26/8/12

Quyền Năng Của Tâm Hồn Biết Ca Ngợi P1


Quyền Năng Của Tâm Hồn Biết Ca Ngợi

Merlin R. Carothers

“Hãy tạ ơn trong mọi dịp!
Vì đó là thánh ý Thiên Chúa
Về anh em trong Đức Giêsu Kitô”
1 Thes 5,18

“Với những ai yêu mến Thiên Chúa
Thì người đồng công cộng tác
biến mọi sự nên lành,
tức là
những ai được Người kêu gọi
theo ý định của Người”
Rom 8,28

Quyền năng của tâm hồn biết ca ngợi
(Dịch sách: Puissance de la louange)
Martin R. Carothers

Nếu ai có tham vọng chỉ cho bạn con đường ngắn nhất và chắc chắn nhất để tiến tới hạnh phúc thì họ phải khuyên bạn chọn lấy định luật sống là cảm tạ và ca ngợi Chúa vì tất cả mọi sự xảy đến cho bạn. Vì nếu bạn biết ca ngợi và cảm tạ Chúa mọi lúc và mọi nơi thì chắc chắn là bạn sẽ biến mọi bất trắc gặp trên đường đời bạn thành ơn lành.
William Law, Mục sư người Anh thế kỷ 18

Tôi cám ơn Chúa vì tật nguyền của tôi, vì qua cơn bệnh, tôi đã tìm được Chúa, quyết định của công việc, và khám phá ra con người đích thực của tôi.
Hélène Keller

Phúc thay người tuân theo ý Chúa, vì tai họa không thể giáng trên người ấy được. Cho dù thiên hạ đối xử thế nào với anh đi nữa, anh cũng chẳng lo, vì anh biết rằng tất cả trở thành tốt lành cho những ai yêu mến Chúa, những ai được kêu gọi theo ý Ngài.
Martin Luther

Bạn hãy xin Chúa ơn được thấy bàn tay Ngài trong mọi thử thách và ơn chấp nhận ngay điều Chúa gửi đến. Không những chỉ chấp nhận mà còn hân hoan vì được thử thách nữa. Tôi nghĩ rằng khi đạt tới đó, chúng ta sẽ thấy mọi buồn phiền biến dạng.

Charles H. Spurgeon

Quyền Năng Của Tâm Hồn Biết Ca Ngợi : Chương I - Phần 1

Chương I

Quyền năng của tâm hồn biết ca ngợi

Jim có một người cha uống rượu từ 30 năm nay. Trong suốt những năm đó, mẹ của Jim và sau này chính anh ta cùng với vợ anh đã cầu xin Chúa chữa lành cha mình, nhưng vô hiệu. Cha anh không chịu thú nhận mình say mê rượu chè, và vùng vẫy khi nghe nói đến tôn giáo.
Một hôm Jim nghe tôi nói về năng lực được phóng thích khi chúng ta ca ngợi Chúa trước mỗi biến cố trong cuộc sống chúng ta, thay vì năn nỉ nài xin Chúa thay đổi những gì gây khó chịu cho mình.
Jim mang về nhà bản ghi âm cuộc họp và cho các bạn nghe lại. Rồi một ngày kia nảy ra một ý kiến: Chưa bao giờ anh đã thử ca ngợi Chúa vì hoàn cảnh cha anh đang sống. Vui mừng quá, anh chia sẻ với vợ anh.
-        Em à, chúng ta hãy cám ơn Chúa cho người cha say rượu của chúng ta, vì đó cũng là trong chương trình tuyệt diệu của Chúa đã hoạch định cho cuộc sống của cha.
Và trong ngày hôm đó, cả hai vợ chồng cảm tạ và ca ngợi Chúa về tất cả mọi mặt của hoàn cảnh. Chiều đến, cả hai cảm thấy một niền vui và hy vọng mới.
Ngay hôm sau, cha mẹ của Jim đến thăm các con như thường lệ mỗi trưa chúa nhật. Thường ngày cha của Jim không thích ở lâu và xong bữa là ra về, nhưng lần này, trong khi uống cà phê, ông đột nhiên hỏi:
-        Con nghĩ sao về cái gọi là “Cách Mạng của Đức Giêsu?” Quay về phía Jim ông tiếp: hôm qua, truyền hình đã chiếu vài đoạn. Có phải đó là mốt mới không? Hay thật sự những đám trẻ hút ma túy đã được chinh phục và đã đổi lòng?
Câu hỏi đó là khởi điểm cho một cuộc tranh luận dài và chân thật về Kitô giáo, Và cha mẹ của Jim ở lại đến chiều.
Sau vài tuần, cha Jim chấp nhận là ông uống rượu. Ông ta trở về với Đức Giêsu Kitô và ngừng hẳn rượu; cùng với gia đình, ông ta kể cho tất cả mọi người chung quanh nghe những điều Chúa có thể làm khi chúng ta biết ca ngợi. Jim nói với tôi:
- Thế mà chúng con đã cầu xin Chúa trong 30 năm, xin Ngài thay đổi cha chúng con, trong khi chúng con chỉ ca ngợi Chúa vì hoàn cảnh của ba con trong có một ngày mà đã thu hoạch biết bao nhiêu.
Chúng ta dễ nói một cách máy móc: “Vinh danh Chúa” và “Tạ ơn Chúa”, nên chúng ta cũng dễ quên ý nghĩa thật của những chữ đó.
Ca ngợi, theo tự điển có nghĩa là: ca tụng một người nào đó, đề cao họ, làm cho họ vẻ vang, tuyên bố công nghiệp và hoan hô người đó. Vậy ca tụng là góp phần mình, để tán đồng về một điều nào đó. Tán đồng nghĩa là chấp thuận, là thỏa thuận về điều đó. Như thế, ca tụng Chúa trước một hoàn cảnh khó khăn, một bệnh tật hay một tai họa, có nghĩa là chúng ta chấp thuận, chúng ta đồng ý coi những trường hợp đó như ở trong chương trình Chúa định cho cuộc sống của chúng ta.
Chúng ta không thể thật sự ca ngợi Chúa về một điểm nào mà lại không đồng thời cảm tạ Chúa về điểm đó. Và chúng ta không thể thật sự cảm tạ mà lại không vui sướng về điều mà chúng ta cảm tạ Chúa. Vậy ca ngợi đòi hỏi sự biết ơn và niềm hoan lạc.
Khi chúng ta ca ngợi Chúa, chứ không phải ca ngợi một ông thần vô danh của định mệnh, có nghĩa là chúng ta chấp nhận rằng Chúa có một trách nhiệm trong việc xảy đến cho chúng ta, nếu không thì cảm tạ Ngài nào có nghĩa gì?

“ Hãy vui mừng luôn
Và đừng ngớt cầu nguyện
Hãy tạ ơn trong mọi dịp,
Và đó là thánh ý Thiên Chúa
về anh em trong Đức Kitô Giêsu”
(1 Thes 5,16-18)

Tôi được biết nhiều người có thể ca ngợi Chúa vì tất cả những gì xảy đến cho họ, chỉ vì họ chấp nhận cách đối nhân xử thế trong Kinh Thánh.
Khi ca ngợi, họ thường nhận ra ngay kết quả của một thái độ cương quyết tạ ơn và hoan hỉû. Đức tin của họ vững mạnh hơn, và họ bắt đầu một nếp sống mới.
Có người thì khó thuyết phục hơn. Họ nói: “Tôi không thể hiểu được. Tôi cố gắng tạ ơn Chúa, nhưng tôi không thể hiểu được là Chúa đã nhúng tay trong những tai ương đến với tôi”.
Chúng ta nói chúng ta không hiểu được rồi chúng ta ngừng ở đó. Cách lý luận của chúng ta làm cản trở sự tiếp xúc với Chúa. Nhưng Chúa cũng có một chương trình tuyệt diệu cho khả năng lý luận của chúng ta, và khi chúng ta sử dụng khả năng này theo như Chúa muốn, thì nó không còn là một cản trở mà là một điểm tựa quý báu cho đức tin.
“ Vì Chúa là vua khắp hoàn vũ.
Hãy ca tụng Người
Với tất cả trí thông minh” (TV 47,8)
Chúng ta không cắn răng rồi bắp ép trí tuệ chúng ta nói: “Điều này vô nghĩa đối với tôi, nhưng vì đó là lối thoát duy nhất, tôi sẽ ca ngợi Chúa với bất cứ giá nào”.
Như vậy không phải là ca ngợi mà là mặc cả. Ai trong chúng ta cũng đã mặc cả với Chúa, và một điều tuyệt diệu là Chúa quá yêu chúng ta nên chiều lòng chúng ta. Chúng ta phải ca ngợi Chúa với tất cả trí thông minh của chúng ta chứ  không phải chỉ miễn cưỡng mà thôi.
Chúng ta bắt đầu gặp khó khăn khi đặt câu hỏi: “tại sao” và “làm thế nào được” trước những biến cố xảy đến trong cuộc sống mình. Chúng ta sẽ không hiểu lý do cũng như không hiểu được cách làm của Chúa, nhưng Chúa muốn lý trí chúng ta chấp nhận rằng Chúa là tác giả các sự việc đó. Đó là nền tảng của sự ca ngợi. Chúa muốn chúng ta hiểu rằng Chúa yêu chúng ta và có một kế hoạch cho chúng ta.
“Ta biết rằng: Với những ai yêu mến Thiên Chúa thì Người đồng công cộng tác biến mọi sự nên lành, tức là những ai đã được Người kêu gọi theo ý định của Người”. (Rom 8,28).

Bạn đang ở trong một hoàn cảnh khó khăn ư?
Bạn đang nặn óc để giải thích vì sao lại có điều đó. Hãy cố gắng tìm hiểu rằng: Chúa thương bạn, và Ngài cho phép những điều đó xảy tới vì Ngài biết là có ích cho bạn.

Hãy ca ngợi Chúa, vì những gì đã xảy ra trong đời bạn: Hãy cố làm điều đó và để cho trí tuệ của bạn có phần trong đó.
*
*        *
Một hôm, một cặp vợ chồng nghe tôi nói về nguyên tắc ca ngợi Chúa trong mọi sự. Họ trở về nhà, lòng trí bối rối. Trong suốt mấy tháng, họ đã khóc than vì đứa con gái của họ đã phải vào nhà thương tâm trí, và đã nghe tuyên bố bệnh thần kinh của con họ vô phương cứu chữa.

Nhiều nhóm đã đến cầu nguyện để xin Chúa đoái thương, và cha mẹ cô gái đó đã mỗi ngày xin Chúa chữa lành con mình. Nhưng bệnh tình vẫn không thuyên giảm. Họ quá bị thử thách khi phải ca ngợi Chúa vì bệnh tình con gái họ: điều này làm cho họ đau lòng và ngỡ ngàng.

Bà mẹ phản ứng: “Thật phạm thượng! Cảm tạ Chúa về một điều bỉ ổi như vậy! Phải chăng là kết án Chúa đã cố tình làm hại con mình! Điều này khác xa với những gì tôi nghĩ về Thiên Chúa tình yêu”.
Và người cha cũng họa thêm:
- “Không, điều này không có vẻ hợp lý. Nhưng giả sử như giảng viên có lý”.
Người vợ ngơ ngác nhìn chồng:
-        “Tôi không hiểu được”.
-        Dù sao đi nữa, chúng ta đâu có mất mát gì, nếu chúng ta thử. Vậy chúng ta hãy thử xem.
Và hai người quỳ xuống. Người chồng bắt đầu:
-  Lạy Chúa, chúng con biết rằng Chúa yêu chúng con, và Chúa yêu đứa con này hơn cả chúng con yêu nó. Chúng con đặt niềm tin vào Chúa, và chúng con tin rằng Chúa cho phép xảy ra cho nó là điều tốt nhất cho nó. Chúng con cảm tạ Chúa vì bệnh tình của nó. Cám ơn Chúa vì nay con gái chúng con đang ở nhà thương. Cám ơn Chúa vì các bác sĩ đã chưa tìm được cách trị bệnh. Chúng con ca ngợi Chúa vì sự khôn ngoan và tình yêu Chúa đối với chúng con .……..”
Trong khi họ cầu nguyện, họ còn xác tín rằng điều đã xảy ra đó là điều tốt nhất cho họ.
Sáng hôm sau, họ được một cú điện thoại của bác sĩ nhà thương tâm trí.
-        “Thưa ông, một việc lạ lùng vừa xảy ra cho con ông. Mời ông đến chứng kiến.”
Chưa đầy hai tuần sau, cô con gái ra khỏi viện tâm trí. Một năm sau, một chàng thanh niên đến gặp tôi trong một buổi họp, tự giới thiệu là anh của cô đó, cho tôi hay rằng cô đã lập gia đình và đang mang thai. Cô hiện nay là một người phụ nữ hạnh phúc nhất đời ...
Quyền Năng Của Tâm Hồn Biết Ca Ngợi : Chương I - Phần 2

Chương I - Phần 2
Một bà mẹ đến xin tôi cầu nguyện cho con gái bà là vũ nữ trong một hộp đêm. Tôi trả lời rằng: tôi rất vui mừng và tạ ơn Chúa vì con bà đang sống như vậy.
Bà nhìn tôi kinh ngạc.
-  Cha đừng nói rằng con phải cám ơn Chúa vì đứa con gái đã quên hết thuần phong mỹ tục và chỉ còn biết nhạo báng tôn giáo. Con phải cám ơn ma quỷ thì có, chớ không nên cám ơn Thiên Chúa tình yêu.
Người mẹ này bị đặt trước một lựa chọn cam go. Suốt cả đời, bà chỉ biết cám ơn Chúa vì những điều tốt lành, còn bao nhiêu điều dữ bà cho là ma quỷ bày đặt ra. Chúng tôi cùng tìm lại trong Thánh Kinh những đoạn nói rằng Chúa có thể biến mọi sự nên lành với những ai yêu Người và tin cậy nơi Người; và những đoạn nói rằng: chúng ta phải biết ơn Chúa, dù gặp cảnh gian nan nào đi nữa. Tôi nói với bà:
- “Bà vẫn có thể nghĩ rằng: con bà đang ở dưới quyền kiểm soát của ma quỷ - nhưng vì bà thiếu tin vào uy quyền vô tận của Thiên Chúa, Chúa cũng khó thực hiện kế hoạch tuyệt hảo của Người trên con bà.
Nhưng trái lại, bà cũng có thể tin rằng chính Chúa đang hoạt động và cảm tạ Chúa về mọi sự. Nhờ vậy bà để cho uy quyền của Chúa có dịp can thiệp và hoạt động trong cuộc sống con gái bà”.
Cuối cùng, bà mẹ đau khổ thưa tiếp:
- Con không hiểu được, nhưng con muốn tin rằng Chúa biết rõ điều Chúa làm và con sẽ cám ơn Người.
Sau một lúc cầu nguyện chung, bà ra về với một sự bình an mới trong lòng.
Bà thú nhận với một nét mặt hân hoan:
- “Đây là lần đầu tiên mà con không lo lắng cho đứa con gái của con”.
Sau đó, bà kể cho tôi nghe điều đã xảy ra.
Ngay trong đêm chúng tôi đã cầu nguyện chung thì con gái bà, như mỗi tối, đang khiêu vũ hầu như khỏa thân trên cái bục nhỏ, thì một chàng thanh niên bước vào vũ trường. Anh lại gần cô, nhìn thẳng vào mặt và nói:
-  “Chúa Giêsu yêu cô!”
Cô vũ nữ này đã quen nghe đủ mọi thứ ngôn ngữ của đàn ông, nhưng cô chưa bao giờ nghe một câu như vậy. Cô bước xuống khỏi sân khấu và lại ngồi gần chàng trai. Cô hỏi:
-  “Tại sao anh lại nói như vậy?”
Anh ta thuật lại là đang khi đi ngoài đường, anh cảm thấy Chúa thúc giục anh đi vào nơi này để nói cho cô vũ nữ rằng Chúa Giêsu đang muốn tặng cô ân huệ nhưng-không của cuộc sống vĩnh cửu.
Như bị sét đánh ngang tai, cô ấy nhìn anh ta và rưng rưng nước mắt. Cô bình tĩnh nói:
-  “ Tôi muốn được sự sống ấy”.
Và ngay tại bàn ăn của hộp đêm đó, cô đã lãnh nhận sự sống.
Ca ngợi Chúa không phải là một liều thuốc, một thần dược luôn luôn hiệu nghiệm làm phép lạ. Đó là một cách sống đặt nền tảng vững chắc trên lời Chúa.
Chúng ta ca ngợi Chúa vì hoàn cảnh đang có, chứ không phải chỉ ca ngợi Chúa khi thấy kết quả.
Khi nào chúng ta chỉ ca ngợi Chúa với hy vọng, chúng ta tự lừa dối mình, và chúng ta có thể chắc chắn rằng chúng ta đang được đổi mới và hoàn cảnh cũng không được đổi mới.
Nền tảng của sự ca ngợi là chấp nhận toàn diện hiện tại một cách vui vẻ. Coi hiện tại đó như ở trong chương trình ý định hoàn hảo của Thiên Chúa tình yêu. Ca ngợi không căn cứ trên điều chúng ta suy nghĩ hay hy vọng sẽ xảy đến trong tương lai.
Đó là một định luật cụ thể của ca ngợi.
Chúng ta ca ngợi Chúa, không phải vì những gì chúng ta hy vọng sẽ xảy đến cho chúng ta và chung quanh chúng ta, nhưng vì Chúa là Chúa, ngay ở chỗ chúng ta đang đứng.
Một điều chắc chắn là khi chúng ta thật tình ca ngợi thì đang xảy ra một sự gì đó. Uy quyền của Chúa, xuất hiện trong hoàn cảnh chúng ta đang sống, và chúng ta nhận ra, không chóng thì chầy, một sự thay đổi trong ta và nơi người khác. Sự thay đổi đó tạo nên niềm vui và một hạnh phúc ngay chính giữa một hoàn cảnh bế tắc; hoặc là chính hoàn cảnh cũng sẽ đổi thay. Và sự thay đổi đó luôn luôn là hậu quả của sự ca ngợi, chứ không phải là lý do để ca ngợi. Ca ngợi không phải là mặc cả. Chúng ta không nói: “Lạy Chúa, con ca ngợi Chúa, sau đó Chúa chúc lành cho con nhé!”
Ca ngợi Chúa là tìm hạnh phúc của chúng ta nơi Chúa như tác giả của Thánh Vịnh đã viết:
“ Hãy tìm niềm vui trong Chúa,
Dâng cho Chúa trọn cả con đường,
Mọi ước vọng để Ngài chỉ huy hướng dẫn”   (TV 37,4)
Hãy chú ý đến thứ tự trong câu này, chúng ta không bắt đầu lập danh sách tất cả các ước muốn của chúng ta rồi mới tìm cách vui trong Chúa, với mục đích được toại nguyện. Nhưng chúng ta bắt đầu tìm khoái lạc nơi một mình Chúa mà thôi, và một khi chúng ta được sung mãn và hỷ hoan trong Chúa, chúng ta sẽ dần dần khám phá ra rằng: tất cả chỉ là thứ yếu. Nhưng Chúa vẫn muốn ban cho ta những gì lòng ta ao ước. Đó là tất cả ý định của Người và kế hoạch của Người trên ta.

CHƯƠNG 8 HÃY CHĂM CHÚ VÀO GIẢI THƯỞNG

Bài đã đăng:









8.


TRANG 51

TRANG 52

TRANG 53


TRANG 54


TRANG 55


Bản Quyền Thuộc về: tonghopplus( chụp từ sách 5 PHÚT PHÉP LẠ) , Cộng Đoàn Kinh Thánh và Cầu Nguyện
Mọi trích dẫn hoặc đăng lại từ trang này phải chắc chắn nhằm phục vụ hoàn toàn phi lợi nhuận, và ghi rõ "Trích từ nguồn TONGHOPPLUS.COM và Holly Bible and Pray's Coperation "
Tonghopplus.com giữ bản quyền.

Chương 7 HỌC HỎI LẪN NHAU

TRANG 44

TRANG 45

TRANG 46

TRANG 47

TRANG 48

TRANG 49

TRANG 50

Bản Quyền Thuộc về: tonghopplus( chụp từ sách 5 PHÚT PHÉP LẠ) , Cộng Đoàn Kinh Thánh và Cầu Nguyện
Mọi trích dẫn hoặc đăng lại từ trang này phải chắc chắn nhằm phục vụ hoàn toàn phi lợi nhuận, và ghi rõ "Trích từ nguồn TONGHOPPLUS.COM và Holly Bible and Pray's Coperation "
Tonghopplus.com giữ bản quyền.

2. ĐỨC TIN MONG ĐỢI

2. ĐỨC TIN MONG ĐỢI

Ba mươi ba năm trong sứ vụ chữa bệnh, tôi khám phá ra ba kẻ thù đã khiến cho việc cầu nguyện không được đáp trả. Kẻ thù thứ nhất là hoài nghi và bất tín. Kẻ thù thứ hai là thiếu sự tha thứ với tha nhân trong đời sống và kẻ thù thứ ba là không thuộc về Thân Mình Chúa Kitô hoàn toàn. Trong chương này, tôi sẽ nói về sự hoài nghi và bất tín. Khi chúng ta đến với Thiên Chúa trong lúc cầu nguyện. Người muốn chúng ta đến với Người bằng một đức tin thơ trẻ, một đức tin thiết tha mong đợi để lãnh nhận những gì chúng ta cầu xin. Tôi gọi loại đức tin này là “đức tin mong đợi”. Hãy cho tôi chia sẻ một hai hai câu chuyện với các bạn về những gì Thiên Chúa đã dạy tôi phải tin vào Người với “đức tin mong đợi” thế nào.
Như một mục sư mở đường, tôi không có bất cứ sự ủng hộ tài chính nào. Không những tôi phải cung cấp những nhu cầu cần thiết cho gia đình tôi mà tôi còn phải trả tiền thuê toà nhà chúng tôi dùng làm nhà thờ. Để trả cho tất cả những chi phí này, tôi phải tiếp tục lái xe tải như là nghề chính trong việc mục vụ cho ngôi nhà thờ đầu tiên của tôi ở Vista, bang California. Tôi lái một chiếc xe tải được gọi là xe chuyển hàng, cơ bản là một xe đổ rác. Một buổi sáng trời mưa và lạnh, trước khi mọi người đến nơi làm việc, thì tôi đã đổ chuyến hàng đầu tiên của tôi trong bóng đêm. Một đống cát không thể di chuyển đang nằm trước mũi thùng xe đổ rác khiến tôi giật mạnh cái nắp sau bốc dở hàng của xe tải để thoát khỏi đống cát. Khi tôi giật mạnh cái nắp, tay áo của tôi vướng vào một góc thùng xe khiến cánh tay trái tôi lãnh đủ cái nắp nặng ba trăm pound đập mạnh xuống, khỏi cần nói các bạn cũng biết, cánh tay tôi bị gãy.
Khi đó tôi không thể làm gì được, tôi quyết định đi trở lại chỗ chứa hàng để chở xe hàng khác. Khi tôi lái chiếc xe tới chỗ chứa hàng với cánh tay bị gãy, tôi bắt đầu cầu nguyện:
– Lạy Chúa, con xin cá mà sao Chúa cho con rắn.
Tôi đã cầu nguyện với một đức tin mong đợi. Tôi nói với Chúa rằng, tôi muốn Chúa minh chứng để có thể tin vào Người bất cứ sự gì. Chúa nói với tôi:
– Bob, không phải con dễ dàng cầu nguyện cho người khác lắm mà? Bây giờ, với một tí đau đớn con hiện có, con có tin rằng Ta sẽ chữa lành cánh tay gãy của con không?
Tôi nói:
– Vâng, lạy Chúa, con tin.
Tôi cầm tay lái bằng cánh tay gãy và đặt tay kia lên trên nó, rồi nói:
– Hãy lành mạnh nhân danh Chúa Giêsu.
Ngay lập tức, tôi cảm thấy Thiên Chúa làm liền lại khúc xương gãy nơi cánh tay tôi và mọi đau đớn và các hệ luỵ của việc gãy xương lập tức biến mất. Khi các bạn đau đớn hoặc ốm bệnh, các bạn sẽ nhận thấy, nếu các bạn chưa sẵn sàng, một trong những điều khó nhất để thực hiện là tin những nhu cầu của các bạn sẽ được ban cho. Nhưng điều đó vẫn có thể thực hiện được, các bạn hãy đến với Chúa bằng đức tin mong đợi.
Năm 1973 Thiên Chúa đã dạy tôi một bài học rất giá trị về “đức tin mong đợi”. Vào một buổi sáng tháng tư, khoảng độ mười giờ, tôi đang đọc kinh Thần Vụ thì nghe tiếng Chúa nói trong lòng tôi:
– Bob, Ta sẽ gởi con tới Indonesia.
Tôi nói:
– Lạy Chúa, tại sao không ở nơi nào khác mà lại gởi con tới Indonesia?
Chúa nói với tôi:
– Bob, Ta muốn bày tỏ cho con một điều ở đó, Ta muốn dạy con một điều mà con sẽ không bao giờ có cơ hội như thế nữa.
Tôi thưa lại:
– Vâng, lạy Chúa, nếu Chúa muốn con đi tới Indonesia thì con sẽ đi nhưng con đi tới đó bắng cái gì đây? Chúa biết đó, con chẳng có tiền mà nhà thờ của con cũng thế, vấn đề tiền bạc sẽ lấy đâu ra?
Liền ngay khi tôi vừa nói xong những lời trên thì chuông điện thoại reo vang:
– Hello, có phải mục sư Rice ở đầu dây không? Emily K đây. Ông có thể đi đến sở làm một lúc được không? Tôi sẽ đến gặp ông trong vài phút nữa.
Tôi nói với cô ta rằng tôi ở đó suốt buổi sáng.
Khoảng bốn mươi lăm phút sau, cô ta gõ cửa văn phòng tôi đang làm việc. Tôi mời cô vào và mời ngồi. Sau vài phút nói chuyện qua lại như thường lệ, cô trao cho tôi một tấm ngân phiếu và nói:
– Chúa nói với tôi mang cái này đến cho ông, cho cá nhân ông chứ không phải cho nhà thờ. Chúa đã nói ông làm điều gì đó và số tiền này dành cho mục đích đó.
Tôi lặng người khi thấy số tiền ghi trên tấm ngân phiếu. Tôi cố giữ vẻ bình thản và đặt tấm ngân phiếu lên bàn giấy và cám ơn cô ta. Khi tôi nói với cô về những gì Thiên Chúa đã nói với tôi trong buổi cầu nguyện sáng nay. Cô ta nói:
– Thật đúng lúc, ngợi khen Chúa, thật đúng lúc!
Ngay khi cô vừa về, tôi liền đến bên bàn xem tờ ngân phiếu; đó là tờ ngân phiếu năm trăm đôla.
Trưa hôm đó, tôi kể chuyện này với một người bạn thân, ông ấy cũng là một thành viên nơi nhà thờ của tôi, về chuyện bà K đã đem cho tôi tờ ngân phiếu năm trăm đôla. Ông hỏi tôi có nghe nói về Mel Tori và cuốn sách Giống như ngọn gió quyền năng chưa? Tôi nói với ông rằng chưa hề nghe đến tên tác giả này bao giờ. Ông đã nói với tôi về một cuộc phục hồi kỳ diệu đang diễn ra ở Indonesia và cuốn sách của Mel nói về cuộc phục hồi đó. Ông nói với tôi rằng Mel đang giảng vào ban đêm tại nhà thờ phái Baptist phía Bắc Hollywood. Ông hỏi tôi có thích chạy lên Bắc Hollywood để nghe lời chứng của Mel và những gì đang xảy ra ở Indonesia không? Tôi nói với ông đó là một ý kiến rất hay. Thế là chúng tôi cùng một số bạn bè đi nghe Mel chia sẻ tối hôm đó.
Sau phần chia sẻ của mình, Mekl đi quanh bắt tay mọi người. Tôi tiến lại gặp ông và bày tỏ sự thích thú của tôi với bài chia sẻ vừa rồi của ông. Tôi vừa bắt tay ông vừa nói:
– Chào Mel, tôi là Bob Rice.
Ông nói:
– À! Anh Bob Rice, khi nào anh đến nước tôi?
Tôi cảm thấy lạnh người vì tôi chưa hề nói cho ông biết tên và ý định của tôi nữa. Tôi nói với ông, tôi định đáp máy bay vào tháng sáu. Ông nói:
– Được rồi, anh nên viết thư cho họ để họ trở về nhà vì họ đang đợi anh trong tháng năm, nên anh không đến trong tháng năm họ sẽ lo lắng đấy.
Tôi nói:
– Hay tôi đi ngay tháng năm có được không?
Ông yêu cầu tôi gặp ông vào tối thứ năm. Lý do ông muốn gawpjtooi là đưa cho tôi ba bức thư. Chúa không nói bao giờ tôi đi? Tất cả những gì ông nói với tôi là Indonesia. Mel là người nói với tôi sẽ đi đến nơi nào. Tôi được trông đợi ở làng Soe, Indonesia.
Ngày hôm sau, tôi đi tới một nhân viên chuyên về dịch vụ du lịch để hỏi giá một vé khứ hồi tới Kupang. Indonesia, là phi trường gần làng Soe nhất. Người nhân viên du lịch cho biết giá vé máy bay đến và khứ hồi là một ngàn ba trăm đôla. Lúc này, tôi chỉ mới có năm trăm đôla mà bà K đã biếu tôi. Người nhân viên hỏi tôi có muốn lấy vé máy bay không? Tôi trả lời là mình không có đủ tiền. Cô nói được rồi, ông sẽ không có đủ tiền cho tới khi anh sẵn sàng ra đi. Tôi nói:
– Tôi làm gì để có đủ tiền trong thời gian đó?
Cô nói:
– Đừng lo lắng về chuyện đó.
Tất cả những gì tôi phải làm là đóng dấu vé. Tôi nói:
– Đến lúc đi nếu tôi không đủ tiền có quê không? Thôi được rồi hãy cho tôi một vé.
Tự nhiên trong tâm trí tôi hiện lên con số mười bảy tháng năm. Khi người nhân viên hỏi tôi muốn đi vào lúc nào. Tôi nói:
– Thật sự tôi không biết bởi vì tôi chưa có đủ tiền.
Vì thế, tôi nói với cô để trống mục ngày tháng để tôi có thể thay đổi hoặc huỷ bỏ nếu cần. Cô nói:
– Còn ngày 17 tháng năm vang lên trong anh thì sao?
Cô nói chính xác ngày tháng có trong tâm trí tôi. Như thế, cô đã đăng ký vé máy bay của tôi ngày 17 tháng 5 năm 1973. Khi cô đã đăng ký chuyến bay, cô gởi visa và passport đi chứng thực và cô nói chỉ có thể lấy được vào hai tuần sau. Nếu tôi không đi cũng không có thiệt hại gì. Thế mà chỉ ba ngày sau, cô gọi điện tới văn phòng của tôi thông báo visa và passport của tôi đã sẵn sàng. Cô chưa bao giờ thấy một passport đi và trở lại trong ba ngày như thế.
Hai ngày sau, một mục sư vùng Losangles gọi điện thoại nhờ tôi chủ toạ một buổi chia sẻ chữa bệnh nơi nhà thờ của ông. Chúng tôi dàn xếp với nhau để tôi có thể đến vào tối thứ tư kế đó. Sau khi tôi giảng xong tối hôm đó, vị mục sư trao cho tôi một phong bì nhỏ, tôi không để ý lắm, tôi nhét nó vào túi và cám ơn vị mục sư. Đến tối, khi về đến nhà tôi đã quá mệt mỏi nhưng tôi không còn thấy mệt khi thấy ân phúc Chúa ban xuống trên tôi, tôi không còn tin vào mắt mình nữa, số tiền trong phong bì của vị mục sư gồm có tám trăm đôla. Tám trăm đôla này cộng với năm trăm đôla trước tôi đã nhận của bà K là số tiền tôi cần cho chiếc vé máy bay của tôi. Ngợi khen Chúa!
Ngày 17 tháng 5 đã đến, tôi sẵn sàng để đến Indonesia. Tuy nhiên, tôi chỉ nhận được có tám mươi đôla cho cuộc hành trình. Verma, vợ của tôi hỏi:
– Anh nghĩ thế nào mà làm một hành trình gần nửa vòng trái đất, dài ba tuần lễ mà trong túi chỉ có tám mươi đôla thôi sao?
Tôi bảo vợ tôi rằng cuộc hành trình này là ý của Thiên Chúa chứ không phải của tôi nên Người sẽ quan phòng tất cả. Một người anh em cũng tên Bob chở tôi tới phi trường cho tôi thêm hai mươi đôla nữa. Tôi lên máy bay trong túi tôi có tất cả là một trăm đôla. Ở phi trường, tôi được cho biết chuyến bay của tôi sẽ bay theo con đường Anchorage, bang Alaska thay vì bay theo đường Honolulu, bang Hawaii. Điều này làm tôi hơi bối rối, vì Chúa đã nói với tôi rằng tôi sẽ giảng ở Hawaii lúc trở về. Tôi dự định gọi cho một mục sư bạn để xếp đặt những buổi giảng tại nhà thờ của ông khi tối đến Honolulu.
Đang lúc chờ đợi máy bay cất cánh. Tôi trao đổi vài câu chuyện với một hành khách cũng đang chờ cùng chuyến bay. Tôi đang kể cho bà ta vì sao tôi đi chuyến bay này. Bà ta phàn nàn rằng Thiên Chúa của tôi thật sự đã đổi lịch trình của chuyến bay bởi vì chuyến bay này luôn luôn bay theo đường Anchorage Alaska bởi vì hành trình đó ngắn hơn đường bay Honolulu bốn tiếng đồng hồ. Bà không nói nên lời khi tin báo trên bảng đèn “Những người đi chuyến bay này vui lòng trở lại quầy vé? Chuyến bay vừa có sự thay đổi, bây giờ các bạn sẽ bay theo con đường Honolulu.” Tôi nhìn người bạn đồng hành và mỉm cười.
Khi tôi đến Dempasa, tôi đưa lá thư thứ nhất của Mel cho người tài xé taxi và nói với tài xế tôi muốn tới địa chỉ ghi trên bì thư. Địa chỉ trên bức thư là một trong những người bạn của Mel đang sống ở Dempasa, sẽ giúp tôi đến nơi tôi được trông đợi. Người tái xế taxi dẫn tôi tới một ngôi nhà, tôi liền đưa bức thư của Mel cho những người bạn của Mel. Họ để tôi ngủ lại một đêm và sáng hôm sau họ dẫn tôi lên máy bay để tới Kupang. Tôi đến phi trường Kupang, tôi đưa lá thư thứ hai của Mel cho một tài xế taxi khác để anh chở tôi tới những người bạn của Mel ở Kupang. Tôi ở lại với những người này độ hai ngày trong khi họ tìm thuê một chiếc xe Jeep để chở tôi tới làng Soe, nơi đã chỉ định cho tôi ở Indonesia. Tôi đến làng Soe, thành phố quê hương của Mel vào lúc mười một giờ đêm và trao cho người đón tôi, lá thư cuối cùng của Mel. Sau khi người đó đọc xong, ông đưa tôi về nhà và tôi được tiếp đón nơi nhà của ông. Mel đã yêu cầu ông giúp đỡ tôi khi tôi ở Soe. Chúng tôi hỏi thăm nhau vài phút rồi sau đó tôi đi ngủ. Ở đó ngày rất dài.
Tám giờ sáng hôm sau, một bà gõ cửa phòng khách và hỏi:
– Có một người ngoại quốc đến từ Mỹ đang ở trong nhà các bạn phải không? Tôi có mấy lời của Thiên Chúa chuyển cho ông ấy.
Sau đó, người ta kể cho tôi hay bà ấy đã đi bộ mười lăm dặm đường rừng trong đếm tối, để đến ngôi nhà nơi tôi đang cư ngụ. Họ triệu tập những người lớn tuổi trong Giáo hội lại và chúng tôi có một cuộc họp mặt khoảng bốn mươi lăm phút. Người đàn bà bắt đầu nói và họ phiên dịch ra Anh ngữ để tôi có thể hiểu được những gì bà nói. Đó là một sứ điệp cá nhân mà Thiên Chúa muốn nói với tôi về sứ vụ của tôi. Đó là một vấn đề mà tôi không chấp nhận. Tuy nhiên, Thiên Chúa xâm chiếm hoàn toàn tâm trí tôi bởi đã dẫn tôi qua nửa vòng trái đất và đã khiến người đàn bà này đi mười lăm dặm xuyên qua rừng rậm trong đêm tối đến nơi tôi ở, để đưa cho tôi một sứ điệp. Tôi ở lại làng Soe khoảng một tuần và sau đó trở lại Kupang.
Lúc đến Kupang tôi đã giảng nơi nhà thờ địa phương trong một buổi chia sẻ tối Chủ nhật. Trong buổi chia sẻ tối hôm đó, chúng tôi đã chứng kiến nhiều cuộc lành bệnh. Sáng hôm sau, một số tiếng ồn vang lên ở bếp đã đánh thức tôi. Tôi thức dậy đi vệ sinh và sau đó đi qua nhà bếp. Nhiều người đang ngồi trong nhà bếp, tôi lấy làm lạ vì chỉ mới năm giờ sáng. Những người này không được tham dự buổi chia sẻ chữa bệnh tối hôm qua, nhưng họ đã nghe nói về một người của Thiên Chúa cầu nguyện cho bệnh nhân và nhiều người được lành bệnh. Họ muốn biết chuyện đó thực hư thế nào trước khi quá trễ và muốn để cho người của Thiên Chúa cầu nguyện cho họ nữa. Các bạn có thấy tình con thảo và đức tin mong đợi của những người này không? Điều làm tôi kinh ngạc nhất trong lúc tôi ở Indonesia là sự việc diễn ra lúc năm giờ sáng thứ hai. Một người phụ nữ với những vết thương dị dạng trên khắp mình mẩy. Tôi là người không quan tâm đến bên ngoài quá mà phải công nhận là cô ta thật quá xấu dạng. Cô tiến đến bên tôi và nói điều gì đó bằng thổ ngữ địa phương, những người khác đã cắt nghĩa cho tôi rằng cô muốn biết tôi có cầu nguyện cho cô ta không? Và liệu Thiên Chúa có chữa cô lành sạch khỏi chứng bệnh này không? Tôi đáp:
– Dĩ nhiên tôi sẽ cầu nguyện cho cô. Và đây là lý do mà Thiên Chúa đã gởi tôi đến chốn này.
Người muốn tôi nhìn thấy đức tin thơ thảo của những người này. Khi tôi đang cầu nguyện cho cô ta, một điều kinh ngạc đã bắt đầu xảy ra. Tôi không biết phải cắt nghĩa thế nào về điều đó, da của cô ta bắt đầu sủi bọt, trông giống như người nào đó đổ oxy già lên những vết thương của cô ta. Trong khoảng năm phút, sau đó chúng tôi không còn thấy bất cứ dấu vết nào của những vết thương xấu dạng ấy nữa. Tôi không thể nói với các bạn rằng đức tin của các bạn sẽ thế nào khi chứng kiến những điều như thế xảy ra ngay trước mắt bạn. Tôi lưu lại ở Kupang vài ngày và sau đó bắt đầu hành trình trở về nhà. Tôi dừng chân tại Honolulu và giảng tại một buổi chia sẻ vào tối Chúa Nhật do một người bạn của tôi đang coi một nhà thờ ở Aiea, Hawaii tổ chức. Anh Arnold của tôi đóng quân ở đó trong binh đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ. Tôi lưu lại với hai vợ chồng anh Arnold đêm hôm đó. Sáng hôm sau tôi đáp máy bay đến An Diego, bang California. Trong lúc đang chờ xe bus để đi đến bờ biển California, tôi uống một tách cà phê và kiểm lại tiền bạc. Tôi kinh ngạc khi thấy tôi vẫn còn nguyên một trăm đôla mà tôi đã đi Indonesia và sáu đôla nữa. Tại sao tôi lại có thêm sáu đôla nữa? Vì trong suốt thời gian ở Indonesia, không có ai cho tôi đồng nào. Các bạn nói thử coi sáu đôla này từ đâu đến? Có phải câu chuyện “năm chiếc bánh và hai con cá” hiện đến trong tâm trí tôi? Đúng lúc đó Chúa nói:
– Ta muốn dạy con một điều để khi điều đó xảy ra, con đừng bao giờ lập lại như vậy nữa.
Ngày ấy, tôi đã khám phá ra đức tin thơ thảo và đức tin mong đợi mà Người muốn cho tất cả chúng ta có.
Thiên Chúa không muốn chúng ta bị giao động, nghi ngờ, như thư thánh Giacôbê đoạn 1 từ câu 6-8:
“Nhưng người ấy phải cầu xin với lòng tin không chút do dự vì kẻ do dự thì giống như sóng biển bị gió đẩy lên vật xuống. Người ấy đừng tưởng mình sẽ nhận được cái gì của Chúa, họ là kẻ hai lòng, hay thay đổi trong mọi việc họ làm”.
Và thư thứ nhất của thánh Gioan, đoạn 5 từ câu 14-15 cũng nói:
“Lý do khiến chúng ta được mạnh dạn trước mặt Thiên Chúa, đó là: Người nhận lời chúng ta khi chúng ta xin điều gì hợp ý Người”.
Nếu chúng ta biết rằng, chúng ta sẽ được những gì chúng ta đã xin Người. Phúc Âm của thánh Luca đoạn 18 câu 27 cũng ghi lại lời Chúa Giêsu:
“Những gì không thể được đối với loài người thì đều có thể được đối với Thiên Chúa”.
Trong Phúc Âm thánh Máccô đoạn 11 câu 22-24 ghi lại lời Chúa Giêsu:
“Các con hãy tin vào Thiên Chúa. Thầy bảo thật các con, nếu có ai nói với núi này: ‘dời chỗ đi, nhào xuống biển’ mà trong lòng chẳng nghi nan, nhưng tin rằng điều mình nói sẽ xảy ra thì điều ấy sẽ được ban cho. Vì thế Thầy nói với các con: tất cả những gì các con cầu nguyện và xin, các con cứ tin là mình đã được rồi thì sẽ được như ý”.
Như vậy hãy tin vào Người (Đức Giêsu Kitô) và biết rằng Người nhận lời chúng ta khi chúng ta xin điều gì hợp ý Người. Đừng đến với Người bằng một tấm lòng nghi hoặc, nhưng hãy đến với Người bằng một đức tin mong đợi và biết rằng chúng ta sẽ được những gì chúng ta đã xin Người.
Tác giả: Dr. Bob Rice

Comment

Translate