ông cho một ít nhãn.
Sơn ngạc nhiên:
- Chi vậy?
- Dạ… không biết.
Sơn muốn nói một điều gì, nhưng thôi. Sơn cũng vừa nhận thấy mình tò mò hơi quá. Thảo Giang cũng sẽ không nói gì hơn là những câu thưa dạ. Sơn mỉm cười:
- Thảo Giang đi đi nhé!
- Dạ.
Rồi Thảo Giang tiếp tục đi. Sơn ngơ ngẩn mấy giây, và tự hỏi không biết tại sao ông Bá Huê giàu có và keo kiệt hạng nhất trong vùng lại cho một gia đình nông dân tầm thường những trái cây quý nhất của vườn ông? Một chút nghi ngờ thoáng qua trong trí Sơn. Đợi cho chiếc bóng mảnh mai của Thảo Giang khuất sau cổng vườn, Sơn nhẹ bước đi theo.

Hết cây cầu, Sơn vào được trong vườn. Không thấy người gác vườn già nua mọi ngày thường la mắng bọn trẻ nít lân la nghịch ngợm. Sơn nhìn quanh, và thấy Thảo Giang đứng cách mình độ mươi thước. Trước mặt Thảo Giang, còn có một người nữa. Sơn rón rén bước tới nấp sau một thân cây to. Người lạ mặt trong vườn là một thanh niên, có lẽ lớn hơn Sơn độ ba, bốn tuổi. Hắn mặc áo gấm màu xanh lục nhưng lại mang giày tây, đang nhìn Thảo Giang bằng đôi mắt ti hí như muốn biến mất dưới cặp lông mày đen rậm.
- Cô Thảo Giang, đây là vườn nhà của tôi. Cô cứ tự nhiên muốn hái thứ gì thì hái.
Ở đàng kia, Thảo Giang đương luống cuống, không biết nói gì. Tên thanh niên cười hề hề:
- Nè, cô Thảo Giang, có nghe tôi nói gì không?
Thảo Giang ấp úng:
- Dạ nghe, nhưng … thôi… xin phép cậu, tôi phải về.
Tên thanh niên ngăn lại:
- Kìa! Cô Thảo Giang cứ hái trái cây đem về cho bác gái dùng để mau khỏi bệnh.
- Thưa cậu thôi ạ. Tại… tại vì ông Bá nói lắm, tôi phải đến đây, sợ cãi lời thì mang tội. Nhưng tôi không dám… không dám tự tay hái trái đâu. Xin phép cậu… cho tôi về.
- Nè, cô Thảo Giang!...
- Thưa cậu, sắp tối rồi…
Gã thanh niên cười thật nham nhở. Dường như đàng kia Thảo Giang sợ hãi lắm. Thảo Giang lùi lại mấy bước. Gã thanh niên thót lên ngồi trên một cái cây to và thấp, như thản nhiên trước vẻ run sợ của Thảo Giang. Cô bé quay lưng đi. Gã thanh niên gọi:
- Lại đây, Thảo Giang!
Tiếng gọi của gã vang dội trong vườn cây âm u. Thảo Giang chợt bỏ chạy. Đôi chân của cô bé cuống quít giẫm trên lá khô nghe xào xạc. Gã thanh niên phóc xuống, chạy theo. Ba bước của gã thật dài. Và hắn nắm được tay của cô bé. Thảo Giang kêu rú lên, mặt xanh mét. Cô bé như không còn đủ sức để vùng chạy, chực khóc òa.

Sơn rời gốc cây, phóng ra chận trước mặt gã thanh niên. Máu nóng dồn bừng bừng trên da, Sơn hét lên:
- Buông người ta ra!
Gã thanh niên trố mắt nhìn Sơn. Tên công tử chẳng mấy khi ra khỏi nhà ấy không biết Sơn là ai. Nhưng sự hiện diện của Sơn ở đây là một chuyện trái phép. Hắn gầm gừ:
- Mày… là thằng nào?
- Không cần biết. Tôi bảo anh thả Giang ra.
Rồi không đợi tên kia nói gì, Sơn dùng hết sức mình đẩy hắn ra. Thảo Giang vuột ra khỏi tay hắn. Sơn la lớn:
- Thảo Giang, chạy đi!
Thảo Giang cắm đầu chạy ra khỏi cổng. Gã thanh niên tức tối sấn đến, đấm Sơn một quả. Nhưng Sơn né người tránh được và bồi trả lại cho hắn ta một quả. Cái đấm trúng ngay mũi tên con trai làm hắn ta kêu lên đau đớn. Sơn biết mình sẽ không yên với tên này nếu cứ nấn ná ở đây, nên Sơn phóng người chạy đi. Tên nọ rượt theo. Sơn chạy đến giữa cầu. Một ý nghĩ hiện nhanh trong trí. Sơn nhảy ùm xuống nước. Trên cầu, tên thanh niên lúng túng với bộ y phục màu xanh. Sơn đã lặn mất tăm dưới làn nước in màu xám thẫm của trời chiều. Tên nọ chỉ còn biết kêu to “Ăn trộm, ăn trộm”… Và đợi đến khi có người chạy đến, thì mặt nước đã trở lại yên lặng như tờ…

Sơn nấp dưới đám lau lách, chờ lúc trời thật tối mới leo lên. Ở chỗ này là bờ ruộng, khá xa xóm nhà. Không còn ai ở ngoài đồng. Thấp thoáng đàng trước, ánh đèn từ các mái tranh là những đốm sáng nhỏ xíu. Sơn cởi chiếc áo, giũ những cọng cỏ lau và rác rến, rồi lấy vẻ thư thả đi ngõ tắt về nhà.
Mẹ Sơn trố mắt khi nhìn thấy con trai vẹt những cành cây bước vào vườn sau. Bà ngạc nhiên hơn nữa khi thấy áo quần của Sơn ướt lem nhem. Bà kêu lên:
- Sơn! Con sao vậy?
Sơn đưa ngón tay trỏ lên môi, rồi bước nhanh vào nhà để thay đổi bộ quần áo. Khi trở ra, Sơn thấy mẹ vẫn còn đứng bên cạnh đống rơm rạ dùng để lót ổ cho gà. Người mẹ đưa mắt nhìn con, có vẻ thắc mắc:
- Ban chiều mẹ nghe ở gần xóm trên có ăn trộm vào vườn nhà ông Bá. Mà người ta bắt không được, vì tên trộm nhảy xuống nước mất dạng. Hình như ở đâu chỗ cây cầu thì phải.
Sơn mỉm cười:
- Họ có nhìn mặt tên trộm được không mẹ?
- Chắc là không. Khi dân làng chạy đến thì có thấy gì đâu!.. Nhưng nè Sơn, tại sao quần áo của con lại ướt mèm vậy? Mà tại sao con lại đi ngả sau?
Sơn giật mình, ngó quanh như sợ có người nghe được. Sơn kéo mẹ vào nhà, đóng cửa lại và kể hết cho bà nghe chuyện xảy ra ban chiều. Người mẹ lo lắng:
- Nhưng liệu con có yên với thằng con ông Bá Huê không? Thật khổ! Động vào kẻ có thế lực là có mà đeo gông con ạ!
- Mẹ đừng sợ. Chỉ có một mình hắn thấy mặt con. Hắn không biết nhà mình đâu. Con sẽ tránh gặp hắn, thế là xong.
Mẹ Sơn thở dài:
- Đừng có đi lên cầu nữa. Thế nào hắn cũng lưu ý chỗ đó.
- Dạ.
- Ra ruộng cũng vậy, đội nón để che mặt bớt đi. Hắn mà thấy được thì khổ đó con à.

Hai mẹ con lặng im. Mẹ Sơn dọn cơm lên chiếc chõng tre. Sơn uể oải ăn cơm như chưa bao giờ cảm thấy chán ngán như vậy. Cái giây phút làm anh hùng đã qua, qua thật mau. Sơn được làm một “hiệp sĩ vì dân trừ bạo” thật chớp nhoáng. Bây giờ ngồi trước mâm cơm hẩm, Sơn thấy mình trở lại là một cậu bé tầm thường. Ngày mai không còn được bước chân lên chiếc cầu nữa, cái hình phạt ấy tự mình phải đặt ra nếu không muốn nạp mạng cho ông Bá Huê. Ngày mai ra ruộng cũng phải đội nón sụp xuống che bớt mặt lại, chắc cũng ít có cơ hội ngửa mặt nhìn trời xanh mây trắng. Miếng cơm dừng lại ở cổ. Sơn cố nuốt, và chợt liên tưởng đến Thảo Giang. Thảo Giang xinh xắn quá, và cũng yếu ớt quá. Nếu ngày mai, ngày mốt, tên con trai ông Bá Huê kia tìm đến nhà Thảo Giang để chọc ghẹo, làm sao Sơn dám vào can thiệp? Đụng mặt với hắn lần nữa, chắc sẽ không thoát. Ôi Thảo Giang! Nỗi mơ ước đã trôi xa như cọng cỏ chỉ ban chiều rồi chăng?
Đêm tối chan hòa khắp mảnh vườn khi bữa ăn đã xong, và ngọn đèn dầu được khêu lên sáng thêm. Sơn đứng một mình trong vườn, lặng nghe tiếng khung cửi của mẹ quay đều. Ở xung quanh , nghe mùi nồng của rạ. Đống rơm rạ phơi ở sân mấy ngày nay rồi. Công việc của Sơn cho ngày mai là bó rơm lại, chất vào bếp để dành chụm lửa. Cái công việc phụ nhỏ nhặt của một nông dân là như thế, xem ra cũng quan trọng lắm. Hầu hết nhà dân nghèo ở đây đều đun bếp bằng rơm, hiếm có nhà dùng củi. Cũng như nhà cửa chỉ lợp mái bằng tranh, đắp vách bằng đất. Nhà gạch, nhà ngói chỉ tìm thấy dăm ba cái, như nhà ông Bá Huê. Và cũng như tất cả những của ngon vật lạ đều phải đem “tiến” cho vua dùng. Dân quê chỉ biết đến cơm gạo. Đời sống như thế đã là thái bình lắm.
Sơn ngồi xuống nền đất, cầm một nắm rơm lên. Sơn cảm thấy lòng không yên ổn. Trong vườn có tiếng ễnh ương kêu đâu đó, dưới bụi lau, hay sau ao nước. Sơn thở dài, nghe tiếng mình hòa vào đêm tịch mịch. Nhịp sống sẽ đều đều như thế này, hay từ ngày mai sẽ có một điều gì đổi khác?...

Chương 1

Chương 01

Dòng sông nhỏ chảy êm đềm qua làng, đúng ra chỉ là một con rạch. Ông cha đã đào nó không biết tự bao giờ. Từ bên này sang bên kia bờ rạch, chèo thuyền chỉ mất độ mươi phút. Nước được dẫn từ đó vào những đám ruộng, những vườn cây.
Sơn đã lớn, ở xóm làng này, bên cạnh dòng sông nhỏ – Sơn thích gọi như vậy. Dòng sông! Tiếng gọi đơn giản và tha thiết biết bao nhiêu! Dòng sông già tuổi hơn Sơn, nhưng lại chậm lớn hơn. Đến mùa đông năm nay, Sơn được mười tám tuổi. Họ hàng và lối xóm khen cậu bé “lớn như thổi”. Nhưng dòng sông thì vẫn vậy - vẫn lặng lờ như chính nó lúc Sơn thấy hồi Sơn còn để chỏm. Nhưng Sơn mơ hồ biết rằng trong cái lặng lờ ấy chứa đựng cả một sức sống. Sơn biết mỗi ngày nước sẽ mang đi một chút đất của hai bên bờ, của đáy rạch, làm lòng rạch rộng hơn. Con rạch nhỏ rồi sẽ chảy ra dòng sông lớn. Sơn chỉ nghĩ đến đó. Rồi thôi. Trí óc còn nông cạn quá! Nhưng trước mắt, trong mỗi ngày của đời sống, là dòng sông.
Cũng nơi đây, Thảo Giang đã lớn. Trái với Sơn, Thảo Giang lớn một cách nhẹ nhàng. Dáng người mảnh khảnh, nhỏ nhắn, xinh tươi, Thảo Giang đương ở giữa một đứa bé và một người lớn. Mỗi buổi trưa, đứa bé mang cơm ra đồng cho cha, đội chiếc nón lá lụp xụp, mặc áo màu nâu và đi chân đất để dễ lội ruộng. Nhưng mỗi buổi chiều, “người lớn” thư thả đi dọc dòng sông nhỏ, tóc xõa ra chấm xuống nửa lưng, mang đôi guốc mỏng, và trên cổ phất phơ mảnh khăn màu xanh. Đó là những lúc Thảo Giang đi lên nhà ông bác ở xóm trên, là một thầy đồ. Không biết Giang đến đó để làm gì, chỉ biết rằng mỗi lúc cô bé đi ngang qua trước mặt Sơn, lòng Sơn như có một nỗi xao xuyến nhỏ. Giống như mặt nước lặng lờ của dòng sông, lúc có gió thoảng đưa ngang sẽ gợn lên một chút sóng.
Sơn mơ ước có ngày mình sẽ tự tay đóng một chiếc thuyền, để tha hồ đi lại trên sông. Khi Thảo Giang đi bộ một mình, Sơn sẽ mời cô bé xuống thuyền, để đưa đi cho nhanh. Chắc chắn là Thảo Giang sẽ nhận lời. Vì hai gia đình đâu có xa lạ gì với nhau. Cùng một làng xóm, cùng một lũy tre, cùng một con rạch, tình láng giềng từ đời kiếp nào vẫn thân mật. Có điều, từ khi Thảo Giang tròn tuổi trăng, cô bé đã có vẻ giữ ý lắm. Mỗi khi đi đâu, Thảo Giang thường cắm đầu đi thật nhanh, không dám nhìn ai – hay lại là không thèm nhìn ai?- Sơn nghĩ như vậy. Sơn lấy làm tiếc rẻ những ngày còn nhỏ dại, không phải e dè chi cả. Đến nay, mất nhiều dịp để nhìn ngắm Thảo Giang rồi. Thầy đồ đã già yếu, bệnh liên miên. Bọn Sơn phải nghỉ học. Vậy là mất luôn cả những dịp nhìn Thảo Giang rón rén đi vào sân nhà thầy đồ. Tuổi hoa niên của Sơn tưởng như đang đến lúc ngừng lại, lặng lẽ như mặt nước sông nhỏ chảy êm đềm qua làng.
Mùa đông sắp qua hết. Sơn bắt đầu cảm thấy chán những buổi sớm ra đồng, những buổi trưa ngủ giấc ngắn trong chòi, những buổi chiều nhàn rỗi đi lang thang trên bờ sông, và những đêm tối ngồi nhìn mẹ dệt vải. Cuộc sống bình lặng đến gần như nhàm chán. Người mẹ góa bụa có lẽ bằng lòng như thế. Nhưng Sơn chưa đến tuổi có thể chấp nhận một cuộc sống như vậy. Cái hình ảnh to lớn nhất ảnh hưởng một cậu bé tuổi ấu thơ đã sụp đổ. Đó là hình ảnh của thầy đồ. Sơn không còn có ý nghĩ mong ước mình sẽ nối gót thầy đồ để làm “kẻ sĩ” nữa. Trước mắt Sơn, bây giờ chỉ còn một thầy đồ ốm yếu, bệnh hoạn, nằm mòn mỏi với mớ chữ nghĩa nửa đường. Và mảnh sân vuông lúc trước lố nhố bọn trẻ, bây giờ cô quạnh biết bao! Ta sẽ như thầy đồ chăng? Không! Có lý nào!... ta không mơ làm “sĩ” nữa. Sơn đã nhận ra một điều rõ rệt, là Sơn đang khát khao một cái gì mới mẻ đến trong đời sống lặng yên này, một cái gì thật khích động để phá tan sự nhàm chán trong sinh hoạt của mình. “Cái gì đó”…, không phải là tiếng trống nổi lên dồn dập giữa sân đình, hay tiếng pháo nổ dòn trong những đám cưới. Sơn, mỗi chiều, dõi mắt nhìn sang bên kia bờ sông với niềm háo hức. Sơn đã qua đó một vài lần. Không có gì khác hơn bên này. Bước lên bờ sẽ gặp ngay những vườn cây trái. Nhưng niềm háo hức không phải ở đó. Sơn mơ hồ cảm thấy rằng, qua khỏi những mảnh vườn ấy, chắc sẽ có những điều thú vị hơn. Là một cánh đồng bát ngát, là một dãy núi, hay là một chân trời?...
Vườn cây trái bên kia bờ sông là vườn của ông Bá Huê. Nó lại là ranh giới của làng. Đó là hai lý do ngăn cản lũ trẻ nít không được lai vãng nơi ấy. Thường những kẻ được qua vườn là các gia nhân của ông Bá Huê sang để bón cây vun trái. Mỗi mùa vườn cây trổ hoa rồi đậu trái, toàn những trái quý. Ông Bá Huê sai người hái trái để đem “tiến” lên tận kinh đô. Danh vọng của ông cứ nhờ đó mà lên. Và vườn cây bên kia sông cũng vì thế mà trở thành khu vực bất khả xâm phạm. Sơn không buồn mơ chèo thuyền qua đó, nhưng niềm mong ước cứ theo ánh mắt của Sơn chiếu thẳng sang cái màu xanh đậm bên kia bờ, như muốn xuyên thủng những cành lá dày đặc để nhìn thấu chân trời phía sau. Nhưng chỉ đến đó, tia mắt phải ngừng lại. Và niềm mong ước không lớn được nữa. Sông vẫn lặng lờ đời sông. Người vẫn bình yên đời người. Buổi sáng ra ruộng, trưa ngủ giấc ngắn trong chòi, và chiều chiều ngóng mắt nhìn theo bóng Thảo Giang phất phơ chiếc khăn xanh đi lên xóm trên. Đôi lúc Sơn đánh bạo, gọi Thảo Giang lại, hỏi vẩn vơ mấy chuyện. Cô bé cũng ngừng lại, trả lời Sơn. Nhưng cô bé không bao giờ nhìn ngay mặt Sơn. Mảnh khăn xanh là phương tiện duy nhất để Thảo Giang che đôi má ửng hồng. Rồi cô bé quày quã bước nhanh, để lại trong mắt Sơn một đôi mắt đen láy ngộ nghĩnh. A, trong đôi mắt ấy là cả một dòng sông, là cả một vườn cây, là cả một đồng lúa…. Là cả một thời thơ ấu vui tươi, của Sơn, của Thảo Giang, của bọn trẻ nhỏ ở xóm làng này. Sơn chưa biết mình nghĩ gì về Thảo Giang, nhưng dường như đôi mắt vừa dịu dàng vừa lanh lẹ đó mỗi lúc đi qua là để lại cho Sơn một niềm mơ ước.
Đến một hôm ông Bá Huê huy động dân làng làm một chiếc cầu bắc ngang dòng sông nhỏ. Lý do thật giản dị là ông Bá không muốn mất thì giờ và nhân lực mỗi khi phải qua vườn bằng thuyền. Chiếc cầu được làm bằng ván, chiều ngang vừa hai người đi. Có tay vịn bằng ống tre, nhưng kiên cố lắm, vì những chân cầu được chôn sâu xuống đáy rạch. Ngót một tuần lễ, chiếc cầu được hoàn tất. Những người nhân công làm việc trong vườn cây của ông Bá Huê có thể qua sông bằng chiếc cầu ấy. Lũ trẻ có thể leo lên cầu chơi, nhưng chỉ đến đó, không được qua vườn.
Sơn cũng thích lên chiếc cầu ấy, đứng nhìn xuống dòng nước. Nước có lúc xanh rì như màu mạ, có lúc đen thẫm lại như chứa đựng trong nó những điều huyền bí. Trí tưởng tượng của cậu bé cũng theo đó mà tăng dần. Nhưng cái màu xanh dày đặc bên kia bờ vẫn không mỏng được một chút nào. Chiếc cầu từ sau khi làm xong, trở thành một nơi cuốn hút bọn trẻ lớn. Nhưng cũng sau khi có chiếc cầu, đôi mắt Thảo Giang đã u buồn như một cánh rừng hoang. Bởi cha của cô bé, một đêm tối trời, đã ra đi và biệt tích không còn trở về làng.

18/8/12

Anh hùng sơ cước

Đôi nét sơ lược về truyện tuổi hoa
Tủ sách Tuổi Hoa được thành lập trước năm 1975 và do những cây bút chuyên viết cho các tạp chí như Thiếu Nhi, Thằng Bờm, Tuổi Hoa cộng tác.
    Các tác phẩm của Tủ sách Tuổi Hoa được chia làm 3 loại : * Loại hoa đỏ: phiêu lưu, mạo hiểm, trinh thám * Loại hoa xanh: tình cảm nhẹ nhàng như tình gia đình, bạn bè * Loại hoa tím: dành cho tuổi 16 - 18
Những tác phẩm này đã từng một thời là "món ăn tinh thần " của thanh thiếu niên Việt Nam vì nó không những giáo dục những đức tính tốt cho con người mà còn giúp thanh thiếu niên tập trau chuốt lời văn để học văn tốt hơn.

Hiện nay Tủ Sách Tuổi Hoa và Bán Nguyệt San Tuổi Hoa đang bị mai một nên có lẽ đến một ngày nào đó sẽ không ai còn nhớ và còn biết trong văn hóa Việt Nam có một giai đoạn thịnh hành của sách báo Thiếu Nhi, đã góp phần trong việc giáo dục tạo nên một thế hệ Thanh thiếu niên ưu tú. Việc sưu tầm và tái lập Tủ sách Tuổi Hoa cũng như Bán Nguyệt San Tuổi Hoa sẽ giúp chúng ta ghi dấu lại giai đoạn đáng nhớ đó và mặc dù hiện giờ các tác phẩm của Tủ Sách Tuổi Hoa và các Bán Nguyệt San Tuổi Hoa bị thất lạc rất nhiều nhưng mong rằng với thời gian và với công sức của tất cả những người đã, đang và sắp là fans của Tuổi Hoa, chúng ta sẽ cùng nhau tái lập lại đầy đủ các tác phẩm, các tập san của Tuổi Hoa khi xưa.


* LOẠI HOA ĐỎ : truyện phiêu lưu, mạo hiểm, trinh thám
* Tác giả: THÙY HƯƠNG
* Nhà xuất bản Tuổi Hoa
* Nguồn: THU HỒ sưu tầm, scan và BC đánh máy

Gồm 14 chương 
 
Bản Quyền Thuộc về: tuoihoa.hatnang
Mọi trích dẫn hoặc đăng lại từ trang này phải chắc chắn nhằm phục vụ hoàn toàn phi lợi nhuận, và ghi rõ "Trích từ nguồn TONGHOPPLUS và tuoihoa.hatnang "
Tonghopplus giữ bản quyền.

Kế hoạch Israel tấn công Iran lộ trên mạng Internet

Kế hoạch Israel tấn công Iran lộ trên mạng Internet

 

Tờ Corriere della Sera của Italy đưa tin blogger Richard Silverstein đã tiết lộ kế hoạch của Israel tấn công Iran.

Blogger vốn được nhiều người gọi là "WikiLeaks Israel" này khẳng định cuộc tấn công sẽ được phối hợp với các vụ công kích không gian mạng, có nhiệm vụ chỉ trong vài phút vô hiệu hóa hệ thống Internet, điện thoại, đài phát thanh, truyền hình, vệ tinh viễn thông, hệ thống cáp quang liên lạc giữa các chủ thể chiến lược liên quan tới Iran.

Silverstein đăng trên trang web một đoạn tài liệu mật của Chính phủ Israel về vụ tấn công Iran, trong đó có sử dụng các công nghệ tiên tiến nhất để vô hiệu hóa cơ sở hạ tầng của nước Cộng hòa Hồi giáo này, cũng như các căn cứ tên lửa tại Horamabade và Isfahan.

Tài liệu cho hay các nhà máy điện sẽ tê liệt vì bị gây chập mạch bằng đạn sợi carbon. Tàu ngầm Israel tại Vịnh Persian sẽ tấn công cơ sở hạt nhân của Iran bằng hàng chục tên lửa đạn đạo. Trong khi tên lửa hành trình được áp dụng tiêu diệt hệ thống điều khiển.

Ngay sau đó, một vệ tinh do thám TecSar của Israel sẽ bay qua lãnh thổ Iran để đánh giá thiệt hại của đối phương. Thông tin được chuyển tới chiến đấu cơ Israel, thâm nhập không phận Iran để hoàn thành nốt nhiệm vụ tấn công danh sách mục tiêu cụ thể.

Tuy nhiên, Iran có hệ thống tên lửa hiện đại và đa dạng nhất tại khu vực Trung Đông. Bộ trưởng An ninh Nội địa vừa mãn nhiệm của Israel Mantan Vilna nói nếu quyết định tấn công Iran, Israel sẽ phải tham gia cuộc xung đột kéo dài một tháng và thiệt hại nhân sự khoảng 500 người.

Ông Vilna nói với báo Maariv rằng cuộc chiến sẽ được tiến hành trên "nhiều mặt trận," với hàng trăm tên lửa được phóng đi từ các thành phố và thị trấn tại Israel. Israel đã sẵn sàng cho cuộc chiến kiểu này, song việc tấn công các cơ sở hạt nhân của Iran cần được sự đồng ý của Mỹ.

Cùng ngày, Mỹ và LHQ đã chỉ trích những bình luận chống Israel của tổng thống và lãnh tụ tối cao Iran, trong đó miêu tả Israel như một "khối u" cần bị loại bỏ./.

tonghopplus(theo Vietnam+)

Chương 14 (hết)

Chương 14 (hết)

Hai tuần lễ trôi qua. Gia đình ông Ngọc Quang đã trở lại với đời sống cắm trại bị gián đoạn một cách bi thảm .
Không ngày nào là họ không bàn đến Y Blơm .
- Không hiểu bây giờ ông ta ở đâu? - Hằng nói .
- Điều cốt yếu là ông ta không bị bắt ! - Việt đáp .
- Thưa ba - Hằng hỏi - chúng ta có thể đi thăm ông ta không ạ?
- Đi bằng cách nào hả con?
- Thưa ba, thí dụ đến chỗ mấy người đốt than. Con chắc rằng nếu đi với ba sẽ dễ dàng tìm thấy lối .
- Khó lắm, làm như thế cảnh sát sẽ lưu ý đến họ. Chắc Y Blơm cũng không muốn điều đó .
- Thế không bao giờ gặp lại ông ta sao? - Hằng thở dài nói .
Một buổi chiều kia, trong khi cả nhà đang quây quần trước cửa lều thì thấy ông Thanh Tùng đi tới. Chuyện vãn một hồi, ông Ngọc Quang hỏi nhà phóng viên có chịu bỏ ý định phỏng vấn Y Blơm không?
- Bỏ ý định! - Ông Thanh Tùng đáp - Ông muốn nói rằng tôi đã gần tới mục tiêu?
- Vậy ông vẫn tiếp tục tìm kiếm hắn?
- Đúng thế, bởi vì ông Đại úy đã đổi đi nơi khác rồi, việc canh phòng đã chểnh mảng: Y Blơm không cần đề phòng nữa. Vậy trong vài ngày nữa, thể nào tôi cũng tìm thấy hắn và tờ báo Đèn Pha sẽ là tờ báo đầu tiên ở Sàigòn đăng những lời tâm sự của tên tướng cướp .
- Thưa bác, có thể không ạ? - Việt hỏi với giọng ranh mãnh .
Nó bèn chui vào lều và mang ra một tờ báo mà ông Thanh Tùng nhận ra là một phụ trương đặc biệt của tờ Sàigòn Tân Văn, vừa đưa từ quận lỵ lên tối hôm qua .
Ở trang nhất có hàng tít lớn tám cột như sau :
“Ba đứa trẻ được tướng cướp Y Blơm thù tiếp”
- Thế này là nghĩa gì? - Ông Thanh Tùng sững sờ hỏi .
- Thưa bác - Hằng đáp - thế này có nghĩa là ba anh em chúng cháu đã ở ba ngày với Y Blơm, chúng cháu đã viết thiên phóng sự và ba chúng cháu đã gởi …
- Cho báo Sàigòn Tân Văn! - Ông Thanh Tùng cười khẩy đáp - Và quí vị muốn tôi tin là câu chuyện đó có thực hay sao đó?
- Thưa bác, thực một trăm phần trăm ạ - Việt đáp - Nếu bác chịu khó đọc, là bác sẽ thấy hai gã đốt than mà bác gặp bữa đó chính là Y Blơm và cháu đó ạ!
- Thôi đi cậu! - Ông Thanh Tùng nhún vai đáp - Cậu mà là một trong hai gã đó! Muốn nuốt cho nổi, có họa là phải ngây thơ như … như …
- Như một độc giả của báo Đèn Pha! Phải không ạ? - Hằng đáp .
- Nhưng ta phải nói trước là ta không tin cậu đâu nhé! Cậu phải biết là ta cũng thuộc vào làng bịa chuyện đấy nhé!
Rồi nhà phóng viên từ biệt để đi tìm Y Blơm .
Sáng hôm sau, trong khi ông bà Ngọc Quang, Việt và Hằng đang dạo ở bờ suối thì bé Tâm chạy xuống. Nó vừa thấy ở cửa lều một vật mà tối hôm trước không thấy có . Đó là một thằng người gỗ khác .
Việt reo lên:
- Hình của tôi đây mà! Hồi đó ông Y Blơm đã bắt đầu khắc nhưng không đủ thời giờ hoàn tất! Trông này, em Hằng!
- Đúng là ông ta đã tới đây đêm qua. Đáng lẽ ta phải đoán ra ngay ông đến để đưa tặng cho con kỷ vật này … Thưa ba, có lẽ ông còn ở đâu gần đây …
Nó nhìn về phía rừng như là tìm kiếm sau mỗi bụi cây lay động hình bóng Y Blơm .
Sau vài ngày, ai cũng phải tin rằng Y Blơm đang ở gần đâu đây. Ngày nào hắn cũng bày tỏ sự có mặt của hắn: lúc thì một bó hoa rừng, lúc thì một vật bằng gỗ khắc, để cạnh cửa lều lúc ban đêm. Người ta có cảm tưởng rằng hắn không thể rời bỏ nơi mà các bạn hắn đang ở, nhưng hắn không muốn ra mặt sợ gây phiền lụy .
Một tháng nghỉ sắp hết. Tuần tới gia đình ông bà Ngọc-Quang sẽ khởi hành về Sàigòn. Một buổi sáng, trong khi cả nhà đang sửa soạn xuống bờ hồ, Việt thấy Hằng có vẻ băn khoăn .
- Em nghĩ gì vậy?- Việt hỏi .
- Em nghĩ đến ông Y Blơm. Hồi này ông ở loanh quanh gần đây. Nhưng chúng ta sắp về Sàigòn rồi, chúng ta không thể gởi thư cho ông ta được .
- Nếu ông ta chịu ra đầu thú thì hay quá. Vì ông sẽ được trắng án theo lời các ông cảnh sát .
- Điều đó không hợp với bản tính của ông. Như vậy có lẽ không bao giờ chúng ta gặp lại ông nữa .
Ông Ngọc-Quang đang xếp đồ câu vào thuyền. Bỗng nhiên, mọi người nghe thấy tiếng bé Tâm kêu thét lên. Nó vừa leo lên cái kẽ đá và bị trượt chân ngà xuống đất cao tới gần hai thước, chân đụng phải một tảng đá có cạnh. Ông Ngọc-Quang chạy bổ tới bế thằng nhỏ lên .
- Có sao không con? - bà Ngọc-Quang hỏi .
Thằng nhỏ mê man không đáp, một cẳng chân nó lủng lẳng trông rất thương tâm. Ông bố đặt chân nó nằm xuống cát .
- Chân bị gãy rồi, phải để nó nằm nguyên - ông nói. Việt chạy lên lều lấy cái chăn và giẻ để buộc, Hằng đi kiếm một thanh gỗ cho ba .
- Cái bơi chèo bị gãy hôm qua có thể dùng được ông ạ, bà Ngọc-Quang vừa nói vừa sụt sịt khóc .
- Phải đấy … Bây giờ phải hành động cho mau. Sau khi cẳng chân được cột chắc chắn, ta phải đưa con đến y sĩ ngay .
- Y sĩ! Nhưng mà làm thế nào có y sĩ?
- Chắc ở quận lỵ phải có. Nếu đi mau thì có thể về tới quận lỵ trong một tiếng rưỡi. A! Thôi chết rồi!
- Cái gì vậy hả ông ?
- Tôi quên mất rằng mình chỉ còn một chiếc bơi chèo … làm sao mà bơi thuyền được?
- Có đi bộ theo lối bờ hồ được không?
- Chắc được, nhưng đi vòng mất nhiều thì giờ lắm và tôi phải bế con .
Hai ông bà nhìn nhau lo lắng. Thằng nhỏ rên se sẽ; khi ngã xuống nó đã ngất đi; bây giờ nó không có vẻ đau lắm, nhưng người nó run rẩy .
Lúc đó, Việt đã chạy xuống, tay mang chăn và giẻ buộc. Ông bà Ngọc Quang lấy chăn cuộn Tâm vào đó. Thằng nhỏ đã tỉnh lại, nó kêu la ầm ỉ .
- Trời ơi! Đau quá ! Má ơi, má ơi ! Chân con gãy rồi, đừng mó vào tôi, tôi không muốn đi đâu hết, để tôi nằm yên ở đây .
Việt và Hằng thấy ứa lệ. Bà Ngọc Quang cảm thấy quá thất vọng. Làm thế nào mang được bé Tâm theo đường bộ? Chắc chắn là phải mất nhiều tiếng đồng hồ. Khi tới nơi vết thương của thằng nhỏ đã làm độc? Nếu người ta phải cưa chân nó? Nếu thằng nhỏ sẽ phải tàn tật suốt đời?
Bỗng nhiên có tiếng động từ trên đồi. Những đứa nhỏ quay lại thì thấy một người đàn ông mặc đồ đen từ sau bụi rậm hiện ra đang chạy xuống Việt và Hằng cùng kêu lên:
- Y Blơm!
Phải, đúng là hắn! Không hiểu sao, hai đứa trẻ tự nhiên thấy vững dạ .
- Tôi nghe thấy tiếng kêu của bé Tâm - hắn nói với ông bà Ngọc Quang, tôi hiểu rằng bé Tâm đã bị tai nạn .
Ông Ngọc Quang kể lại vắn tắt sự việc xảy ra .
- Với tuổi của em, vết thương rất chóng bình phục - Y Blơm nói - trong vòng hai tháng thì em đi lại được như thường .
- Với điều kiện là phải chữa chạy kịp thời - bà Ngọc Quang nói - Nhưng chiếc thuyền bị gãy một bơi chèo rồi, làm sao đi tới quận lỵ được?
Nét mặt Y Blơm trở thành đăm chiêu: hắn đang suy nghĩ. Bỗng nhiên, đôi mắt hắn nhìn xuống bé Tâm với một vẻ dịu dàng đầy thương hại .
- Nếu đi đường bộ theo lối tắt - hắn nói chậm rãi - ta có thể tới quận lỵ trong hai tiếng .
- Ông có thể chỉ vẽ cho tôi con đường đi hay không? - ông Ngọc-Quang hỏi .
- Chỉ vẽ thì không thể rõ được, nhưng con đường đó tôi có thể nhắm mắt mà đi không lầm. Vậy không nên mất thì giờ nữa. Chúng ta đi ngay bây giờ. Tôi sẽ bế bé Tâm, vì tôi vẫn quen vác nặng để đi bộ trong rừng .
Hai ông bà nhìn nhau. Họ ngại rằng nếu đi về quận lỵ, Y Blơm sẽ có thể gặp cảnh sát. Tuy nhiên, mạng sống của bé Tâm có thể bị đe dọa …
- Ông Y Blơm ! - bà Ngọc-Quang ấp úng .
- Bây giờ nói nữa vô ích, vội lắm, xin đi gấp .
Bé Tâm được đặt vào hai cánh tay Y Blơm rồi bọn ngưòi đi sâu vào rừng .
Đi lâu lắm, lúc lên dốc, lúc xuống đèo rất là vất vả. Thỉnh thoảng bé Tâm thốt ra một tiếng kêu rên rỉ .
- Ngoan đi bé, sắp tới nơi rồi - Y Blơm dỗ nó .
Tới một ngọn đồi, mọi người đã trông thấy những ngôi nhà đầu tiên của quận lỵ, Y Blơm dừng lại một lát; ông Ngọc-Quang tới gần hỏi:
- Thôi, có lẽ ông không nên đi thêm nữa, rất nguy hiểm cho ông. Bây giờ đã trông thấy quận lỵ rồi, chúng tôi có thể đi tới một mình được .
Y Blơm lắc đầu:
- Không, khi xuống đến thung lũng, ông sẽ không trông thấy gì nữa, ông có thể bị lạc và đi vòng quanh hàng giờ. Tôi phải đến tận nơi mới được .
- Nhưng … cảnh sát ? - Việt nói .
Y Blơm nhún vai bước đi .
Được một quãng, họ nghe thấy tiếng chân người sau bụi rậm .
- Ông Y Blơm, xin ông … bà Ngọc-Quang năn nỉ .
Nhưng bà chưa kịp nói hết câu thì đã thấy những họng súng từ trong bụi rậm chĩa ra tua tủa. Một lát sau, cả bọn đã bị cảnh sát vây quanh .
Viên đội trưởng là ông cảnh sát tóc hoa râm đã bênh vực cho lũ trẻ trước kia . Ông ta tiến lên đặt tay lên vai Y Blơm:
- Chúng ta đã theo mi từ nãy tới giờ. Các chú, tiến lên, bắt lấy hắn và giải về quận.
- Vô ích - Y Blơm thản nhiên đáp, tự tôi sẽ đi tới đó. Các ông để tôi mang em nhỏ này tới nơi đã, nó bị thương nặng, nếu đổi tay sẽ làm nó đau đớn lắm .
Ông cảnh sát lo sợ bị mắc mưu:
- Mi hứa danh dự rằng tới quận mi sẽ đầu hàng chứ?
Y Blơm đưa mắt nhìn về phía rừng sâu, rồi lại nhìn bé Tâm. Nếu hai tay hắn được tự do, chắc chắn sẽ biến vào rừng sâu và có thể bị trúng một viên đạn. Nhưng với đứa nhỏ trên tay thì vô kế khả thi .
- Tôi hứa … - hắn đáp .
Viên đội trưởng liền ra hiệu cho các cảnh sát viên giãn ra, chỉ cần đi theo bọn người đến quận lỵ .
Chẳng bao lâu, những nhà của quận lỵ đã hiện ra, viên đội trưởng chỉ cho ông Ngọc Quang phòng mạch của y sĩ, rất may là ông này có nhà. Ông cho bé Tâm vào thẳng phòng điều trị rồi chích thuốc và bó bột cho nó. Ông cho biết là chỗ gãy không có gì khó chữa và cái chân sẽ lành hẳn không để lại dấu vết gì .
Ngoài cửa phòng, Y Blơm và các cảnh sát viên theo dõi việc chữa chạy. Khi xong xuôi, viên đội trưởng bảo Y Blơm:
- Bây giờ cần phải đi .
Đôi mắt tướng cướp sáng lên. Nhưng hắn đã hứa rồi, hắn không thể chạy trốn được .
- Nếu không phải vì em nhỏ …- hắn giải thích với bà Ngọc Quang .
- Tôi hiểu lắm, bà đáp. Chúng tôi sẽ không bao giờ quên hành động cao cả của ông. Nhưng ông sẽ được tự do một ngày gần đây, tôi xin thề .
Việt và Hằng muốn chạy lại để chia tay với người bạn thân, nhưng các cảnh sát viên đã kéo Y Blơm đi .
***
Một tháng sau, tại tòa án Ban Mê Thuột, một nhóm người đang đứng chờ một can nhân được tòa tha bổng, sau một phiên tòa lịch sử. Ông Ngọc Quang đã từ Sàigòn lên cùng với một vị luật sư danh tiếng để bào chữa cho Y Blơm, do ông đài thọ hết mọi phí tổn .
Trước hết, trạng sư đã chứng minh rằng tên “tướng cướp” không đáng kết tội về vụ giết người, vì hắn ở trong tình trạng tự vệ chánh đáng .
Còn về các tội khác, đó chỉ là những lời đồn đại vô căn cứ. Trạng sư đã dẫn đến tòa nhiều nhân chứng, toàn là những người mà Y Blơm đã giúp đỡ. Sau hết, ông ta đã đề cao sự tận tâm của người này, đã không ngần ngại hy sinh sự tự do của chính mình để cứu một đứa nhỏ .
Tòa tuyên bố Y Blơm được tha bổng .
Trước sân tòa án, ông Ngọc Quang đang đứng cùng trạng sư, Việt và Hằng. Hai đứa nhỏ đã được ông xin phép nhà trường cho nghỉ học ba ngày để lên dự phiên tòa và được gặp Y Blơm. Riêng bé Tâm và bà Ngọc Quang không có mặt vì chân thằng nhỏ chưa được lành hẳn .
Cửa tòa vừa mở, mọi người thấy Y Blơm xuất hiện, lúc này, hắn không còn là một tên cướp bị truy nã thuở trước nữa. Vẻ mặt tươi cười, áo quần bảnh bao, trông hắn rõ ra một trang thanh niên quắc thước .
Hắn chào hỏi mọi người rất niềm nở. Ông chánh án và ông trạng sư chúc mừng hắn được trở lại đời sống bình thường của một công dân tự do .
- Tôi có một sự ngạc nhiên cho ông Y Blơm - ông Ngọc Quang nói .
Rồi ông dắt hắn tới chỗ chiếc xe hơi đậu ở góc sân tòa. Một bà già nhỏ nhắn, da nhăn nheo, đang ngồi ở nệm sau và nhìn ra với đôi mắt sáng như hai hòn than. Đó là bà thân mẫu Y Blơm và ông Ngọc Quang đã đến tận buôn để đón bà ra tòa mục kích việc phóng thích con bà .
Hai mẹ con không cầm được giọt lệ vì sung sướng. Hằng bất giác nghĩ tới bài hát “Lòng mẹ”. Nó se sẽ hát: “Lòng mẹ thương con như biển Thái Bình dạt dào …”; lòng rộn lên nỗi vui mừng trước cảnh đoàn tụ của mẹ con Y Blơm. Chàng “Anh hùng sơn cước” nay đã được trở về mái ấm gia đình vui sống với mẹ già và phụng dưỡng bà với tất cả tấm lòng hiếu thảo.
THÙY HƯƠNG

Chương 13

Chương 13

Không bút nào tả xiết nỗi thất vọng của ông bà Ngọc-Quang khi chiều hôm đó, sau hai tiếng đồn hồ chờ đợi, ông bà phải nhìn nhận sự thật: ba đứa con yêu quý nhất đời đã mất tích! Ông Ngọc-Quang tưởng vợ sắp phát điên. Suốt đêm hôm đó, hai người ngồi bên nhau lắng tai nghe ngóng, lòng lo sợ trong cảnh vắng lặng của miền sơn cước .
Sáng hôm sau, ông Ngọc-Quang đã xuống quận lỵ để trình báo với nhà chức trách. Trên đường về, thấy chiếc thuyền bị lật, ông cho rằng ba đứa con ông đã bị chết đuối.
Còn bà Ngọc-Quang thì không muốn tin rằng chúng bị mất tích vĩnh viễn. Trong khi ông tìm kiếm trong hồ thì bà ngồi đợi trước lều, mắt nhìn về phía chân trời .
“Nếu chưa tìm thấy xác, ta tin rằng chúng hãy còn sống”, bà tự nhủ .
Thương thay! Nguồn hy vọng rất mong manh! Chiếc thuyền bị lật nói lên quá rõ ràng tấn thảm kịch .
Bà chỉ còn là cái bóng của chính mình. Mắt bà trũng xuống, nước da bà tái nhợt làm cho ông Ngọc-Quang lo ngại cho tính mạng của bà. Mặc dầu bà vẫn nuôi nguồn hy vọng trong đáy lòng, mỗi giờ trôi qua vô tăm tín lại làm tăng thêm nỗi lo âu hun đốt tâm hồn .
Thỉnh thoảng, lắng hai tai, bà tưởng như nghe thấy tiếng gọi của những đứa trẻ. Bà đứng dậy, gọi tên chúng nó; nhưng đó chỉ là tiếng gió trong rừng cây. Và, mệt mỏi thêm, bà lại ngồi xuống để tiếp tục việc canh gác đau thương .
Hôm đó, khi bà nghe tiếng gọi “Má ơi! Má ơi!” từ xa vọng lại, bà đã thấy vui mừng. Nhưng bà lại ngồi xuống, cho là một sự ảo tưởng .
Nhưng lần này, ảo tưởng đã thành sự thật. “Má ơi, má ơi, chúng con đã về đây” tiếng gọi thất thanh của Hằng vọng tới. Rồi tiếng gọi the thé của bé Tâm: “Má ơi, má ơi!”
Không, bà không lầm! Chúng đã về tới nơi, chúng đang leo lên đồi .
Bà vội chạy ra trước lều, xông vào đám cỏ lau. Vài phút sau, bà đã ôm chầm ba đứa con vào lòng .
- Các con! Các con yêu quí của má! Bà vừa nói vừa khóc vì sung sướng .
Bà sờ chúng, vuốt ve chúng, ngắm nhìn chúng để xem có phải thật là chúng hay không. Bà không cần hỏi đầu đuôi ra sao: chúng đã về, chúng còn sống! Thế là đủ, bà không muốn gì hơn.
- Thế má tưởng chúng con chết thật sao, thưa má? - Bé Tâm hỏi .
Bà không đáp, bà ôm chặt thêm nó vào lòng. Cảm thấy tất cả sự đau khổ vừa qua của bà, ba đứa trẻ cũng ngồi lặng yên, xúc động trước tình mẫu tử bao la đó .
Khi nguôi bớt nỗi cảm động, bà mới hỏi các con từ đâu về .
- Từ đằng kia má ạ! - Bé Tâm vừa nói vừa chỉ về phía rừng .
Hằng vừa nói vừa nép vào người mẹ:
- Thưa má, chúng con sẽ kể hết đầu đuôi để má nghe. Chúng con sung sướng biết bao khi thấy má!
- Không, không các con ơi! - Bà Ngọc-Quang vội đáp - Trước khi kể cho má nghe, các con phải báo tin để ba biết đã! Chúng ta đã ước hẹn rằng ai có tin tức gì trước sẽ treo một miếng vải trắng lên một cây gậy cao .
Việt bèn lấy một cái khăn buộc lên nóc lều .
Ông Ngọc-Quang vẫn lo công việc tìm kiếm dưới hồ. Thỉnh thoảng ông ngước mắt trông về phía đồi, rồi không thấy gì, ông lại lắc đầu tiếp tục công việc .
Bỗng nhiên, một người thuyền chài kêu lên:
- Ô kìa! Ông nhìn xem .
Ông Ngọc-Quang vội ngẩng nhìn thì thấy một miếng vải trắng đang phất phới trên nóc lều. Ông vội vàng chèo thuyền vào, nhảy lên bộ và hộc tốc chạy về lều .
Rồi đến lượt ông ôm chầm lấy các con. Bà Ngọc-Quang mắt còn ngấn lệ tay run run, bỏ các con ra nói:
- Chắc các con vừa mệt vừa đói, vậy mà má quên mất chỉ vì mải ngắm nhìn các con .
Bé Tâm hỏi:
- Thưa má, có gì ăn không ạ?
- Có chứ, nhiều thức ăn lắm. Rồi con sẽ thấy .
- Má đã lại xuống chợ quận ạ?
Bà Ngọc-Quang không đáp. Sự thật là từ khi ba đứa con mất tích, hai ông bà không thể nào nuốt trôi được một miếng cơm. Bao nhiêu thực phẩm vẫn còn nguyên . Các hộp thịt cá được mở ra, ba đứa ăn như gió. Còn hai ông bà thì quên đói vì vui sướng. Ông bà đã thấy quá đầy đủ khi ngắm nhìn ba đứa con yêu quí mà ông bà tưởng không bao giờ còn gặp lại .
Vừa ăn, Việt vừa kể lại cuộc phiêu lưu: Chúng con định đi đến Cầu Mây rồi bị lạc trong rừng. Rồi tiếp tục đến gặp mụ chăn dê và sự ác cảm của dân làng .
- May thay - Nó nói tiếp - Y Blơm đã tới …
- Y Blơm? - Bà mẹ kêu lên .
- Vâng ạ. Y Blơm! Xin má đừng sợ, Y Blơm không giống như người ta phao đồn đâu ạ! Chúng con đã sống mấy ngày với ông ta … Ông ấy tốt biết chừng nào .
- Con đã mạng cho ông ấy cái áo - Hằng tiếp .
- Ông ấy đã khắc cho con cái tượng - Bé Tâm vừa nói vừa giơ thằng người gỗ ra .
Hai ông bà nhìn nhau ngạc nhiên:
- Y Blơm? Không thể nào tin được! Các con đã thấy hắn thực à? Vậy mà người ta đồn rằng hắn không ở vùng này! - Bà Ngọc-Quang nói .
- Có lẽ cái ông phóng viên khôi hài ấy nói với má chớ gì! - Hằng đáp với vẻ chế riễu .
- Hay là ông Đại úy cảnh sát! - Việt phụ hoạ .
- Ông đó ác quá má ạ! - Bé Tâm thêm - Ông ta muốn ngăn cản, không cho chúng con về với má, và định dẫn chúng con về quận lỵ kia đấy .
Việt tiếp tục kể chuyện đi bộ trong rừng với Y Blơm tới nhà người đốt than . Hằng và bé Tâm thỉnh thoảng lại nói chen vô để sửa đổi hoặc thêm thắt một vài chi tiết .
- Anh không kể Y Môh ghen tức à?
- Anh không kể ông Y Blơm khắc cho em cái tượng à?
- Khoan, khoan, anh sẽ kể hết!
Rồi Việt kể đến chỗ cảm động nhất của câu chuyện. Khi nó kể rằng nó đã tới nhà bà mẹ Y Blơm để tìm cách dẫn Y Blơm về thăm bà nhưng việc đã không thành thì đôi mắt bà Ngọc-Quang đã đẫm lệ .
- Tội nghiệp bà cụ quá! - Bà vừa lẩm bẩm vừa nhìn các con quây quần chung quanh .
- Các con thấy đó - ông Ngọc-Quang nói - Người ta không thể sống vô tội ngoài vòng luật pháp. Theo như chúng con kể lại, Y Blơm có lẽ là ngưòi tốt. Nhưng vì hắn vô ý giết người, hắn muốn trốn thoát những hậu quả của hành động ấy. Từ đó, hắn bị đầy ải ra ngoài lề xã hội .
- Thưa ba - Việt nói - Tuy hắn đã giết người nhưng không phải lỗi hắn .
- Hắn cần phải chứng minh điều đó - ông Ngọc-Quang giải thích - Vì lẽ ấy mà có toà án và các quan tòa . Y Blơm không may đã mắc tội ngộ sát thì đáng lẽ phải ra đầu thú với nhà chức trách để xin xét xử. Vì trường hợp đặc biệt, có lẽ hắn đã được trắng án và trở lại đời sống bình thường .
- Thưa ba, con rất mừng được ba giải thích - Việt thở dài đáp - Con nhận thấy rằng Y Blơm đã chạy trốn là có lỗi, nhưng con không biết cách giải thích cho ông ấy hiểu. Tuy nhiên, ông ấy đã thành người bạn thân của con .
Bà Ngọc-Quang mỉm cười nói:
- Má sẽ rất vui khi được gặp hắn để cảm tạ hắn đã giúp đỡ các con!
Trong khi bà Ngọc-Quang chia trái cây cho các con, bé Tâm nói nó rất mến ông Y Blơm, nhưng thức ăn của ông thì không ngon bằng của nhà .
- Má mời ông ta đi - nó nói - và má sẽ làm cho ông ta một chiếc bánh. Con chắc ông ấy sẽ rất thích .
- Nhưng tìm ông ấy ở đâu? - Hằng thở dài nghĩ rằng có lẽ không bao giờ chúng lại được gặp ông ta nữa .
Cả gia đình nghỉ ngơi buổi chiều, rồi ông Ngọc-Quang dẫn mọi người xuống bờ hồ để gặp những người thuyền chài mà nhiệm vụ lúc này đã kết thúc. Trong khi chờ đợi chủ nhân, họ đã thả câu và bắt được một con cá rất lớn .
Họ niềm nở nói:
- Con cá này, chúng tôi xin biếu ông bà để mừng ngày trở về của các em nhỏ!
Cả gia đình lại trở về lều sớm, vì mấy đứa nhỏ hãy còn mệt. Mọi người đang tụ tập trước cửa lều bỗng bà Ngọc-Quang hỏi:
- Có ai nghe thấy tiếng gì không? Hình như có người lên đồi thì phải. Ai vậy?
- Có lẽ một người thuyền chài - Việt đáp .
- Không phải vậy đâu, có lẽ là …
Vừa nói tới đây, ông Ngọc-Quang bỗng im bặt vì tiếng một người thở hồng hộc mới hiện ra. Hắn để đầu trần, tay xách cây súng .
- Y Blơm! - Việt reo lên rồi chạy ra đón .
Hằng và bé Tâm cũng chạy ra theo. Tên tướng cướp hình như bị xúc động mạnh.
- Cảnh sát, hắn nói, họ đuổi theo ta - Họ đã bao vây ngọn đồi - Ta không may đã gặp họ ở gần quận lỵ và họ theo ta tới đây. Và với cây súng này, không thể nào cản bước họ được .
Trông thấy người đã cứu con bà đang bị bao vây như con thú dữ, bà Ngọc-Quang thấy tức giận lắm. Bà lay cánh tay ông chồng và nhìn ông với đôi mắt van lơn. Ông Ngọc-Quang hiểu ý bèn đứng dậy và tiến ra gặp tướng cướp .
- Ông nên vào ẩn tạm trong lều chúng tôi. Cảnh sát sẽ không dám vào lùng xét đâu. Lẹ lên, kẻo họ tới .
Y Blơm do dự một lát rồi nhìn những đứa trẻ .
- Vô đi ông, vô đi! - Hằng chắp tay khẩn khoản nói .
Y Blơm lẩn vào lều. Cả gia đình ông Ngọc-Quang đứng án ngữ ngoài cửa lều . Vừa kịp, vì ngay lúc đó một cảnh sát viên đã xuất hiện ở bụi rậm gần đấy .
Một lát sau, viên Đại úy cũng tiến về phiá lều, theo sau có 6 cảnh sát viên .
Trông thấy những đứa trẻ, ông ta chau mày nói:
- A đây rồi, những đứa trẻ đã bất lịch sự trốn ta hồi sáng! Nhưng hãy tạm để chúng đó. Bây giờ chúng ta còn việc khác. Thưa ông, một người vừa tới đây!
Ông Ngọc-Quang không đáp. Chính ông cũng thấy ác cảm trước thái độ vừa rồi .
- Ông không đáp hay sao? - Viên Đại úy gằn giọng .
- Thưa ông muốn tôi phải nói gì ạ? Tôi có thể đưa giấy tờ để ông coi một lần nữa nếu ông muốn .
- Ông nhạo tôi phải không? - Cảnh sát viên, vào lục soát trong lều này cho ta!
Hằng thấy trống ngực đập thình thình. Nhưng ông Ngọc-Quang giơ tay nói:
- Thưa ông, cái lều này là nhà của tôi, ông không có quyền xâm phạm nếu không có lịnh của tòa án .
- Không có quyền? - Ông lại nói chuyện quyền với tôi à? Rõ là cha nào con ấy!
Ông Ngọc-Quang tái mặt đi. Bà Ngọc-Quang ôm lấy bé Tâm và Hằng đứng án ngữ ngoài cửa lều. Các cảnh sát viên đứng vây chung quanh. Trông dáng điệu của họ, người ta nhận thấy họ không tán đồng thái độ của cấp chỉ huy. Nhưng họ không có quyền can thiệp. Viên đại úy mỗi lúc mặt đỏ thêm. Ông vung cây súng trường lên nạt:
- Để ta đi qua! Nếu không …
- Tôi không quen nhượng bộ trước sự dọa nạt - ông Ngọc-Quang đáp .
Viên Đại úy xông tới .
Bà Ngọc-Quang kêu thét lên. Như một con quỉ từ đáy hộp lò xo bật lên, tên tướng cướp bỗng hiện ra cửa lều .
- Y Blơm! - Một cảnh sát viên kêu lên .
Viên Đại úy cười ngạo nghễ .
- Hà hà hà! Ta biết là phải tóm được mi mà! Lần này mi đừng có hòng thoát nữa nhé! Dù chết hay sống, ta cũng phải điệu mi về quận lỵ .
Đảo mắt nhìn quanh. Y Blơm thu hình lại thủ thế. Với đôi mắt sáng chói như hai tia lửa, trên nét mặt gân guốc đen sạm và đôi môi nhếch lên, trông hắn như một con mãnh thú bị vây sắp nhẩy chồm vào địch thủ .
- Bắn! Viên Đại úy ra lệnh cho thuộc hạ. Bắn đi chứ, còn đợi gì nữa?
Bọn cảnh sát như bị tê liệt vì kinh ngạc. Những con mắt của họ đều dán vào tên tướng cướp như bị thôi miên .
Y Blơm thấy đã đến lúc hành động, hắn phác một cử động. Thấy vậy, viên Đại úy sợ thoát miếng mồi ngon, bèn dơ súng lên ngắm và bóp cò .
Viên đạn nổ vang ở phía rừng. Sự gì đã xẩy ra? Việt … Phải, Việt khi thấy tính mạng của bạn mình bị đe dọa, đã nhẩy xông vào giữa hắn và viên Đại úy. Ông này chỉ kịp, trong một tích tắc đồng hồ, chếch mũi súng lên và viên đạn bay qua nóc lều vào trong rừng .
Nhanh như chớp, Y Blơm nhảy vọt ra, xô hai cảnh sát viên ngã lăn xuống đất, rồi chạy biến vào rừng mất dạng .
- Bắt lấy nó, viên Đại úy hét to. Các anh phải đền tội nếu để nó chạy thoát!
Lúc này, các cảnh sát viên bớt kinh ngạc vội đuổi theo tên tướng cướp, trong khi bà Ngọc-Quang mặt tái xanh và run rẩy ôm lấy Việt .
Viên Đại úy tiến lại gần thằng nhỏ:
- Thằng nhỏ này sẽ phải đền tội! - ông vừa nói vừa giơ quả đấm lên dọa dẫm - Mày phải theo tao về trại giam ở quận lỵ ngay bây giờ .
- Xin lỗi ông - ông Ngọc-Quang lạnh lùng đáp - Thằng này là con tôi, và tôi chịu trách nhiệm về những hành vi của nó. Bây giờ nó cần phải ngủ yên suốt đêm nay .
- Ông lại muốn trốn tránh pháp luật chăng?
- Thưa, không bao giờ; tôi sẽ đích thân đi theo ông nếu cần, và tôi sẵn sàng trả lời trước quan tòa .
- Tôi sẽ lập phúc trình cho coi! Tôi sẽ nói rằng ông đồng lõa với tên Y Blơm, rằng ông tán trợ những tội ác của nó!
- Ông muốn nói gì xin tùy ý; tôi sẽ dành quyền tái lập sự thật .
Viên Đại úy không thể đi khỏi chỗ này, vì còn phải đợi các cảnh sát viên trở về . Nhưng để tỏ vẻ cừu hận với gia đình này, ông ra ngồi thật xa trên một hòn đá, quay lưng trở lại .
Một lát sau, những cảnh sát viên trở về. Họ lắc đầu không tìm thấy Y Blơm. Ông Đại úy hăm doạ sẽ trừng phạt họ rất nặng. Ông để lại ba cảnh sát viên để gia đình “gian phi” này khỏi trốn thoát và kéo ba nhân viên kia đi .
Việt rất hài lòng, vì trong số ba nhân viên còn lại, có ông lúc sáng đã đề nghị đưa chúng về. Nó kể lại sự việc với ông Ngọc-Quang, ông liền ra bắt tay ông cảnh sát và ngỏ lời cám ơn những thiện ý của ông ta .
- Tôi cũng là chủ gia đình - ông cảnh sát đáp - Tôi có ba đứa con từ tám tuổi đến mười hai tuổi, tôi hiểu tôi sẽ cảm thấy gì nếu chúng gặp phải trường hợp tương tự .
Rồi ông ta đưa ảnh các con cho mọi người xem, các nhân viên khác cũng vậy, một không khí đằm thắm cởi mở đã tới với mọi người. Bà Ngọc-Quang bèn mời ba ông cảnh sát dùng cơm với gia đình: Con cá lớn mà những người thuyền chài đã tặng sẽ thừa sức cho tám người ăn .
Các cảnh sát viên rất vui vẻ nhận lời. Họ không giận gì hành động của Việt mà nhờ đó Y Blơm đã trốn thoát. Trái lại, họ còn khen ngợi thằng nhỏ đã liều mình cứu bạn.
- Khi có thể làm được một việc như thế - ông thứ nhất nói - thì không phải là một thiếu nhi nữa mà là một người lớn rồi !
- Hy sinh cho tình bằng hữu, đó là một điều cao đẹp nhất trên đời - Ông thứ hai phụ hoạ .
Ông thứ ba diễn tả một câu mà họ cho là câu khen ngợi tuyệt tác nhất :
- Cậu nhỏ này xứng đáng là con rồng cháu tiên!
Trong bữa cơm, dĩ nhiên, mọi người đã nói rất nhiều về Y Blơm .
- Tôi biết rõ hắn ta lắm, một cảnh sát viên kể. Thưa ông, đó là một công dân tốt, một người con hiếu thảo, một người làm việc rất giỏi … Ông chưa thấy những cái tượng mà hắn sáng tác ra để bà mẹ mang đi bán .
- Bức tượng bằng gỗ mà hắn đã khắc cho bé Tâm - bà Ngọc Quang nói - tôi dám chắc sẽ được hoan nghênh ngay tại thủ đô Sàigòn .
- Mặc dầu lời đồn đại của thiên hạ - ông cảnh sát nói tiếp - tôi biết rõ hắn nên tôi không tin là hắn đã giết người . Địch thủ của hắn đã bị giết, đúng, nhưng dân chúng trong buôn đã xác nhận với tôi rằng tên đó đã tấn công trước và Y Blơm đã ở tư thế tự vệ chánh đáng. Khốn thay, vì lòng tự kiêu, Y Blơm chẳng muốn giải thích và đã trốn vào rừng .
- Nhưng sau đó - ông Ngọc Quang hỏi - hắn có phạm vào tội ác nào khác nữa không?
- Không bao giờ! Nếu một đôi khi hắn có bắt những người đã bóc lột dân nghèo phải hoàn lại số tiền, thì chẳng ai chê trách gì hắn cả, trái lại! Không ai có thể nói rằng Y Blơm đã hành tội ai mà không xứng đáng .
- Thưa ông, chính Y Blơm cũng nói thế - Việt vừa nói vừa rất hài lòng vì thấy các ông cảnh sát cũng có cảm tình với Y Blơm .
- Thưa ông, chắc ông hiểu rằng, một ông cảnh sát khác nói, tại sao chúng tôi không muốn hạ người đó như một con thú rừng! Nếu chúng tôi bắt hắn, ấy là để hắn được xét xử theo luật pháp: chúng tôi chắc chắn, rằng hắn sẽ được tha bổng. Và ai mà nói xấu hắn thì sẽ coi chừng chúng tôi!
- Tôi rất khen ngợi quý vị - ông Ngọc Quang nói - Nhưng ông Đại úy lại nghĩ khác, có phải không?
- Ông ấy không phải là người ở đây nên không hiểu rõ vấn đề của Y Blơm .

Chương 12

Chương 12
Ba đứa trẻ lại bắt đầu đi theo lối bờ hồ để tiến về chỗ ba má cắm trại. Cho tới chỗ mà Y Blơm đã từ giã chúng, đường đất không có gì khó khăn nên Hằng thừa dịp hỏi anh:
- Anh Việt, anh biết rõ chuyện đó từ bao lâu rồi?
- À, anh biết từ bữa đầu, khi chúng ta đi tới nhà người đốt than và hắn đã lấy tiền của người chủ trại .
- Thế không phải người chủ trại tự nguyện đưa cho “hắn” hay sao?
- Không, người đó biết rõ hắn là Y Blơm nên sợ mà phải đưa .
- Khi anh đã biết rồi, anh không sợ hay sao?
- Có chứ, anh lo sợ lắm, nhưng chẳng bao lâu anh hết sợ. Vì hắn đã tốt với chúng ta quá: hắn đã cứu chúng ta khỏi tay dân làng. Nếu em biết rõ thì em có sợ không?
- Sợ chứ, nhưng anh Việt này, tại sao ông Ê Ban là người tốt như thế, mà lại có thể là tướng cướp Y Blơm được?
- Anh hiểu rõ điều đó lắm. Ba năm trước đây, Y Blơm có giết một người .
- Ủa thật à? - Hằng kêu lên với vẻ sợ hãi .
- Phải, nhưng hắn không định tâm, hắn ở trong tình trạng tự vệ. Tuy nhiên, chẳng ai hiểu rõ sự thật cả; vì vậy cảnh sát mới truy lùng hắn. Để tránh cảnh lao tù, hắn bèn trốn vào rừng. Từ ngày đó, hắn không thể sống như mọi người. Dân chúng bắt đầu thấy sợ hắn, rồi phao đồn đủ thứ chuyện .
- Nhưng các chuyện họ phao đồn đều không đúng, phải không anh?
- Không đúng! Hắn chỉ dùng cái tiếng tăm mà người ta gán cho hắn, để làm cho những người giàu bất chánh phải sợ hãi mà hoàn trả số tiền bóc lột của người nghèo một cách phi nghĩa .
- Như thế đâu phải là những hành vi trộm cướp?
- Em nói đúng. Đáng lẽ phải gọi việc làm đó là “Thế Thiên Hành Đạo” mới phải? Em có nhớ những tay giang hồ hiệp khách ngày xưa không thế? Cũng vậy đó .
- Có chư, có chứ, em phục lắm. Nhưng Y Blơm có sung sướng không anh?
- Hắn khổ, hắn rất khổ! - Em còn nhớ không, cái buổi tối mà anh đi cùng hắn là để tới cái buôn mà mẹ hắn đang ở. Bà cụ vừa già vừa đau; hắn muốn về thăm bà cụ. Anh đã tới nhà bà giữa đêm khuya để thông tin cho bà biết .
Hằng nhìn anh, giọng thán phục:
- Anh đã làm được việc đó à?
- Phải anh có thể làm nhiều hơn thế nữa! Nếu hắn yêu cầu! Nhưng bà mẹ hắn bảo anh không nên để cho hắn đến. Trong khi anh còn ở đó, tên hàng xóm đã rình mò. Bà cụ nói rằng nếu hắn tới thì thế nào cũng bị bắt. Và nếu người ta bỏ tù hắn, ba ta sẽ chết .
- Vậy hắn đã phải bỏ đi, không thăm được mẹ sao?
Việt gật đầu; Hằng nghẹn ngào hỏi:
- Tội nghiệp quá, anh có thể tưởng tượng khi chúng ta không gặp được má không?
- Nhưng chúng ta sắp gặp má phải không? - Bé Tâm nói xen vào.
- Phải, và không bao lâu nữa, chị hy vọng như thế .
Ba đứa trẻ cứ lần theo bờ hồ mà đi mãi .
Bỗng nhiên, chúng reo mừng khi trông thấy đằng xa một vết trắng dưới ánh mặt trời .
- Đó là chiếc lều của chúng ta! - Hằng kêu lên - Anh Việt ơi, chúng mình chạy lên, chạy mau lên! Chắc má đang đợi chúng ta ở đó!

Comment

Translate