26/8/12

2. ĐỨC TIN MONG ĐỢI

2. ĐỨC TIN MONG ĐỢI

Ba mươi ba năm trong sứ vụ chữa bệnh, tôi khám phá ra ba kẻ thù đã khiến cho việc cầu nguyện không được đáp trả. Kẻ thù thứ nhất là hoài nghi và bất tín. Kẻ thù thứ hai là thiếu sự tha thứ với tha nhân trong đời sống và kẻ thù thứ ba là không thuộc về Thân Mình Chúa Kitô hoàn toàn. Trong chương này, tôi sẽ nói về sự hoài nghi và bất tín. Khi chúng ta đến với Thiên Chúa trong lúc cầu nguyện. Người muốn chúng ta đến với Người bằng một đức tin thơ trẻ, một đức tin thiết tha mong đợi để lãnh nhận những gì chúng ta cầu xin. Tôi gọi loại đức tin này là “đức tin mong đợi”. Hãy cho tôi chia sẻ một hai hai câu chuyện với các bạn về những gì Thiên Chúa đã dạy tôi phải tin vào Người với “đức tin mong đợi” thế nào.
Như một mục sư mở đường, tôi không có bất cứ sự ủng hộ tài chính nào. Không những tôi phải cung cấp những nhu cầu cần thiết cho gia đình tôi mà tôi còn phải trả tiền thuê toà nhà chúng tôi dùng làm nhà thờ. Để trả cho tất cả những chi phí này, tôi phải tiếp tục lái xe tải như là nghề chính trong việc mục vụ cho ngôi nhà thờ đầu tiên của tôi ở Vista, bang California. Tôi lái một chiếc xe tải được gọi là xe chuyển hàng, cơ bản là một xe đổ rác. Một buổi sáng trời mưa và lạnh, trước khi mọi người đến nơi làm việc, thì tôi đã đổ chuyến hàng đầu tiên của tôi trong bóng đêm. Một đống cát không thể di chuyển đang nằm trước mũi thùng xe đổ rác khiến tôi giật mạnh cái nắp sau bốc dở hàng của xe tải để thoát khỏi đống cát. Khi tôi giật mạnh cái nắp, tay áo của tôi vướng vào một góc thùng xe khiến cánh tay trái tôi lãnh đủ cái nắp nặng ba trăm pound đập mạnh xuống, khỏi cần nói các bạn cũng biết, cánh tay tôi bị gãy.
Khi đó tôi không thể làm gì được, tôi quyết định đi trở lại chỗ chứa hàng để chở xe hàng khác. Khi tôi lái chiếc xe tới chỗ chứa hàng với cánh tay bị gãy, tôi bắt đầu cầu nguyện:
– Lạy Chúa, con xin cá mà sao Chúa cho con rắn.
Tôi đã cầu nguyện với một đức tin mong đợi. Tôi nói với Chúa rằng, tôi muốn Chúa minh chứng để có thể tin vào Người bất cứ sự gì. Chúa nói với tôi:
– Bob, không phải con dễ dàng cầu nguyện cho người khác lắm mà? Bây giờ, với một tí đau đớn con hiện có, con có tin rằng Ta sẽ chữa lành cánh tay gãy của con không?
Tôi nói:
– Vâng, lạy Chúa, con tin.
Tôi cầm tay lái bằng cánh tay gãy và đặt tay kia lên trên nó, rồi nói:
– Hãy lành mạnh nhân danh Chúa Giêsu.
Ngay lập tức, tôi cảm thấy Thiên Chúa làm liền lại khúc xương gãy nơi cánh tay tôi và mọi đau đớn và các hệ luỵ của việc gãy xương lập tức biến mất. Khi các bạn đau đớn hoặc ốm bệnh, các bạn sẽ nhận thấy, nếu các bạn chưa sẵn sàng, một trong những điều khó nhất để thực hiện là tin những nhu cầu của các bạn sẽ được ban cho. Nhưng điều đó vẫn có thể thực hiện được, các bạn hãy đến với Chúa bằng đức tin mong đợi.
Năm 1973 Thiên Chúa đã dạy tôi một bài học rất giá trị về “đức tin mong đợi”. Vào một buổi sáng tháng tư, khoảng độ mười giờ, tôi đang đọc kinh Thần Vụ thì nghe tiếng Chúa nói trong lòng tôi:
– Bob, Ta sẽ gởi con tới Indonesia.
Tôi nói:
– Lạy Chúa, tại sao không ở nơi nào khác mà lại gởi con tới Indonesia?
Chúa nói với tôi:
– Bob, Ta muốn bày tỏ cho con một điều ở đó, Ta muốn dạy con một điều mà con sẽ không bao giờ có cơ hội như thế nữa.
Tôi thưa lại:
– Vâng, lạy Chúa, nếu Chúa muốn con đi tới Indonesia thì con sẽ đi nhưng con đi tới đó bắng cái gì đây? Chúa biết đó, con chẳng có tiền mà nhà thờ của con cũng thế, vấn đề tiền bạc sẽ lấy đâu ra?
Liền ngay khi tôi vừa nói xong những lời trên thì chuông điện thoại reo vang:
– Hello, có phải mục sư Rice ở đầu dây không? Emily K đây. Ông có thể đi đến sở làm một lúc được không? Tôi sẽ đến gặp ông trong vài phút nữa.
Tôi nói với cô ta rằng tôi ở đó suốt buổi sáng.
Khoảng bốn mươi lăm phút sau, cô ta gõ cửa văn phòng tôi đang làm việc. Tôi mời cô vào và mời ngồi. Sau vài phút nói chuyện qua lại như thường lệ, cô trao cho tôi một tấm ngân phiếu và nói:
– Chúa nói với tôi mang cái này đến cho ông, cho cá nhân ông chứ không phải cho nhà thờ. Chúa đã nói ông làm điều gì đó và số tiền này dành cho mục đích đó.
Tôi lặng người khi thấy số tiền ghi trên tấm ngân phiếu. Tôi cố giữ vẻ bình thản và đặt tấm ngân phiếu lên bàn giấy và cám ơn cô ta. Khi tôi nói với cô về những gì Thiên Chúa đã nói với tôi trong buổi cầu nguyện sáng nay. Cô ta nói:
– Thật đúng lúc, ngợi khen Chúa, thật đúng lúc!
Ngay khi cô vừa về, tôi liền đến bên bàn xem tờ ngân phiếu; đó là tờ ngân phiếu năm trăm đôla.
Trưa hôm đó, tôi kể chuyện này với một người bạn thân, ông ấy cũng là một thành viên nơi nhà thờ của tôi, về chuyện bà K đã đem cho tôi tờ ngân phiếu năm trăm đôla. Ông hỏi tôi có nghe nói về Mel Tori và cuốn sách Giống như ngọn gió quyền năng chưa? Tôi nói với ông rằng chưa hề nghe đến tên tác giả này bao giờ. Ông đã nói với tôi về một cuộc phục hồi kỳ diệu đang diễn ra ở Indonesia và cuốn sách của Mel nói về cuộc phục hồi đó. Ông nói với tôi rằng Mel đang giảng vào ban đêm tại nhà thờ phái Baptist phía Bắc Hollywood. Ông hỏi tôi có thích chạy lên Bắc Hollywood để nghe lời chứng của Mel và những gì đang xảy ra ở Indonesia không? Tôi nói với ông đó là một ý kiến rất hay. Thế là chúng tôi cùng một số bạn bè đi nghe Mel chia sẻ tối hôm đó.
Sau phần chia sẻ của mình, Mekl đi quanh bắt tay mọi người. Tôi tiến lại gặp ông và bày tỏ sự thích thú của tôi với bài chia sẻ vừa rồi của ông. Tôi vừa bắt tay ông vừa nói:
– Chào Mel, tôi là Bob Rice.
Ông nói:
– À! Anh Bob Rice, khi nào anh đến nước tôi?
Tôi cảm thấy lạnh người vì tôi chưa hề nói cho ông biết tên và ý định của tôi nữa. Tôi nói với ông, tôi định đáp máy bay vào tháng sáu. Ông nói:
– Được rồi, anh nên viết thư cho họ để họ trở về nhà vì họ đang đợi anh trong tháng năm, nên anh không đến trong tháng năm họ sẽ lo lắng đấy.
Tôi nói:
– Hay tôi đi ngay tháng năm có được không?
Ông yêu cầu tôi gặp ông vào tối thứ năm. Lý do ông muốn gawpjtooi là đưa cho tôi ba bức thư. Chúa không nói bao giờ tôi đi? Tất cả những gì ông nói với tôi là Indonesia. Mel là người nói với tôi sẽ đi đến nơi nào. Tôi được trông đợi ở làng Soe, Indonesia.
Ngày hôm sau, tôi đi tới một nhân viên chuyên về dịch vụ du lịch để hỏi giá một vé khứ hồi tới Kupang. Indonesia, là phi trường gần làng Soe nhất. Người nhân viên du lịch cho biết giá vé máy bay đến và khứ hồi là một ngàn ba trăm đôla. Lúc này, tôi chỉ mới có năm trăm đôla mà bà K đã biếu tôi. Người nhân viên hỏi tôi có muốn lấy vé máy bay không? Tôi trả lời là mình không có đủ tiền. Cô nói được rồi, ông sẽ không có đủ tiền cho tới khi anh sẵn sàng ra đi. Tôi nói:
– Tôi làm gì để có đủ tiền trong thời gian đó?
Cô nói:
– Đừng lo lắng về chuyện đó.
Tất cả những gì tôi phải làm là đóng dấu vé. Tôi nói:
– Đến lúc đi nếu tôi không đủ tiền có quê không? Thôi được rồi hãy cho tôi một vé.
Tự nhiên trong tâm trí tôi hiện lên con số mười bảy tháng năm. Khi người nhân viên hỏi tôi muốn đi vào lúc nào. Tôi nói:
– Thật sự tôi không biết bởi vì tôi chưa có đủ tiền.
Vì thế, tôi nói với cô để trống mục ngày tháng để tôi có thể thay đổi hoặc huỷ bỏ nếu cần. Cô nói:
– Còn ngày 17 tháng năm vang lên trong anh thì sao?
Cô nói chính xác ngày tháng có trong tâm trí tôi. Như thế, cô đã đăng ký vé máy bay của tôi ngày 17 tháng 5 năm 1973. Khi cô đã đăng ký chuyến bay, cô gởi visa và passport đi chứng thực và cô nói chỉ có thể lấy được vào hai tuần sau. Nếu tôi không đi cũng không có thiệt hại gì. Thế mà chỉ ba ngày sau, cô gọi điện tới văn phòng của tôi thông báo visa và passport của tôi đã sẵn sàng. Cô chưa bao giờ thấy một passport đi và trở lại trong ba ngày như thế.
Hai ngày sau, một mục sư vùng Losangles gọi điện thoại nhờ tôi chủ toạ một buổi chia sẻ chữa bệnh nơi nhà thờ của ông. Chúng tôi dàn xếp với nhau để tôi có thể đến vào tối thứ tư kế đó. Sau khi tôi giảng xong tối hôm đó, vị mục sư trao cho tôi một phong bì nhỏ, tôi không để ý lắm, tôi nhét nó vào túi và cám ơn vị mục sư. Đến tối, khi về đến nhà tôi đã quá mệt mỏi nhưng tôi không còn thấy mệt khi thấy ân phúc Chúa ban xuống trên tôi, tôi không còn tin vào mắt mình nữa, số tiền trong phong bì của vị mục sư gồm có tám trăm đôla. Tám trăm đôla này cộng với năm trăm đôla trước tôi đã nhận của bà K là số tiền tôi cần cho chiếc vé máy bay của tôi. Ngợi khen Chúa!
Ngày 17 tháng 5 đã đến, tôi sẵn sàng để đến Indonesia. Tuy nhiên, tôi chỉ nhận được có tám mươi đôla cho cuộc hành trình. Verma, vợ của tôi hỏi:
– Anh nghĩ thế nào mà làm một hành trình gần nửa vòng trái đất, dài ba tuần lễ mà trong túi chỉ có tám mươi đôla thôi sao?
Tôi bảo vợ tôi rằng cuộc hành trình này là ý của Thiên Chúa chứ không phải của tôi nên Người sẽ quan phòng tất cả. Một người anh em cũng tên Bob chở tôi tới phi trường cho tôi thêm hai mươi đôla nữa. Tôi lên máy bay trong túi tôi có tất cả là một trăm đôla. Ở phi trường, tôi được cho biết chuyến bay của tôi sẽ bay theo con đường Anchorage, bang Alaska thay vì bay theo đường Honolulu, bang Hawaii. Điều này làm tôi hơi bối rối, vì Chúa đã nói với tôi rằng tôi sẽ giảng ở Hawaii lúc trở về. Tôi dự định gọi cho một mục sư bạn để xếp đặt những buổi giảng tại nhà thờ của ông khi tối đến Honolulu.
Đang lúc chờ đợi máy bay cất cánh. Tôi trao đổi vài câu chuyện với một hành khách cũng đang chờ cùng chuyến bay. Tôi đang kể cho bà ta vì sao tôi đi chuyến bay này. Bà ta phàn nàn rằng Thiên Chúa của tôi thật sự đã đổi lịch trình của chuyến bay bởi vì chuyến bay này luôn luôn bay theo đường Anchorage Alaska bởi vì hành trình đó ngắn hơn đường bay Honolulu bốn tiếng đồng hồ. Bà không nói nên lời khi tin báo trên bảng đèn “Những người đi chuyến bay này vui lòng trở lại quầy vé? Chuyến bay vừa có sự thay đổi, bây giờ các bạn sẽ bay theo con đường Honolulu.” Tôi nhìn người bạn đồng hành và mỉm cười.
Khi tôi đến Dempasa, tôi đưa lá thư thứ nhất của Mel cho người tài xé taxi và nói với tài xế tôi muốn tới địa chỉ ghi trên bì thư. Địa chỉ trên bức thư là một trong những người bạn của Mel đang sống ở Dempasa, sẽ giúp tôi đến nơi tôi được trông đợi. Người tái xế taxi dẫn tôi tới một ngôi nhà, tôi liền đưa bức thư của Mel cho những người bạn của Mel. Họ để tôi ngủ lại một đêm và sáng hôm sau họ dẫn tôi lên máy bay để tới Kupang. Tôi đến phi trường Kupang, tôi đưa lá thư thứ hai của Mel cho một tài xế taxi khác để anh chở tôi tới những người bạn của Mel ở Kupang. Tôi ở lại với những người này độ hai ngày trong khi họ tìm thuê một chiếc xe Jeep để chở tôi tới làng Soe, nơi đã chỉ định cho tôi ở Indonesia. Tôi đến làng Soe, thành phố quê hương của Mel vào lúc mười một giờ đêm và trao cho người đón tôi, lá thư cuối cùng của Mel. Sau khi người đó đọc xong, ông đưa tôi về nhà và tôi được tiếp đón nơi nhà của ông. Mel đã yêu cầu ông giúp đỡ tôi khi tôi ở Soe. Chúng tôi hỏi thăm nhau vài phút rồi sau đó tôi đi ngủ. Ở đó ngày rất dài.
Tám giờ sáng hôm sau, một bà gõ cửa phòng khách và hỏi:
– Có một người ngoại quốc đến từ Mỹ đang ở trong nhà các bạn phải không? Tôi có mấy lời của Thiên Chúa chuyển cho ông ấy.
Sau đó, người ta kể cho tôi hay bà ấy đã đi bộ mười lăm dặm đường rừng trong đếm tối, để đến ngôi nhà nơi tôi đang cư ngụ. Họ triệu tập những người lớn tuổi trong Giáo hội lại và chúng tôi có một cuộc họp mặt khoảng bốn mươi lăm phút. Người đàn bà bắt đầu nói và họ phiên dịch ra Anh ngữ để tôi có thể hiểu được những gì bà nói. Đó là một sứ điệp cá nhân mà Thiên Chúa muốn nói với tôi về sứ vụ của tôi. Đó là một vấn đề mà tôi không chấp nhận. Tuy nhiên, Thiên Chúa xâm chiếm hoàn toàn tâm trí tôi bởi đã dẫn tôi qua nửa vòng trái đất và đã khiến người đàn bà này đi mười lăm dặm xuyên qua rừng rậm trong đêm tối đến nơi tôi ở, để đưa cho tôi một sứ điệp. Tôi ở lại làng Soe khoảng một tuần và sau đó trở lại Kupang.
Lúc đến Kupang tôi đã giảng nơi nhà thờ địa phương trong một buổi chia sẻ tối Chủ nhật. Trong buổi chia sẻ tối hôm đó, chúng tôi đã chứng kiến nhiều cuộc lành bệnh. Sáng hôm sau, một số tiếng ồn vang lên ở bếp đã đánh thức tôi. Tôi thức dậy đi vệ sinh và sau đó đi qua nhà bếp. Nhiều người đang ngồi trong nhà bếp, tôi lấy làm lạ vì chỉ mới năm giờ sáng. Những người này không được tham dự buổi chia sẻ chữa bệnh tối hôm qua, nhưng họ đã nghe nói về một người của Thiên Chúa cầu nguyện cho bệnh nhân và nhiều người được lành bệnh. Họ muốn biết chuyện đó thực hư thế nào trước khi quá trễ và muốn để cho người của Thiên Chúa cầu nguyện cho họ nữa. Các bạn có thấy tình con thảo và đức tin mong đợi của những người này không? Điều làm tôi kinh ngạc nhất trong lúc tôi ở Indonesia là sự việc diễn ra lúc năm giờ sáng thứ hai. Một người phụ nữ với những vết thương dị dạng trên khắp mình mẩy. Tôi là người không quan tâm đến bên ngoài quá mà phải công nhận là cô ta thật quá xấu dạng. Cô tiến đến bên tôi và nói điều gì đó bằng thổ ngữ địa phương, những người khác đã cắt nghĩa cho tôi rằng cô muốn biết tôi có cầu nguyện cho cô ta không? Và liệu Thiên Chúa có chữa cô lành sạch khỏi chứng bệnh này không? Tôi đáp:
– Dĩ nhiên tôi sẽ cầu nguyện cho cô. Và đây là lý do mà Thiên Chúa đã gởi tôi đến chốn này.
Người muốn tôi nhìn thấy đức tin thơ thảo của những người này. Khi tôi đang cầu nguyện cho cô ta, một điều kinh ngạc đã bắt đầu xảy ra. Tôi không biết phải cắt nghĩa thế nào về điều đó, da của cô ta bắt đầu sủi bọt, trông giống như người nào đó đổ oxy già lên những vết thương của cô ta. Trong khoảng năm phút, sau đó chúng tôi không còn thấy bất cứ dấu vết nào của những vết thương xấu dạng ấy nữa. Tôi không thể nói với các bạn rằng đức tin của các bạn sẽ thế nào khi chứng kiến những điều như thế xảy ra ngay trước mắt bạn. Tôi lưu lại ở Kupang vài ngày và sau đó bắt đầu hành trình trở về nhà. Tôi dừng chân tại Honolulu và giảng tại một buổi chia sẻ vào tối Chúa Nhật do một người bạn của tôi đang coi một nhà thờ ở Aiea, Hawaii tổ chức. Anh Arnold của tôi đóng quân ở đó trong binh đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ. Tôi lưu lại với hai vợ chồng anh Arnold đêm hôm đó. Sáng hôm sau tôi đáp máy bay đến An Diego, bang California. Trong lúc đang chờ xe bus để đi đến bờ biển California, tôi uống một tách cà phê và kiểm lại tiền bạc. Tôi kinh ngạc khi thấy tôi vẫn còn nguyên một trăm đôla mà tôi đã đi Indonesia và sáu đôla nữa. Tại sao tôi lại có thêm sáu đôla nữa? Vì trong suốt thời gian ở Indonesia, không có ai cho tôi đồng nào. Các bạn nói thử coi sáu đôla này từ đâu đến? Có phải câu chuyện “năm chiếc bánh và hai con cá” hiện đến trong tâm trí tôi? Đúng lúc đó Chúa nói:
– Ta muốn dạy con một điều để khi điều đó xảy ra, con đừng bao giờ lập lại như vậy nữa.
Ngày ấy, tôi đã khám phá ra đức tin thơ thảo và đức tin mong đợi mà Người muốn cho tất cả chúng ta có.
Thiên Chúa không muốn chúng ta bị giao động, nghi ngờ, như thư thánh Giacôbê đoạn 1 từ câu 6-8:
“Nhưng người ấy phải cầu xin với lòng tin không chút do dự vì kẻ do dự thì giống như sóng biển bị gió đẩy lên vật xuống. Người ấy đừng tưởng mình sẽ nhận được cái gì của Chúa, họ là kẻ hai lòng, hay thay đổi trong mọi việc họ làm”.
Và thư thứ nhất của thánh Gioan, đoạn 5 từ câu 14-15 cũng nói:
“Lý do khiến chúng ta được mạnh dạn trước mặt Thiên Chúa, đó là: Người nhận lời chúng ta khi chúng ta xin điều gì hợp ý Người”.
Nếu chúng ta biết rằng, chúng ta sẽ được những gì chúng ta đã xin Người. Phúc Âm của thánh Luca đoạn 18 câu 27 cũng ghi lại lời Chúa Giêsu:
“Những gì không thể được đối với loài người thì đều có thể được đối với Thiên Chúa”.
Trong Phúc Âm thánh Máccô đoạn 11 câu 22-24 ghi lại lời Chúa Giêsu:
“Các con hãy tin vào Thiên Chúa. Thầy bảo thật các con, nếu có ai nói với núi này: ‘dời chỗ đi, nhào xuống biển’ mà trong lòng chẳng nghi nan, nhưng tin rằng điều mình nói sẽ xảy ra thì điều ấy sẽ được ban cho. Vì thế Thầy nói với các con: tất cả những gì các con cầu nguyện và xin, các con cứ tin là mình đã được rồi thì sẽ được như ý”.
Như vậy hãy tin vào Người (Đức Giêsu Kitô) và biết rằng Người nhận lời chúng ta khi chúng ta xin điều gì hợp ý Người. Đừng đến với Người bằng một tấm lòng nghi hoặc, nhưng hãy đến với Người bằng một đức tin mong đợi và biết rằng chúng ta sẽ được những gì chúng ta đã xin Người.
Tác giả: Dr. Bob Rice

1. LẠY CHÚA, NÀY CON ĐÂY, XIN HÃY DÙNG CON

Bắt đầu từ tháng 6 năm 1967, tôi đã lập sáu nhà thờ Tin Lành. Tôi đi vào một vùng đất mới, bắt đầu xây dựng một nhà thờ và làm mục sư ở đó cho đến khi có thể chuyển giao cho một mục sư khác. Sau đó, tôi lại đến một nơi khác và lại bắt đầu xây dựng một nhà thờ khác. Bởi vì Thiên Chúa đã chúc phúc cho tôi với một sứ vụ cầu nguyện cho bệnh nhân, nhiều người đã gán cho tôi cái tên “Tông đồ chữa bệnh”. Giữ việc phục vụ chữa bệnh ở bảy quốc gia khác nhau, tôi thấy Thiên Chúa chữa lành hàng trăm người nếu không nói là hàng ngàn người với đủ mọi loại đau ốm và bệnh tât. Tuy nhiên, cuộc đời tôi đã bắt đầu nợi một cộng đoàn nông trại được gọi là Warrenville, bang Illinois, cách Chicago về hướng Tây Nam ba mươi tám dặm. Lúc tôi được tám tuổi, trong một ngày nghỉ của trường Thánh Kinh Cộng đoàn Giáo hội Baptist Warrenville, tôi được đưa đến học biết Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ của tôi và đã chịu phép rửa ở đấy. Tôi đã sống một đời sống kitô hữu gương mẫu. Nói cách khác, tôi không bao giờ đọc Thánh Kinh, cũng như không cầu nguyện bao giờ. Tôi chỉ đi nhà thờ khi mẹ tôi bảo đi.
Sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học vào năm 1959, tôi trải qua bốn năm trong Quân Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến, tôi đã gặp và kết hôn với một người con gái tên là Verma. Chúng tôi có một bé gái tên là Ellen, và hai con trai mà chúng tôi đặt tên là Mark và Timothy. Được giải ngũ khỏi Thuỷ Quân Lục Chiến, gia đình tôi dọn tới thành phố Vista nhỏ bé thuộc bang California. Tôi bắt đầu kiếm sống bằng việc tiếp nối giấc mơ dài còn dang dở của cha tôi là tài xế xe tải lớn. Verma đã gia nhập cộng đoàn Giáo hội của Thiên Chúa, và lúc đó tôi thật sự không thích lắm, khi chúng tôi tham dự vào Cộng đoàn Giáo hội của Thiên Chúa ở Vista. Tôi vẫn chưa đọc Thánh Kinh và chưa cầu nguyện, vì thế tôi chẳng hề biết đến việc tăng trưởng trong đời sống thiêng liêng. Tuy nhiên, vào tháng 6 năm 1967, một biến cố xảy ra trong cuộc đời tôi đã làm cho nó thay đổi mãi mãi. Một tiếng nói đánh thức tôi vào lúc hai giờ sáng ngày Chủ nhật. Tiếng nói ấy nơi với tôi:
– Hãy tới ngay Hội Truyền Giáo Phúc Âm ở San Diego.
Chưa bao giờ có chuyện gì giống như thế này xảy ra cho tôi trước đó. Tôi đã suy nghĩ về chuyện này trong vài phút, sau đó, tôi quyết định gạt nó ra khỏi tâm trí để tiếp tục giấc ngủ còn dang dở.
Sáng hôm ấy, sau khi đi nhà thờ, gia đình tôi ra ngoài dùng cơm với một số bạn bè. Đang khi chúng tôi đang dùng bữa trưa, tôi lại nghe tiếng nói ấy một lần nữa:
– Bob, Ta muốn con đi ngay tới Hội Truyền Giáo Phúc Âm ở San Diego.
Lúc hai giờ sáng, tôi tưởng mình nằm mơ nhưng bây giờ là một giờ ba mươi phút trưa, tôi đang hoàn toàn tỉnh táo, tôi biết đây hoàn toàn không phải là một giấc mơ. Tôi đã nói với Verma và các bạn tôi về những gì đã xảy ra hồi đêm và hiện đang xảy ra với tôi. Verma nói:
– Anh sẽ làm gì?
Tôi nói với cô ta rằng, tôi cảm thấy đó là tiếng Chúa nói với tôi và tôi cần phải đi tới San Diego. Nàng nói nàng không muốn tôi đi nhưng nếu tôi muốn thì cứ đi. Tôi hỏi Pat:
– Bạn tôi có muốn đi với tôi xem chuyện gì xảy ra ở đó không.
Pat nói với tôi rằng hắn sẵn sàng, vì câu chuyện này giống như một trò chơi phiêu lưu mạo hiểm. Thế là tôi và Pat đi tới San Diego để tìm xem Hội Truyền Giáo Phúc Âm có hiện hữu thật không.
Chúng tôi vào trong phần đất San Diego và hỏi một người đi đường xem ông có biết Hội Truyền Giáo Phúc Âm ở đâu không? Ông ta chỉ cho chúng tôi địa chỉ trên nằm cách đó ba khu phố phía trước. Đến Hội Truyền Giáo, chúng tôi thấy người nấu bếp, anh ta đang sửa soạn bữa ăn chiều. Tôi nói với anh ta những gì đã xảy ra cho tôi. Anh nói tôi nên nói chuyện với cô Smith, mục sư của Hội Truyền Giáo (không phải là nữ tu Công giáo). Anh gọi điện thoại cho cô ta và cô muốn nói chuyện với tôi, tôi đã kể cho cô nghe câu chuyện của tôi, cô nói:
– Anh Rice, tôi không biết vì sao Thiên Chúa lại gởi anh đến đây chiều nay, bây giờ chúng tôi không có buổn chia sẻ nào. Tuy nhiên, chúng tôi có một buổi chia sẻ vào tối nay. Sao anh không ở lại để cầu nguyện và gặp gỡ trong buổi chia sẻ tối nay?
Tôi đồng ý lưu lại tối nay để tới cầu nguyện và gác máy. Khoảng bốn mươi lăm phút sau, cô ta gọi lại và hỏi người nấu bếp xem chúng tôi còn ở đó hay không. Anh ta trả lời vẫn còn và đưa điện thoại cho tôi. Cô ta nói:
– Anh Rice, tôi không dám chắc vì sao, nhưng tôi tin Thiên Chúa muốn cho anh dự buổi chia sẻ tối nay. Anh có vui lòng ở lại không?
Tôi trả lời là chúng tôi có cùng một cảm tưởng như thế nên chúng tôi sẽ ở lại để dự buổi chia sẻ.
Đó là một buổn chia sẻ tiêu biểu với nhiều bài hát và những lời bộc bạch tâm tình. Khi đến giờ dành cho người phát biểu chính của đêm đó, bà Smith bắt đầu giới thiệu người đó, tôi nhớ mình đã nhìn quanh và tự hỏi bà đang nói về ai vậy? Tôi đã rất kinh ngạc khi nghe bà ta giới thiệu tên tôi. Sự hoảng sợ xâm chiếm tâm trí tôi: “Tôi không phải là một nhà giảng thuyết. Tại sao lại giới thiệu tôi? Tôi không biết Thánh Kinh. Tôi không biết phải cầu nguyện thế nào, ngay cả tôi không biết tại sao tôi lại ở đây. Tôi chưa hề rao giảng một sứ điệp nào trong cuộc sống của tôi. Vì sao trên thế gian này có người đang giới thiệu tôi như là người nói trước công chúng tối nay?”
Tôi không biết phải làm gì, tôi vẫn ngồi ì ra đó. Mọi người hướng mắt về tôi chào đón. Tôi dám chắc mọi người kinh ngạc khi thấy tôi đứng dậy khỏi ghế để đi lên toà giảng. Cuối cùng, với hai đầu gối run như cầy sấy, tôi đã đứng trên toà giảng mà không biết mình sẽ phải làm gì khi đứng đó.
Tôi mở cuốn Thánh Kinh (không phải là trang tôi đã chọn trước vì tôi không hề đọc Thánh Kinh) và đặt nó lên trên toà giảng. Không biết làm thế nào, tôi mở đầu bằng một lời cầu nguyện, tôi thưa:
Lạy Chúa, đây là dân của Chúa. Nếu Chúa có thể sử dụng con vào việc gì thì Lạy Chúa, này con đây, xin hãy sử dụng con”.
Một tư tưởng đã đi qua tâm trí tôi sau khi tôi cầu nguyện. Tôi không biết rằng đó là lời Thánh Kinh mà tôi đã nghe hay đã đọc ở đâu đó. Khi tôi nhìn vào trang Thánh Kinh đang giở trước mặt, tôi không thể nào tin vào mắt của mình. Tôi đọc thấy những lời Thánh Kinh vừa chạy qua tâm trí tôi. Đoạn Thánh Kinh đó là:
“Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin, nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn và dù có uống nhằm thuốc độc thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh thì những người này sẽ được mạnh khoẻ” (Mc 16,17-18).
Tôi bắt đầu giảng bài giảng đầu tiên của tôi.
Tôi hạ giọng cách khó khăn nơi từ “sẽ”. Tôi nói:
– Thánh Kinh nói: “Những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin… Họ đặt tay lên những người bệnh thì những người này sẽ được mạnh khoẻ”.
Tôi nhấn mạnh từ “sẽ” là một từ mạnh mẽ không hề có chút nghi ngờ hay bất tín. Tôi không biết sự can đảm này từ đâu đến nữa. Tuy nhiên, một cách nào đó tôi đã giảng cho chính mình. Tôi nói với mọi người, tôi không biết các bạn có nhu cầu gì nhưng Thiên Chúa đã hiện diện ở đây tối nay. Người muốn biết những nhu cầu của các bạn. Ngay chỗ tôi ở, Thiên Chúa đã nói điều ấy, tôi tin điều ấy nên bây giờ tôi đang ở đây. Hãy cầu nguyện. Đây khôgn phải là một bài giảng dài, có lẽ chỉ khoảng năm phút. Tuy nhiên, tôi cảm thấy như mình đã giảng một tiếng rưỡi rồi vậy. Tiếng nói mà tôi đã nghe lại vang lên trong tôi một lần nữa. Bởi bây giờ, tôi biết đó là tiếng Chúa, Người nói:
“Một người đàn bà đang ở đây tối nay, bà ấy bị mù và Ta muốn phục hồi ánh sáng cho bà ấy”.
Hít một hơi dài tôi nói tiếp:
– Tôi tin Thiên Chúa vừa nói với tôi rằng, có một phụ nữ bị mù ở đây tối nay và Thiên Chúa muốn phục hồi ánh sáng cho bà ấy. Vậy có ai là người mù dự buổi chia sẻ tối nay không?
Từ nơi góc cuối của nhà nguyện, một bà già nhỏ bé giơ tay lên. Tôi nhớ lúc đó, tôi nghĩ thầm: “Ôi lạy Chúa, thật sự có một bà mù ở đây. Bây giờ tôi phải làm gì đây?”
Bà già được đưa tới phía trước cộng đoàn. Tôi hỏi bà già mù:
– Bà có tin thật sự, nếu tôi cầu nguyện cho bà, bà sẽ nhìn thấy không?
Tôi quá ngạc nhiên về câu trả lời của bà:
– Có, tôi tin.
Một lần nữa tôi không biết phải làm gì. Tiếp đó, tôi đặt tay lên trán bà và nói:
– Nhân danh Chúa Giêsu, bà hãy nhận lấy ánh sáng.
Kế đó, tôi thấy bà già mù ngã xuống sàn nhà. Tôi thất kinh:
– Ôi lạy Chúa, bây giờ con phải làm gì?
Tôi không ý thức được những gì đang xảy ra (không giống như điều đã xảy ra nơi Giáo hội Baptist mà tôi đã gia nhập). Một vài giây sau đó, bà già mù bắt đầu la lên:
– Tôi nhìn thấy rồi, tôi nhìn thấy rồi!
Thiên Chúa đã trả lại ánh sáng đôi mắt cho bà già này, đúng như lời Người đã phán. Tiếp đó, Thiên Chúa nói với tôi một lần nữa:
– Có một người đàn ông bị điếc ở đây. Ta muốn phục hồi chức năng nghe cho ông ta.
Tôi vừa chứng kiến Thiên Chúa phục hồi ánh sáng đôi mắt của một bà già mù loà. Nên, tôi biết tôi phải làm gì khi nghe tiếng nói của Chúa rồi, nên tôi can đảm hơn trong lần này, tôi nói:
– Thiên Chúa vừa nói với tôi rằng có một người đàn ông bị điếc ở đây. Xin ông hãy tiến lên đây vì Thiên Chúa muốn cho ông được nghe thấy.
Người đàn ông này đứng lên và tiến lên phía trước cộng đoàn. Tôi hỏi ông ta:
– Ông có tin rằng nếu tôi cầu nguyện cho ông, ông sẽ hết bị điếc không?
Ông ta trả lời:
– Có, tôi tin.
Tôi liền đặt tay lên trán ông và nói:
– Nhân danh Chúa Giêsu, ông đã hết bị điếc.
Ông cũng ngã xuống sàn (Tôi ngạc nhiên lắm, vì sao những người này lại ngã ra sàn, tôi đâu có đẩy họ đâu, chuyện gì xảy ra ở đây vậy?) Sau đó, tôi biết rằng đây là một kinh nghiệm mà người Tin lành gọi là “cái chết trong Thánh Thần”. Còn người Công giáo gọi kinh nghiệm này là “sự nghỉ ngơi trong Thánh Thần”. Một vài giây sau, người đàn ông đứng lên và tuyên bố mình đã nghe được, không còn bị điếc nữa. Khi đó, một người phụ nữ tiến lên phía trước, giơ đôi tay của bà ra trước mặt tôi và nói:
– Thiên Chúa có thể làm gì với đôi tay như thế này?
Đôi tay của bà bị viêm khớp làm cho ra cong vẹo, các khớp sưng lên những cục u lớn. Thiên Chúa nói với tôi:
“Hãy nói bà ta giơ hai tay lên cao cho mọi người thấy chúng và hãy ngợi khen Chúa”.
Và tôi nói bà làm những điều Chúa vừa dạy. Bà đứng đó với đôi tay đưa lên cao và cất tiếng ngợi khen và cảm tạ Chúa về những gì Người đã thực hiện giữa chúng tôi. Dì Smith tiến đến bên tôi, đặt tay trên tôi và nói những lời tiên tri. Dì nói:
– Tôi không lo lắng, Thiên Chúa sẽ cung cấp cho đứa bé mới sinh này mọi nhu cầu cần thiết.
Tôi không hiểu lời đó có ý nghĩa gì. Tôi nghĩ thầm: “Có phải Verma có thai lần nữa chăng hay có chuyện gì?”
Ba tuần sau, tôi ăn tối với cha vợ nơi nhà thờ của chúng tôi. Vị mục sư và con trai của ông đang ngồi đối diện với tôi và Mark, đứa con trai lớn của tôi. Vị mục sư nói với tôi rằng ông đã đóng cửa nhà thờ của ông, ông hoàn toàn thất vọng vì nhà thờ xây đã hai mươi mấy năm mà chỉ có ba tín đồ. Trong cuộc nói chuyện của chúng tôi, tôi nói với ông rằng tôi không thích chuyện đóng cửa bất cứ ngôi nhà thờ nào. Ông mục sư nói:
– Tốt thôi, khi nào anh nhận lấy trách nhiệm này anh mới thấy phải làm gì.
Tôi không biết vì sao tôi lại nói:
– Được, tôi sẽ nhận.
Ông hỏi tôi, có phải tôi đang nói đùa phải không. Tôi trả lời:
– Không, tôi không đùa.
Ông nói với tôi, nếu tôi nói chuyện nghiêm túc thì ông sẽ trình bày với người quản nhiệm khu vực về những gì ông đã suy nghĩ. Sau đó một vài ngày, ông mục sư gọi điện thoại cho tôi biết người Quản nhiệm khu vực muốn nói chuyện với tôi. Một tuần sau, ông mục sư và tôi đi tới Santa Ana, ở bang California để nói chuyện với ông Jefferies, người quản nhiệm khu vực. Ông Jefferies nói rằng, tôi có thể nhận nhà thờ đó như một thử nghiệm. Vì họ không có gì thiệt hại, đàng nào họ đã dự định đóng cửa nhà thờ đó rồi. Năm hay sáu tuần sau khi tôi giảng bài đầu tiên trong đời tại Hội Truyền Bá Phúc Âm ở San Diego, tôi trở thành mục sư của nhà thờ Vista. Khoảng ba tuần sau khi trở thành mục sư của nhà thờ này, tôi nghe có một cuộc canh thức đang diễn ra ở Fallbrook, một thành phố nhỏ cách Vista khoảng mười lăm dặm (1 dặm = 1609m). Tôi quyết định đi tới đó để xem xét. Tôi không biết bất cứ ai trong buổi chia sẻ này và cũng không ai ở đó biết tôi là ai. Người phụ trách bắt đầu giảng giải sứ điệp, ông bắt đầu cầu nguyện cho mọi người. Sau khoảng hai phút cầu nguyện cho mọi người, ông nhìn chằm chằm vào tôi.
– Xin mời anh thanh niên bước ra đây, Thiên Chúa muốn nói với anh một vài lời. Xin anh vui lòng?
Tôi biết ông ta đang nói với tôi, tuy nhiên, tôi vẫn cứ ngồi yên. Ông ta nói tiếp:
– Xin mời anh ngồi phía bên phải, người mang áo dạ đen.
Ông chỉ vào tôi và nói:
– Xin anh vui lòng bước ra đây, Thiên Chúa muốn tôi chuyển cho anh một lời.
Một lần nữa, tôi cứ ngồi yên, người phụ trách nài xin:
– Anh là một mục sư mới, anh vừa mới nhận chức được một thời gian ngắn. Xin mục sư vui lòng bước ra đây. Tôi có một lời của Thiên Chúa cho mục sư.
Tôi vẫn cứ ngồi yên, bất động (đến giờ phút này, tôi vẫn bối rối, có ai khác là mục sư trẻ, mang áo dạ đen ngồi bên phải nhà thờ, chắc ông ta đang nói với một người nào khác, đúng không? (Chắc thế!).
Người phụ trách nài xin lần cuối, ông nói:
– Hỡi mục sư, đây là lần cuối cùng tôi kêu gọi anh bước ra đây. Anh biết tôi đang nói với anh và tim anh đang đập mạnh giống như muốn văng ra khỏi ngực anh vậy. Xin mục sư vui lòng bước ra, tôi có một lời của Thiên Chúa cho anh.
Ông nói đúng, tim tôi đang đập mạnh đến nỗi tôi nghĩ nó muốn văng khỏi ngực tôi vậy. Cuối cùng, tôi đứng dậy và bước ra phía trước cộng đoàn và nói:
– Có phải tôi là người ông đang tìm kiếm không?
Người phụ trách nói:
– Phải, chính là anh, Bob Rice ạ! Điều gì khiến anh lâu bước ra vậy?
Không người nào trong ngôi nhà thờ này biết tôi là ai, mà sao người đàn ông này có thể gọi tên tôi, không có cách nào ông ta biết được tên tôi ngoại trừ có sự giúp sức của Thiên Chúa. Người phụ trách nói:
– Thưa mục sư, Thiên Chúa đã gởi cho tôi một câu Thánh Kinh để trao lại cho mục sư, câu Thánh Kinh đó là: “Tôi nói, tôi giảng mà chẳng có dùng lời lẽ khôn khéo hấp dẫn nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thực của Thần Khí và Quyền Năng Thiên Chúa. Có vậy đức tin của anh em mới không dựa vào lẽ khôn ngoan người phàm nhưng dựa vào quyền năng Thiên Chúa” (1 Cr 2,4-5).
Thiên Chúa nói với tôi rằng tôi sẽ không rao giảng những gì tôi học được từ những người khác. Thiên Chúa dạy tôi chỉ dựa vào “bằng chứng xác thực của Thần Khí và Quyền Năng Thiên Chúa”. Người tỏ bày cho tôi biết nhà thờ của tôi là “đứa trẻ mới sinh”. Dì Smith đã nói về vấn đề này trong lời tiên tri của dì. Hơn nữa, Người đã ban cho tôi những gì tôi cần để làm mục sư cho nhà thờ này. Người dắt tôi đi từng bước trước dân của Người. Tôi không biết gì về việc mục vụ của mục sư ở nhà thờ. Tuy nhiên, tôi đã thấy những gì Thiên Chúa làm trong đêm tôi ở San Diego. Tôi bắt đầu tìm những đoạn có liên quan đến việc chữa bệnh trong Thánh Kinh. Mọi sứ điệp tôi rao giảng được việc chữ bệnh củng cố. Mỗi lần tôi giảng là có người nào đó được chữa lành và nhà thờ bắt đầu tăng thêm nhân số nhờ Thánh Thần và Quyền Năng của Thiên Chúa. Chúng tôi đã thấy nhiều người với đủ loại bệnh và tật nguyền đã được chữa lành. Tôi xin kể cho các bạn một số việc lành bệnh và những việc lạ lùng Chúa đã làm trong ngôi nhà thờ này.
Vào một tối Chúa Nhật, sau khi tôi đã giảng xong bài chia sẻ của tôi, Chúa tỏ lộ cho tôi biết qua những lời trong tâm trí về vấn đề của một người đàn ông. Tách riêng người đó bằng việc chúc mừng, tôi đã nói những gì Chúa tỏ lộ cho tôi và hỏi anh ta có phải đó là sự thật không? Chúa đã cho tôi biết ông ta mắc bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối và bác sĩ cho biết ông ta chỉ còn sống hơn ba tuần nữa thôi. Người đàn ông nói đó là sự thật. Người đàn ông nói rằng vợ của ông đã xin phép bác sĩ cho cô ta mang ông đến buổi chia sẻ này của chúng tôi để được chữa lành. Khi buổi chia sẻ kết thúc, vợ của ông phải đưa ông trở lại nhà thương. Tôi đã xức dầu choong và cầu xin Thiên Chúa chữa ông khỏi bệnh ung thư này. Sau buổi chia sẻ, vợ ông chở ông trở lại nhà thương theo lệnh của bác sĩ.
Khoảng ba tuần sau, người đàn ông này và vợ ông trở lại nhà thờ của tôi. Họ nói với chúng tôi rằng, ngày hôm sau buổi chia sẻ người đàn ông được kiểm trả bằng một cuộc xét nghiệp và các bác sĩ không còn thấy một dấu vết nào của bệnh ung thư nữa. Một lần nữa, Thiên Chúa nói với tôi về người đàn ông này là một người thiếu một xương sườn. Tôi hỏi ông ta: “Sao ông lại thiếu một xương sườn?” Người đàn ông nói với tôi rằng khi những bác sĩ giải phẫu ông, họ cắt rời xương sườn và sau đó không thể đặt trở lại vào chỗ cũ được. Tôi đã xức dầu cho ông và cầu nguyện xin Chúa tạo nên cho ông một xương sườn mới trong ngực của ông. Trong khi tôi đang cầu nguyện cho ông, thì ông nói với tôi rằng ông cảm thấy nóng ran vùng ngực. Hai tuần sau, hai vợ chồng ông trở lại với tôi và cho tôi coi hai phim X quang, một phim trước buổi cầu nguyện và một phim sau buổi cầu nguyện. Thiên Chúa đã đặt một xương sườn mới vào lại ngực của người đàn ông trong tấm phim mới.
Vào một đêm, Chúa nói với tôi rằng có một người phụ nữ bị bệnh tim. Bà ta đã được bác sĩ cho biết nếu tim của bà cứ tiếp tục xấu đi thì bà cần phải ghép tim mới mong sống được. Khi tôi cầu nguyện cho bà, bà nói rằng bà cảm thấy một tiếng kêu o o nơi trái tim bà. Khi bà trở lại gặp bác sĩ của bà, ông không thể hiểu chuyện gì đã xảy ra mà bây giờ tim bà giống như tim của một thiếu nữ mạnh khoẻ. Khôgn chỉ có thế, Thiên Chúa còn đổi nhóm máu của bà nữa. Tại một buổi chia sẻ khác, một phụ nữ yêu cầu tôi cầu nguyện cho bà ta, bà muốn sinh con, nhưng không thể mang thai được vì một số nguyên nhân. Tôi đã xức dầu cho bà và cầu nguyện xin cho bà được thụ thai. Tôi nói với bà rằng bà sẽ có một đứa con trai. Chín tháng sau, bà sinh một đứa con trai bụ bẫm, cân nặng sáu pound bốn (1 pound = 0,453kg). Tôi sẽ kể cho các bạn một câu chuyện nữa để minh chứng.
Một hôm tôi được gọi tới bệnh viện vì một gia đình là thành viên nhà thờ của tôi đang ở đó. Họ có một người cháu sống chung với họ. Tuy nhiên, anh ta không phải là một kitô hữu và cũng không thamg ia sinh hoạt nơi bất cứ nhà thờ nào. Khi tôi đang trên đường tới bệnh viện, họ báo tin cho tôi biết anh ta đã chết trong một tai nạn xe hơi. Anh ta uống quá nhiều và lái xe quá nhanh nên không làm chủ được tay lái, đã đâm vào một gốc cây bên vệ đường. Cổ anh ta bị gãy hai chỗ. Toán tuần tra xa lộ California nói rằng anh ta đã chết, người tài xế lái xe cứu thương nói anh ta đã chết và bệnh viên cũng công bố anh ta đã chết trên đường tới bệnh viện. Thiên Chúa nói trong lòng tôi rằng nếu tôi đến với thi hài đã chết để khiển trách cái chết và ra lệnh cho sự sống trở lại với anh ta, anh ta sẽ sống lại. Tôi đã thấy Thiên Chúa làm nhiều điều kỳ diệu. Khi Người nói tôi làm một điều gì, không có vấn đề của những chuyện tầm phào nên tôi đã thực hiện. Tôi hỏi thi thể của anh ta hiện nay đang đặt ở đâu và đi tới nơi đặt thi hài của anh. Tôi xin được ở một mình vài phút với anh ta. Những nhân viên bệnh viễn nghĩ rằng tôi là một người bạn thân của người quá cố nên cho phép tôi được ở lại một mình vài phút với thi hài. Thật sự, tôi chưa bao giờ cầu nguyện cho người nào đã chết trước đó. Nếu đây không phải là việc bổn phận, tôi không muốn làm những việc này vì không muốn những nhân viên bệnh viện nghĩ rằng tôi là một tên điên. Khi tôi ở một mình với thi hài người đã chết, tôi chỉ đơn giản làm những gì Thiên Chúa đã bảo tôi làm. Tôi đặt tay trên thi thể đã lạnh cứng, khiển trách sự chết và ra lệnh cho sự sống trở lại với anh ta. Sự việc xảy ra tiếp đó là người thanh niên này ú ớ trong cuống họng bởi vì mọi đau đớn đã trở lại với thân xác anh. Nhân viên bệnh viện nghe tiếng ú ớ liền chạy vào, một người trong bọn nói:
– Ngón chân anh ta đang cựa quậy.
Họ liền đuổi tôi ra khỏi phòng và đẩy anh ta vào phòng cấp cứu
 
Bản Quyền Thuộc về: Dr. Bob Rice 
Mọi trích dẫn hoặc đăng lại từ trang này phải chắc chắn nhằm phục vụ hoàn toàn phi lợi nhuận, và ghi rõ "Trích từ nguồn TONGHOPPLUS.COM và Holly Bible and Pray's Coperation "
Tonghopplus.com giữ bản quyền.

25/8/12

6. NHỮNG ĐỀ NGHỊ CHO BUỔI CẦU NGUYỆN GIA ĐÌNH

TRANG 38

TRANG 39

TRANG 40

TRANG 41

TRANG 42

TRANG 43


Bản Quyền Thuộc về: tonghopplus( chụp từ sách 5 PHÚT PHÉP LẠ) , Cộng Đoàn Kinh Thánh và Cầu Nguyện
Mọi trích dẫn hoặc đăng lại từ trang này phải chắc chắn nhằm phục vụ hoàn toàn phi lợi nhuận, và ghi rõ "Trích từ nguồn TONGHOPPLUS.COM và Holly Bible and Pray's Coperation "
Tonghopplus.com giữ bản quyền.

Comment

Translate