16/3/13

LÒNG CHÚA NHÂN TỪ



17/03/13 CHÚA NHẬT TUẦN 5 MC – C
Ga 8,1-11

LÒNG CHÚA  NHÂN TỪ
Lúc đó, các kinh sư và người Pharisêu dẫn đến trước mặt Đức Giêsu một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình… Họ  nói với Người: “Theo sách Luật, ông Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?” Chúa Giê-su nói với họ: “Ai trong các ông sạch tội thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.” (Ga 8,3-7)
Mời Bạn: Bạn hãy nhìn các kinh sư và biệt phái: cả đêm thì đi rình mò… từ sáng sớm đã lo đi tố cáo.
Còn ngưòi phụ nữ thì đầu tóc bù xù, mặt cúi gầm xuống không dám ngẩng lên… Bẽ bàng, nhục nhã: Hàng trăm con mắt đang đổ dồn vào chị với một vẻ khinh bỉ!… Chị rùng mình đau nhói: nghĩ đến những hòn đá sắp sửa ném vào thân chị!
Mời bạn cũng hãy nhìn ngắm Chúa Giêsu đang ngồi giữa đám đông, nhân từ, cảm thông, tế nhị. Phải chăng lòng Ngài cũng đang trĩu nặng vì những tội lỗi của nhân loại và của chính bạn nữa?
- Đến lượt bạn, bạn hãy chọn một chỗ đứng trước mặt Chúa, bên người phụ nữ tội lỗi này, nhớ lại tội lỗi mình để chờ Chúa xử án… Từ chỗ đứng đó bạn mới thấy được lòng nhân từ thương xót của Ngài.
Sống Lời Chúa: Xét lại tội lỗi của mình và khóc với Chúa; rồi bạn xin Ơn Tha Thứ qua Bí Tích Hòa Giải.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, biết bao lần con đã giống như các kinh sư và biệt phái trong cách đối xử với người khác : lên án, chỉ trích, luận tội… Trong tư thế người phụ nữ, thì lạy Chúa, con cũng đã ngoại tình, ngoại tình không riêng ở Điều Răn thứ Sáu mà cả mỗi khi con phản bội Chúa, tôn thờ tiền bạc, thú vui, những thứ không phải là Chúa… Xin cho con biết đau đớn vì tội lỗi và quyết tâm trở về với Chúa.

Xin lần nữa thương yêu

VRNs(16.03.2013) – Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã phú bẩm cho họ khả năng biết phân biệt điều lành điều dữ. Thế nên, việc nhân loại phản ứng mãnh liệt với những hành vi tội ác của đồng loại cũng là điều dễ hiểu. Người công chính thì căm ghét tội lỗi, bất công.
        Căm phẫn với những hành động tội lỗi là việc cần thiết. Một khi nhân loại mẫn cảm với tội, điều đó mới đáng sợ, vì nó báo động một lương tâm khô cứng, chai lì. Căm ghét tội, mới hòng tránh phạm tội, thế nhưng người ghét tội chưa hẳn là kẻ vô tội. Vì bởi chẳng một ai trên thế giới này được khẳng định cho là công chính, toàn hảo cả. Đã mang lấy kiếp con người, nhân loại khó tránh khỏi lầm lỗi, bởi sự yếu đuối bất toàn vốn dĩ của bản thân luôn đẩy con người rời xa sự thiện. Đó chính là bản ngã mà họ khó có thể vượt qua.
        Thế nhưng, xã hội thời nào cũng vậy, luôn tồn tại một số đông những lớp người, khoan dung với mình nhưng lại khắt khe với người khác. Tội của mình thì lới lỏng, cho qua, nhưng tội của thiên hạ, dù chỉ như con kiến, bé như hạt tiêu cũng phải phanh phui, bới móc ra để mà trừng phạt, bêu riếu cho hả giận.
        Một người am hiểu chính mình, một người khiêm nhường thực sự, một người chân nhận bản thân, ắt sẽ có thái độ hoàn toàn khác trước lỗi phạm của tha nhân. Cần phải cho người xấu nhận ra hành vi tội lỗi, sai trái của họ là điều cần thiết, nhưng phải có thái độ thế nào trước lầm lỗi của kẻ khác cũng là điều nhất định phải suy nghĩ lại. Việc loại trừ những phần tử xấu ra khỏi xã hội xem chừng là việc quá đơn giản, nhưng làm thế nào để huấn luyện, để thu phục họ từ bỏ con đường tội lỗi, quay trở lại làm người lương thiện mới là điều quan trọng.
        Và đó chính là điều Thiên Chúa muốn, đó chính là sứ mệnh của Con Một Ngài. Đức Giêsu đến trần gian, Ngài không hề bác bỏ luật lệ xã hội cũng như tôn giáo, nhưng Ngài đến là để kiện toàn, để làm cho lề luật ấy hoàn hảo hơn. Nhân loại hay dùng luật làm chuẩn mực để trừng trị, sát phạt lẫn nhau. Riêng Ngài muốn đưa họ đi đến một giới luật cao hơn, trên mọi giới luật, đó là luật tha thứ và thương yêu.
        Bất cứ thụ tạo nào được sinh ra trên thế giới này đều cần tình yêu thương. Vạn vật cần thức ăn để sống nhưng con người cần thiết phải có tình yêu thương mới tồn tại. Một khi tình yêu ấy chết đi, không còn nữa, tất nhiên thế giới sẽ bị đẩy vào con đường diệt vong.
        Những người biệt phái, kinh sư hôm nay là những đại diện của luật lệ, là những người phán quyết và trừng trị những ai không thi hành luật. Họ gài bẫy Đức Giêsu, để xem thái độ của Ngài thế nào trước người phụ nữ phạm tội ngoại tình mà theo lề luật, bà đáng phải bị ném đá: “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang phạm tội ngoại tình. Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?” (Ga 8, 4-5) Cho dù Đức Giêsu trả lời thế nào cũng vướng vào bẫy của họ, đồng tình hay phản đối cũng vậy, đều bị xem là người phá luật hoặc là người nói lời yêu thương nhưng không thi hành thương yêu.
        Thừa biết ác ý của họ, Đức Giêsu không cho họ câu trả lời như mong muốn, nhưng Ngài đã cho họ chìa khóa giải mã mọi tà tâm trong lòng. Trong thinh lặng, Ngài đã viết điều gì đó trên đất, rồi từ tốn đáp lại: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.” (Ga 8, 7). Câu trả lời tuyệt hảo quá, xem chừng rất ngắn gọn, đơn giản nhưng kì lạ thay, chẳng có lấy một ai, không có lấy một người, từ già đến trẻ đủ can đảm để ra tay làm việc ấy trước cả. Mà hoàn toàn ngược lại, mọi người dần dần rút lui, từ từ bỏ đi hết, bắt đầu từ những người lớn tuổi cho đến khi chỉ còn một mình người đàn bà đối diện với Đức Giêsu. Ngài từ tốn nói: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!” (Ga 8, 11)
        Vậy đấy, đó chính là điều mà Đức Giêsu từ bỏ cả ngai vàng của mình đến trần gian để sống, minh chứng và dạy cho nhân loại. Ngài không muốn điều gì khác hơn ngoài việc con người tôn nhận Thiên Chúa và thương yêu nhau. Vì bởi chúng ta được sinh ra trong tình yêu thương. Điều Ngài muốn là con người được sống và sống hạnh phúc. Ngài không tạo dựng con người để rồi hủy diệt mặc dầu họ đã đang tâm phản bội lời thề ước với Thiên Chúa. Ngài vẫn yêu thương và tha thứ, còn chết và sống lại để cứu độ họ. Vậy hà cớ gì, nhân loại lại chém giết, sát hại lẫn nhau khi tất cả đều được cứu độ và thương yêu? Nhân loại làm thế, có phải vì không nhận ra mình tội lỗi? Con người làm vậy có phải vì cho rằng họ tốt lành, sạch trong?
        Lạy Chúa, bao năm tháng qua đi, bấy nhiêu phút giây con được sống làm người. Vui buồn, hạnh phúc, đau khổ… mọi cảm giác đều đã được nếm trải. Những giờ phút vinh hoa nhất cũng như những phút giây tủi nhục nhất vì bị ném đá, kết tội,… giờ đây con đã chân nhận ra một điều quí giá, Thiên Chúa muốn con sống và sống hạnh phúc bất chấp con là ai, con có là gì. Cảm ơn Ngài đã đến, lạy Chúa, cảm ơn Ngài đã đến để sống và nếm trải cuộc đời trần thế như con. Cảm ơn Ngài đã thấu hiểu và cảm thông mọi bất toàn nơi con. Cảm ơn Ngài đã chết để cứu chuộc con. Ước gì con có thể sống được như Chúa. Ước gì con có thể tha thứ, yêu thương như Ngài, vì bởi chính sự tha thứ ấy đã nuôi con lớn lên, đã cho con trợ lực sống. Xin giúp can đảm lấy tình yêu thương làm thước đo mọi chuẩn mực cuộc sống, sáng suốt nhận ra mình là kẻ bất toàn, tội lỗi, hơn bao giờ hết, hơn mọi lúc nào cũng luôn cần tha thứ, thương yêu.

M. Hoàng Thị Thùy Trang.

Hãy nhanh khi nghe – chậm khi nói

VRNs (16.03.2013) – Đồng Nai - Người Việt Nam thường có câu: hãy “nhanh khi nghe – chậm khi nói”. Nghe để đấy, nghe để biết chuyện, suy nghĩ bàn hỏi mới là người khôn ngoan. Còn kẻ dại khờ thì dễ tin, dễ bị khích động và dễ kết án hùa theo đám đông.
Có rất nhiều trường hợp thương tâm đã xảy ra chỉ vì nhanh nghe, nhanh nói, dễ tin vào lời người khác để hành động điên cuồng gây nên những đau khổ do hiểu lầm, nhẹ dạ mang lại. Có rất nhiều lần chính chúng ta cũng vì quá tin người mà hành động thiếu suy nghĩ khi ném đá anh em. Cũng có rất nhiều lần chính chúng ta cũng khổ sở, chẳng biết phân bua thế nào vì bị người khác hiểu lầm, dựng chuyện làm hại chúng ta.
Có một câu chuyện thương tâm kể rằng:
Tạnh mưa, bọn trẻ bưng cơm đứng ăn trước cửa. Tý khoe:
- Nhà Tý ăn thịt gà.
Đêm đó, bà Tám chửi:
- Mả cha nó, nghèo mạt kiếp tiền đâu ăn gà, nó ăn gà bà, nó chết bất đắc cho mà xem.
Ông giáo buồn lắm, ngã bệnh, qua đời. Thương tình, hàng xóm lo ma chay.
Tý hớn hở vì nhà nó đông vui.
Trời đổ mưa.
Thằng Tý la lớn:
- Con gà vô nhà, dậy bắt làm thịt ba ơi.
Mọi người nhìn theo. Thì ra, một con cóc dưới kẹt tủ đang giương mắt nhìn lên quan tài ông giáo.
Hóa ra, nhà ông giáo ăn thịt cóc nhưng lại nói thịt gà để cho con trẻ khỏi thèm thịt gà! Thật là oan gia. Chỉ vì một lời kết án vu vơ đã làm mất đi một mạng người thật là đáng tiếc!
Thế nên, ở đời đừng vội kết tội cho người khác. Hãy bao dung độ lượng và tha thứ. Có những chuyện thấy vậy mà không phải vậy, nên cần cẩn trọng lời nói. Có những sự thật cũng cần được cảm thông hơn là kết án, vì có khi chính chúng ta cũng trải qua những lần lầm lỗi như thế.
Lời Chúa hôm nay cho ta thấy thái độ của Chúa Giê-su thật từ tâm. Ngài không hùa theo đám đông để kết án người đàn bà tội lỗi. Dù rằng tội người này theo lời của người Do Thái là “rõ mười mươi”. Dù rằng là tội quả tang nhưng cũng cần cảm thông và tha thứ. Ngài đã đi bước trước trong sự tha thứ khi Ngài nói: “Tôi không kết án chị đâu”. Ngài cũng nhắc nhở những người chung quanh đừng dễ dàng kết án người khác, đừng dễ dàng chửi bởi anh em, bởi vì: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá ném trước đi”. Ngài còn tạo cơ hội cho người phụ nữ chuộc lại lỗi lầm: “Chị hãy về và từ này đừng phạm tội nữa”.
Đức Giê-su là Thiên Chúa rất thánh thiện vô cùng. Ngài không hề sai phạm một lầm lỗi nào, thế mà Ngài vẫn luôn luôn thông cảm được với sự yếu đuối của người tội lỗi. Ngài không kết án mà sẵn sàng tha thứ. Còn chúng ta, chúng ta cũng yếu đuối như tất cả mọi người, thế mà ta lại khó thông cảm với những yếu đuối của người khác, nhất là khi họ làm thiệt hại đến ta, đến quyền lợi, danh tiếng, hay cản trở ý muốn của ta.
Ở đời: “Ai nên khôn mà không dại một lần”, thế nên, làm người cần có sự khiêm nhu để nhìn lại mình và để cảm thông với anh em. Có thể ta dễ dàng kết án người khác. Có thể chúng ta không muốn gương xấu trong môi trường chúng ta. Nhưng liệu chúng ta làm ầm ĩ lên, hoặc mạnh tay ném đá kẻ có tội chúng ta sẽ được gì khi mất anh em , mất bạn bè vì sự nóng giận của chúng ta?
Mùa chay là mùa giúp chúng ta nhận ra thân phận yếu đuối của mình để sám hối và cũng để cảm thông với lỗi lầm của anh em. Đừng kết án anh em. Đừng đẩy anh em vào đường cùng. Đừng lên án xử anh em, nhưng hãy bao dung và tha thứ cho nhau. Hãy nhớ lời Chúa dạy: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá ném trước đi”.
Xin cho chúng ta học nơi Chúa bài học của bao dung và tha thứ để chúng ta luôn lấy lòng từ bi, nhân hậu mà đối xử với nhau. Xin cho chúng ta cũng nhận ra mình là con nợ đã từng được Chúa tha thứ để đừng bao giờ hà khắc, kết án anh em. Xin Chúa giúp chúng ta học nơi Chúa luôn “chậm bất bình và rất mực khoan nhân” để đối xử với nhau trong bác ái yêu thương. Amen
Lm. Jos Tạ Duy Tuyền
Tin tiếp theo:

LƯỚT THẮNG SỰ ÁC

Tác giả: 
Lm Trần Đình Long


LƯỚT THẮNG SỰ ÁC
T.H


  • Ngược Dòng Thời Gian 
Khoảng năm năm về trước, khi một người mục tử dấn thân trong công cuộc loan truyền lòng Chúa xót thương, có một nhóm nhỏ gồm nhiều thành phần học sinh, sinh viên, công nhân, nội trợ, tiểu thương… kết lại cùng nhau. Một mặt họ chăm chỉ đi nghe giảng và cầu nguyện, một mặt họ về thảo luận cùng nhau, để lời Chúa thông qua bài giảng của người mục tử thấm sâu và triển nở, tạo sự thay đổi tận căn trong suy nghĩ và hành động của người tham dự.

Nhóm người bé nhỏ ấy nhận thức ra rằng đón nhận tình yêu thương của Chúa, thì phải biết yêu thương người khác bằng những việc làm nhỏ bé, thiết thực. Họ bắt đầu tỏa vào làng xóm xa xôi, lắng nghe những câu chuyện đời, mà ẩn chứa trong đó là những mảnh đời vỡ nát, đớn đau, và cần phải nâng đỡ về tinh thần, vật chất mới hy vọng có sự đổi thay tích cực.

Một ngày nọ, từ một xứ xa, có người cho tin : Một bà cụ bán xôi bị tai biến, giờ lại không có chỗ ở.

Tìm về xứ vùng sâu, gặp gỡ người này người kia, hỏi thăm xóm giềng, tìm cả tới cha sở tại, nghe ngài san sẻ những suy tư, mới hay vấn đề không dừng lại ở việc bà cụ bệnh và không nơi nương tựa.

Câu chuyện đưa các tình nguyện viên tới một vấn đề nhức nhối hơn. Bà cụ không quá nghèo, cũng tạm đủ ăn. Cơn bạo bệnh khiến con cái quáng quàng lo bà cụ... chết ! Lúc đó bà cụ ở cùng nhà với vợ chồng cô Út. Họ có hai con nhỏ.

Ma quỷ bắt đầu len lỏi vào đầu óc của một số con cái bà cụ. Họ ở xa kéo về, lo cụ chết một nhưng lo cụ chết không chia nhà mười. Thế là một quyết định được đưa ra : bán nhà chia nhau và dành một phần mướn nhà cho cụ ở, đợi cụ... chết !

Vào thời điểm đó, nhà đất sốt như tôm tươi, vừa mở lời, có người tới lụm nhà và chồng tiền cái rụp !

Tiền được phân chia như dự tính. Dĩ nhiên vợ chồng cô Út đang ở với bà dạt vòm, không còn nơi nương thân, đành phải dắt con cái nheo nhếch đi ở nhà thuê.

Dĩ nhiên bà cụ cũng được rinh đến một phòng trọ đợi ngày... lên thiên đàng. Khốn cho bà. Tiền tiêu hết, bệnh nó cũng tiêu từ từ. Bà thành ra yếu ớt chứ... chưa chịu chết !

Con cái bà cụ sau khi chia chác nhau tiền bán nhà của mẹ mà mẹ không chịu chết, chúng biến sạch sành sanh, chỉ có vợ chồng cô Út cùng hai cháu ở gần. Khổ thay vì bà cụ nghe con bán nhà, thành ra một nỗi đau gây ra cảnh dạt vòm, điêu đứng cho gia đình cô Út. Anh con rể cũng rất giận bà mẹ vợ cao số và lụy đám con hư, thành ra quan hệ thâm tình vỡ đổ và bà cụ này lâm cảnh ngặt nghèo về cả tinh thần lẫn vật chất.

Thật là đáng buồn, cùng với tốc độ đô thị hóa vù vù, thì tình người ngày mỗi vơi đi, giềng mối gia đình cũng chênh vênh theo mãnh lực đồng tiền. Quả là đáng buồn, đáng quan ngại.

Tình nguyện viên tiến hành tiếp xúc bí mật với bên A và bên B. Bên A là bà cụ rất nhớ cháu con. Bên B tuy giận mẹ, nhưng các cháu nhớ bà, và cô con Út tuy ngại anh chồng nhưng cũng đau xót mẹ.

Đàng khác bằng các kênh ngoại giao riêng của các cá nhân tình nguyện viên, câu chuyện được tóm tắt và gửi tới một chương trình nhân đạo xã hội của VTV. Tình nguyện viên gợi ý với đạo diễn tại sao lại không bắt cây cầu làm một buổi đoàn viên cuối năm, kết nối yêu thương, vực lại tương quan gia đình đang trên đà vực thẳm.

Ý nghĩ táo bạo đó được nhà đài chấp nhận và thế là có một tiệc đoàn viên phát đúng Đêm Giao Thừa năm đó. Một cái kết có hậu. Bà cụ tạm về ăn Tết với con, những tấm lòng của xã hội cũng có một chút quà tặng bà cụ lận lưng, và bếp nhà cô con Út tết ấy cũng ấm áp và đầy đặn.

Thế nhưng, khi mọi người cũng vỗ tay chúc mừng hoan hỉ, và vui đón Giao Thừa, thì một tình nguyện viên không hẳn đã vui. Lúc phụ ê kíp làm chương trình, người này thấy trong hốc nhà cô con Út có một cặp nạng gỗ, và dưới chân cầu thang gác xép của phòng trọ nghèo, đứa con trai của cô Út tầm 6 tuổi không muốn đứng lên. Nó có vẻ buồn bã và bứt rứt…

  • Đứa Cháu Thiệt Thòi
Sau cái Tết ấy, tình nguyện viên quay lại gia đình Út. Bà cụ đã ngược về nhà tình thương. Cũng tạm an lòng, dù không ở cùng nhau nhưng nghĩa tình đã được nối lại, coi như tạm ổn.

Vấn đề lúc này là số phận của chủ nhân... đôi nạng gỗ, đứa con trai của cô Út.

Đó chính là bé HĐ mới sáu tuổi. Em bị một căn bệnh không thuốc chữa có cái tên rất Tây là Cophaxalan - tức hoại khớp háng mãn tính. Mới sáu tuổi, em đã phải trải qua biến cố gia đình xào xáo tương tàn, bị dứt ra khỏi mái ấm yêu thương, lốc thốc theo cha mẹ trôi nổi theo các cuộc dọn nhà, dù là nhà trọ. HĐ còn phải trải qua hai ca phẫu thuật thay khớp, và bác sỹ cho biết cứ theo thời gian em sẽ còn phải thay dài dài, và nếu em vận động nhiều, thì ít nhất hai năm sẽ lại mổ một lần, thay khớp mới cho phù hợp lứa tuổi.

Tìm tới trường tiểu học, cô giáo cho biết em học giỏi, nhưng tính khí hơi thất thường, và sức khỏe như thế là yếu kém, ngoài bệnh về khớp, em bị loạn thị nặng, đeo kính suốt đời. Em có dấu hiệu bị bệnh quá năng động, có lẽ do mổ nhiều nên ảnh hưởng.

Một chiến dịch dài hạn lập tức được triển khai, câu chuyện về HĐ được tình nguyện viên đưa lên mạng xã hội, và lập hẳn một chuyên đề thảo luận.

Kết quả là rất nhiều người vào cuộc. Diễn đàn DRD cấp học bổng cho em. Các bloger gom góp tiền quà thường xuyên tới thăm hỏi HĐ và một bloger là doanh nhân đã nhận tài trợ ổn định hàng tháng cho em. Hơi tiếc là hai năm sau bloger hỗ trợ em có tên là bonghonggai qua đời vì bệnh ung thư. Trước khi qua đời anh này cũng có lời nhờ một tình nguyện viên gần nhà HĐ tiếp tục lo lắng cho em.

Thời gian qua mau, HĐ tốt nghiệp tiểu học, em còn đoạt giải cuộc thi vẽ nét bút xanh. Nhà em lại chuyển nhà, em chuyển trường và liên lạc của tình nguyện viên tạm gián đoạn. Song hàng năm một người thầm lặng dù ở xa vẫn gửi sách vở và chút tiền học cho em, ai cũng ngỡ như thế là đã tốt.

  • Bóng đen của ma quỷ và cuộc chiến giành lại một con người

Bất ngờ tháng 11/2012 một nhà báo của tòa soạn Tuổi Trẻ tìm tới một tình nguyện viên, anh có ý nhờ các tình nguyện viên tìm giúp một số nạn nhân là trẻ em nam, bị kẻ xấu xâm hại và chúng rao bán các em công khai trên một trang web ấu dâm, thật khủng khiếp.

Và đau xót hơn, một trong gương mặt bị nạn là... HĐ. Mới chưa đầy một năm không gặp, em ra cớ sự.

Phải chung tay cùng nhà báo có tâm vạch mặt cái ác, và cứu các trẻ thơ. Trong vòng mấy ngày trời, những con người “ăn cơm nhà, vác tù và thế gian” lao vào một cuộc chiến không cân sức.

Một mặt tiếp cận gia đình HĐ, khéo léo nâng đỡ tinh thần để gia đình vượt qua cú sốc đau thương. Theo lời người trong cuộc và tường trình của HĐ, bé đã thoát nanh vuốt bọn buôn người trong gang tấc.

Rất khó tìm ra các em còn lại, vì kẻ thủ ác đăng họ tên và địa chỉ ma! Y còn láo lếu lấy cả địa chỉ một ngôi chùa làm địa chỉ giao dịch!

Song trời không phụ người, sau một buổi chiều tình nguyện viên bị dí chạy te tua bởi một ông tự xưng là cán bộ hưu. Ông này định đánh tình nguyện viên vì dám đặt điều bôi xấu xã nhà, làm gì có chuyện trẻ em nam mà bị lợi dụng. May sao, khi chứng kiến, có một tay "anh chị " trên chốn giang hồ đã âm thầm nhận lời giúp tình nguyện viên. Vì theo anh, đã là giang hồ chính nghĩa thì không được hại trẻ em. Thấy con cái Chúa nhiệt tâm nên anh sẵn sàng giúp đỡ. Thằng thủ ác biến thái này, anh ấy có biết.

Nhờ đó sự việc được bóc tách từ từ, các nhà báo quả cảm cũng đeo bám quyết liệt, pháp luật đã phải vào cuộc, kể cả hội luật gia. Các luật sư mổ xẻ và cho đây là một loại tội phạm mới ở Việt Nam, luật pháp cần phải được thay đổi và bổ sung để bảo vệ trẻ nhỏ.

Quay lại với HĐ, khi ý thức được sự nghiêm trọng của vấn đề, phần xấu hổ mặc cảm, phần sợ hãi cho sức khỏe của bản thân, em có những dấu hiệu trầm uất nặng nề, dù rằng em và gia đình cũng đã đủ dũng cảm nói lên tiếng nói của mình để nhà nước, các cơ quan chức năng có những biện pháp ngăn chặn tội ác.

Tình nguyện viên đã hội ý khẩn cấp và đưa ra các giải pháp tạm thời, bởi trong khả năng bé nhỏ của mình, có những khi họ cũng cảm thấy mệt mỏi và nản lòng bởi cứ chưa hết vấn đề nọ thì vấn đề khác đã nảy sinh, mà với nhiệt tâm thì chưa hẳn là đã đủ.

Tất nhiên, những khi như thế, người linh mục lãng tử luôn đồng hành với các học trò của mình, hướng dẫn họ, trước tiên phải cầu nguyện xin Chúa thêm đức tin, thêm sức mạnh và ban cho sự khôn ngoan để biết cách giải quyết vấn đề, không thể ỷ sức người hạn hẹp, mà phải trông cậy vào lòng Chúa xót thương. Cái tâm có vững, cái trí mới tinh thông, mới có thể hành động đúng đắn.

Theo sự chỉ dẫn của thầy, họ tiếp cận cháu bé nhẹ nhàng, từng chút từng chút đưa cháu về với niềm vui trẻ thơ, thuyết phục cháu đi làm các xét nghiệm y khoa, phòng tránh những bệnh lây nhiễm theo chỉ định của bác sỹ.

Đằng khác tình nguyện viên quay về cha xứ sở tại, là một người nhiệt tâm, ngài đã nêu tội ác đáng lên án này cho giáo dân, góp thêm tiếng nói bài trừ cái ác. Tiến thêm một bước cha đồng ý mở một hội thảo về vấn đề trẻ em bị xâm hại cho các đoàn thể trong xứ, và có những chỉ đạo tích cực trong việc hỗ trợ chăm sóc tinh thần cho cháu bé.

Và từ nơi xa, người mục tử tâm huyết trong việc loan truyền lòng Chúa xót thương đã có một quyết định làm vơi nhẹ nỗi đau và cả gánh nặng cho gia đình cháu là đưa cháu vào chương trình “mỗi tháng cứu giúp một đồng bào”, trợ giúp cha mẹ cháu tiền thuốc thang, điều trị tâm lý cho cháu. Ngài cũng căn dặn các học trò, không được lơ là, phải theo dõi chăm nom cháu bé trong một thời gian đủ dài hòng mong cháu ổn định.

“Và cầu nguyện !” Cha nhấn mạnh để các học trò không được quên, một lời cầu nguyện đơn sơ mà mạnh mẽ : “Lạy Chúa Giê-su, con tín thác vào Chúa!” Không có Chúa, ma quỷ sẽ lộng hành làm loạn ngay, sức người mỏng giòn sao có thể tự thân mà thắng chúng được.

Họ đã chuyên chăm cầu nguyện và hành động để “Lướt Thắng Sự Ác”. Họ lại tiếp tục lên đường vì còn bao bé thơ có số phần thiệt thòi như HĐ cần phải được nâng đỡ.
 Nguồn thanhlinh

Những hình ảnh sa mạc đẹp lạ

 Những hình ảnh sa mạc đẹp lạ
Đường tàu thẳng tắp trên sa mạc rộng lớn ở Australia, tuyết trắng phủ lên khu vực Taklamakan (Trung Quốc) là những bức tranh đẹp lạ đến mê hồn.

Con đường bị cồn cát cắt ngang ở thung lũng Nile, Ai Cập.


Hình ảnh hệ thống thủy lợi ở Jordan.



Ốc đảo Huacachina tại Peru vào ban đêm.



Chiếc đầm bao quanh là cát ở Công viên Quốc gia Lençóis Maranhenses, Brazil.



Cồn cát Rub al Khali nằm ở biên giới của 4 quốc gia: Ả-Rập-Xê-Út, Oman, Yemen và Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống Nhất.



Cồn cát dài đến vô tận ở Namibia.



Cây trơ lá ở hoang mạc Namib, Sossusvlei, Namibia.



Sa mạc trắng ở Ai Cập.



Đường tàu trên sa mạc ở Austraila.



Tuyết bao phủ lên sa mạc Taklamakan, Trung Quốc.



Đảo hồ Crescent ở sa mạc Gobi, Trung Quốc.



Ảnh chụp từ trên cao đáy sông khô cạn ở sa mạc Sonoran, Mexico.



Hệ thống phát điện năng lượng mặt trời Ivanpah ở sa mạc Mojave, California, Mỹ.


*****************************************

Tôi chọn



Tác giả: 
Lm Nguyễn Văn Nghĩa


TÔI CHỌN

Chúa gọi?

Chuỵện thật như bịa thứ nhất: Một người thất vọng uống thuốc sâu tự tử. Xét thấy đương sự lúc sinh thời có một vài biểu hiện thiếu làm chủ bản thân, tôi bèn giải thích cho đoàn tín hữu rồi vẫn tiến hành làm phép xác, tẩm liệm và cho đưa thi hài vào nhà thờ dâng Lễ an táng. Khi đưa thi hài vào nhà thờ, ca đoàn bỗng cất bài hát quen thuộc: “Khi Chúa thương gọi tôi về, lòng tôi hân hoan như trong một giấc mơ. Miệng tôi nức vui tiếng cười…” Tôi đã đắng họng không biết khởi đầu Thánh Lễ bằng lời dẫn nhập nào bèn nói thằng: “Tôi không tin trường hợp này là do Chúa thương gọi về. Chuyện thứ hai: Cũng bài hát đó trong thánh lễ an táng một thanh niên chết vì ẩu đả, bị đâm mấy nhát vào tim, phổi, tôi  cũng khẳng định rằng không đời nào Thiên Chúa gọi người ta kiểu này ra khỏi trần gian. Chuyện thứ ba: Một thanh niên vốn là giáo lý viên của giáo xứ đi làm việc. Qua sông cùng các bạn đồng nghiệp, một bạn đứng lên chụp hình, thuyền chòng chành, lật úp. Sáu thanh niên tử nạn, trong số đó có bạn giáo lý viên ấy. Tôi đến làm phép xác và tẩm liệm tại tang gia. Sau nghi lễ, một vị hội đồng thay mặt tang quyến ngõ lời cám ơn. Và như để an ủi tang gia, cùng với lời cám ơn, vốn đã từng nghe nhiều mục tử khuyên bảo trong các đám tang, vị ấy nói rằng: “Cánh hoa nào đẹp thì Thiên Chúa ngắt về”. Tôi đắng họng khi chợt nhớ tới cảnh tình vừa vị kỷ vừa thiếu văn hoá của một số bà con ở thủ đô Hà Nội khi tham quan một hội hoa đã từng chen chân ngắt giành hoa đẹp làm xấu cả bộ mặt thủ đô nước nhà vài năm trước đây. Sao chúng ta lại nỡ gán ghép cho Thiên Chúa cái hành vi vừa thiếu văn hoá vừa đầy vị kỷ như thế nhỉ? Rất nhiều nạn nhân của các chế độ độc tài chẳng hạn như những cái chết trong các lò hơi ngạt thời phát xít Đức, rất nhiều nạn nhân của các thiên tai như trận động đất gây sóng thần ở Nam Á  ngày 26-12-2004  hay ở Nhật Bản ngày 11-3-2011 vừa qua, phải chăng những cái chết bi thương ấy cũng đều do Thiên Chúa gọi?


Chắc chắn không ai dám to gan gán ghép cho Thiên Chúa là nguyên nhân của những cái chết ấy. Rất có thể cách giải thích nào đó của truyền thống đạo đức đã làm xuất hiện nhiều triết gia vô thần như Jean Paul Sartre hay Albert Camus. Còn chuyện cha già Gioan Baotixita Hồ Sĩ Cai, 91 tuổi, một vị linh mục giáo phận Ban Mê Thuột nghỉ hưu tại Toà Giám Mục. Đêm Thứ Bảy ngài còn nói chuyện với giám mục, còn chuẩn bị để 04g30 sáng hôm sau dâng Lễ thì lúc 4g00 sáng Chúa Nhật ngài đã an bình ra đi. Xin thử hỏi rằng việc an nghỉ ngàn thu của cha già có phải là do Thiên Chúa gọi không? Tôi xin khẳng định rằng không. Ngài ra đi như ngọn đèn hết dầu thôi. Giả như Thiên Chúa gọi thì cái đích của người được gọi phải chính là Thiên Chúa, thì có thể nói nhiều khi chẳng cần lời cầu nguyện, chẳng cần Thánh Lễ…


Chúa chọn?


Một vị hội đồng tâm sự với tôi: “Cha ơi, bà con giáo dân xứ con phàn nàn về cha xứ chúng con đủ điều. Đúng là ngài khó quá, lại nóng nảy nữa chứ. Con đã an ủi họ là các cha, các sơ, các thầy là những người Chúa chọn, nên mình phải cố chịu đựng”. Nhân chuyện Đức Bênêđictô XVI thoái vị, tôi đã kêu gọi bà con cầu nguyện cho Ngài cũng như cho các Hồng Y trong việc bầu tân Giáo Hoàng. Một em thiếu nhi hỏi tôi: “Cha ơi, Giáo Hoàng là do Chúa chọn rồi thì mình cầu nguyện làm gì?” Vậy có phải bất cứ ai được bầu làm Giáo Hoàng cũng là người đã được Chúa chọn? Một câu hỏi xem ra khó có lời giải đáp, dù rằng với niềm tin đại đa số tín hữu thì Giáo Hoàng đều do Chúa chọn. Nếu Chúa đã chọn rồi thì cầu nguyện để làm gì? Và các Hồng Y phải cần có thời gian làm quen, tìm hiểu, cầu nguyện và bầu bán làm gì nhỉ?  Đọc lịch sử Giáo Hội chúng ta có xác tín rằng tất cả những vị Giáo Hoàng đều là do Chúa chọn không? Rồi đến các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, phải chăng đều do Thiên Chúa chọn? Đức tân Giáo Hoàng Phanxicô I bông đùa với các Hồng Y: “Xin Chúa tha tội cho anh em (vì đã dại chọn tôi làm Giáo Hoàng!) (Lời Đức Hồng Y Dolan). Nếu bỗng dưng tôi nói rằng Đức Giáo Hoàng Phanxicô I là không do Chúa chọn thì chắc bà con tín hữu sẽ cho rằng ông cha này “bị chạm” hoặc mất đức tin rồi. (không nghe và không thấy báo đài khắp nơi đều ca ngợi tân Giáo Hoàng chúng ta đó ư?). Nhưng nếu nói rằng Chúa không chọn, nhưng Người soi sáng cho các Hồng y chọn thì chẳng ai dám trách cứ. Cụ thể là phải đến vòng bỏ phiếu thứ năm các Hồng Y mới chọn được tân Giáo Hoàng. Tuy nhiên nếu chỉ có vậy thì chưa đủ và tôi có thể xin phép Đức tân Giáo Hoàng để thêm một tí vào câu dí dỏm của Ngài nói với các Hồng Y ở trên, đó là cũng xin Chúa tha tội cho Ngài, vì nếu Ngài không nhận, nghĩa là không chọn, thì ngai Giáo Hoàng vẫn còn trống.
Vào trần gian, Chúa Kitô đã nên giống chúng ta mọi đàng, ngoại trừ tội lỗi, nghĩa là Người vẫn chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên. Các tin mừng, cách riêng tin mừng thánh Gioan cho ta thấy Chúa Kitô chỉ làm dấu lạ khi cần thiết để mạc khải Nước Trời. Thiên Chúa đã dựng nên vũ trụ vạn vật với quy luật vận hành của nó và Người dựng nên con người có lý trí và ý chí tự do. Thiên Chúa không phải là Đấng thích ngẫu hứng làm phép lạ hoặc thích tuỳ tiện nhúng tay làm thay đổi các quy luật Người đã lập nên.


Sự xuất hiện của một con người mới trên trần gian này là do quyền năng của Thiên Chúa nhưng vẫn lệ thuộc vào sự tự do của con người. Thiên Chúa đã trao ban điều đó thì Người không rút lại. Khi bố mẹ muốn có một sinh linh mới, thì Thiên Chúa phú ban linh hồn. Thậm chí một thai nhi hiện hữu do bởi một hành vi thú tính của hai người nam nữ nào đó (như hiếp dâm, loạn luân…) thì Thiên Chúa cũng phú ban linh hồn. Những trường hợp này có thể khẳng định rằng dù không hợp thánh ý Thiên Chúa nhưng Người vẫn theo quy luật Người đã đặt ra, vì Người không thể mâu thuẩn với chính Người.


Như thế có thể nói rằng sự sinh sôi nẩy nở của nhân loại lệ thuộc vào quy luật tự nhiên và sự tự do mà Thiên Chúa tặng ban cho loài người. Với hệ luận ấy chúng ta có thể khẳng định rằng chính tự do của con người và các quy luật tự nhiên đã làm nên cái chết của con người. Sự ra đi của cha già hưu nói ở trên chỉ là kết thúc quá trình “thành trụ hoại không” của một kiếp người xét như một sinh vật mà nói theo ngôn ngữ bình dân là khi đèn hết dầu thì tự nhiên tắt, thế thôi. Sáng ngày 12-3-2013 trong Thánh Lễ an táng cha già, Đức Giám Mục giáo phận Ban Mê Thuột và Đức Ông Tổng Đại Diện cũng nhìn sự ra đi của ngài như đèn hết dầu. Cái chết của rất nhiểu trẻ thơ vô tội trên bờ  biển Bali – Inđônêsia  hay ở Nhật Bản là do sự vận hành của giới tự nhiên. Cái chết của anh bạn trẻ giáo lý viên vừa là do quy luật tự nhiên: vật nặng rơi xuống nước thì chìm, người không biết bơi thì ngạt thở, uống nước, khi rơi xuống dòng nước sâu và cũng vừa do sự bất cẩn của các bạn đi cùng thuyền và nhiều lý do chủ quan hay khách quan khác. Cái chết của người tự tử thì có thể có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân lớn là cái quyết định của chính họ. Cái chết của nhiều người trong trại Auschwitz thì ai cũng nhận đó là do sự độc ác của nhà độc tài Hitler và nhiều người dưới quyền ông ta lúc bấy giờ. Chúng ta có thể khẳng định rằng cùng với quy luật của giới tự nhiên đã tạo lập thì Thiên Chúa còn trao ban cho con người quyền chọn lựa trên chính sự sống lẫn sự chết của mình và của nhau. Đây là một hồng ân cao cả nhưng cũng là một thách đố khó vượt qua. Nếu có sự lựa chọn nào xấu xa, gây hậu quả nghiêm trọng cho bản thân, cho tha nhân, cho xã hội và giáo hội thì xin chớ đổ thừa cho Thiên Chúa.


Trở lại với các bậc sống, các vai vị trong giáo hội. Lật các trang Tin mừng chúng ta nhận ra hiện thực này: Khi vào trần gian, Đấng luôn tự xưng là Con Người đã thức suốt một đêm trắng để cầu nguyện rồi sáng hôm sau chọn gọi Nhóm Mười Hai đặt làm Tông đồ. Chúa Cha không đích thân chọn nhưng Người trao phó cho Đấng làm người chọn tập thể Nhóm Mười Hai. Các bậc sống: tu sĩ, linh mục, giám mục hay các vai vị: Bề trên cộng đoàn, Bề trên Tổng quyền, Quản xứ, Giám mục giáo phận…và cả Giáo Hoàng thì Thiên Chúa cũng trao phó cho con người quyết định chọn lựa cho chính mình hay cho người khác. Đã có chọn lựa thì có thể đúng có thể sai, có thể đúng và đẹp thánh ý Thiên Chúa và cũng có thể chưa. Chúng ta tin rằng dù có lúc con người chọn sai nhưng Thiên Chúa vẫn luôn hướng dẫn dòng lịch sử nhân loại theo lòng từ bi và quyền năng của Người, nói theo ngôn ngữ tu đức là Thiên Chúa vạch đường thẳng bằng những nét cong của con người. Tuy nhiên nội dung niềm tin này không hề xem nhẹ hay bỏ qua vai trò chọn lựa của loài người. Sự chọn lựa của con người qua các quyết định căn bản luôn có đó vai trò thiết yếu làm nên sự sống sự chết, làm nên hạnh phúc hay đau khổ cho mình và tha nhân đến độ thánh giáo phụ Âugustinô dám khẳng định rằng “Thiên Chúa có thể dựng nên tôi mà không cần có tôi nhưng Người không thể cứu độ tôi mà không cần có tôi”.


Phó mặc mọi sự cho Thiên Chúa là một hành vi lỗi Đức Cậy cũng giống như thái độ quá cậy dựa vào sức riêng của mình. Thiên Chúa dựng nên loài người giống hình ảnh Người và Người muốn tạo vật cao cả này vốn được ban cho linh hồn với hai cơ năng là sự hiểu biết và ý chí tự do, phải biết sống cách trưởng thành để cộng tác với Người hoàn thành công cuộc sáng tạo. Nhiệm vụ vinh dự này vừa nói lên nét cao cả của con người cũng vừa là chìa khoá mở cánh cửa vào sự sống đời đời của con người để hưởng vinh phúc vĩnh cửu hay để trầm luân mãi mãi.


Tản mạn đôi điều về sự chọn-gọi chỉ mong sao Kitô hữu chúng ta đừng hữu ý hay vô tình làm cớ cho sự dữ tồn tại khiến nhiều người đã từng phẩn uất và đã chọn con đường “vô thần”. Công đồng Vatianô II cũng đã từng nhìn nhận phần trách nhiệm của Kitô hữu khi sống quá thụ động khiến cho chủ nghĩa vô thần phát triển. Phải chăng cũng do sự thụ động của chúng ta mà các chế độ độc tài vẫn còn tồn tại? Phải chăng vì sự thụ động của chúng ta mà xã hội vẫn còn tồn tại nhiều bất công, gian dối, bạo lực, hận thù, áp bức?


          Sự sống, sự chết, đau khổ, hạnh phúc của bản thân và tha nhân một cách nào đó đang ở trong sự lựa chọn của chúng ta. Thay vì chủ trương như Tổng thống Obama là “freedom of choice” thì Kitô hữu chúng ta phải biết cầu nguyện trong chân thành và khiêm hạ rồi  can đảm đưa ra những lựa chọn, quyết định cách sáng suốt và có trách nhiệm. Có thể nói rằng tương lai của xã hội, của dân tộc, của đất nước, của Giáo hội đang tuỳ thuộc sự lựa chọn của mỗi người chúng ta vậy. Một câu hỏi rất thời sự: “Đâu là sự lựa chọn của bạn, của tôi về nội dung Bản Hiến Pháp nước nhà đang được đề nghị sửa đổi?”



Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột
Nguồn thanhlinh

14/3/13

Ngất ngây vẻ đẹp của bướm trong suốt

Ngất ngây vẻ đẹp của bướm trong suốt












  Nguồn thanhlinh

13/3/13

Thế giới mong chờ gì nơi vị Tân Giáo Hoàng?

Thế giới mong chờ gì nơi vị Tân Giáo Hoàng?
Lm. Nguyễn Hữu Thy3/12/2013

Thế giới mong chờ gì nơi vị Tân Giáo Hoàng?

Hôm nay không chỉ 1 tỷ 3 người Công Giáo trên các châu lục mà cả thế giới đang hướng nhìn về Roma để nghe ngóng và theo dõi cuộc mật nghị bầu Tân Giáo Hoàng – Conclave – của các Đức Hồng Y qua trung gian của trên 5.000 ký giả đại diện báo chí khắp thế giới đang có mặt tại quãng trường Thánh Phêrô.

Vào hậu thời trung cổ cách đây khoảng 800 năm, lần đầu tiên các vị Linh Mục và các công dân thành phố Roma đã tụ họp để bầu vị Tân Giám Mục cho giáo phận Roma của họ, Đức Giáo Hoàng. Để sự bầu chọn của họ hoàn toàn được tự do và dân chủ, chứ không bị áp lực của chính quyền hay của những thế lực khác luôn tìm cách đe dọa, lôi kéo, chi phối và phá hoại, các vị Linh Mục và cộng đồng dân cư Roma đã tụ họp trong một phòng lớn và khóa trái cửa lại. Chính vì vậy, cuộc mật nghị bầu Giáo Hoàng của các Đức Hồng Y được gọi là “Conclave” – Căn phòng khóa kín.

Tuy nhiên, Conclave đầu tiên vào năm 1241 để bầu Đức Tân Giáo Hoàng vẫn không thoát khỏi áp lực của thế quyền Roma vào lúc bấy giờ. Nhà độc tài Matteo Orsini đã ra lệnh bao vây không cho mang bánh và nước uống tiếp tế cho các Đức Hồng Y, Linh Mục vào giáo dân đang tham dự cuộc bầu chọn Giáo Hoàng, vì ông muốn cuộc bầu chọn phải diễn ra thật nhanh chóng và theo cách thức ông đề nghị. Đứng trước sự đe dọa quá lớn cho mạng sống của mình, các Đức Hồng Y đã không thể làm gì khác được. Đây quả thực là một cuộc bầu chọn Tân Giáo Hoàng trong tủi nhục. Và kết quả là Đức Hồng Y Goffredo Castiglioni, một Tu Sĩ Dòng Xitô và là cháu ruột của Đức Giáo Hoàng Urban III, được bầu làm Giáo Hoàng với tước hiệu Coelestin IV. Nhưng chẳng may, sau khi lên ngôi Giáo Hoàng được 17 ngày thì Đức Coelestin IV bị bạo bệnh và bang hà.

Với truyền thống lâu đời về Conclave như vậy, hôm nay một khi 115 vị Hồng Y có quyền đầu phiếu đã chính thức tham dự vào Mật Nghị bầu Đức Tân Giáo Hoàng, thì các ngài chỉ được phép rời khỏi nơi trọ của mình là Nhà Nguyện Sixtine (nơi bầu chọn) và nhà nghỉ Santa Marta (nơi ngủ nghỉ) để tiếp xúc với thế giới bên ngoài sau khi đã bầu được Đức Tân Giáo Hoàng.

Trong các lần bầu chọn Tân Giáo Hoàng trước kia, để có được một vị Tân Giáo Hoàng hợp thời đại, người ta thường dựa theo hai tiêu chuẩn “canh tân” hay “bảo thủ” để bầu chọn. Nhưng hiện nay chắc chắn lại khác, vì thời thế và hoàn cảnh đã hoàn toàn thay đổi.

Sau khi hai triều đại Giáo Hoàng mang hai sắc thái khá khác nhau vừa qua đi – một Giáo Hoàng nặng tinh thần mục vụ Wojtyla và một Giáo Hoàng bác học Ratzinger – có lẽ người ta đang chờ mong một vị Tân Giáo Hoàng có khả năng trỗi vượt về tổ chức và giải quyết tốt các khủng hoảng chăng? Một vị Giáo Hoàng có đủ tự tín và bản lãnh để dám đưa ra một sự canh tân đúng đắn và khẩn thiết cho bộ máy hành chánh của giáo triều Roma? v.v…

12/3/13

Từ Nhà Thánh Marta tới Nhà Nguyện Sistine

Từ Nhà Thánh Marta tới Nhà Nguyện Sistine
Vũ Văn An3/12/2013

Ngày thứ nhất của cơ mật viện đã qua với làn khói đen trên nóc Nhà Nguyện Sistine. Nhật ký Tờ The Tablet của Anh ghi vắn tắt: 18 giờ 48, khói đen, nhiều tiếng than thất vọng nổi lên tại Công Trường Nhà Thờ Thánh Phêrô. Đức Hồng Y Dolan của Mỹ, người chỉ mang theo rất ít đồ dùng cá nhân, ít đến độ, trong một tin nhắn cuối cùng gửi giáo phận New York trước khi tham dự cơ mật viện, ngài thú thật: nếu cơ mật viện kéo dài, chắc chắn ngài phải tự giặt lấy quần áo và phơi khô ngoài cửa sổ mới có đủ đồ thay! nhưng ngài không vội thất vọng đến thế.

Trái với những suy đoán của báo chí, trong tin nhắn ấy, viết vào ngày 12 tháng 3, Đức Hồng Y Dolan tóm tắt cảm nghĩ của ngài về những ngày sống tại Nhà Thánh Marta trước khi có Cơ Mật Viện: đó là 12 ngày cực kỳ thông sáng đối với tôi, tôi có dịp quen biết các hồng y anh em của tôi nhiều hơn. Bầu không khí ở đây là bầu không khí cầu nguyện, tín thác, hân hoan thanh thản, và tin tưởng, với những cuộc đàm đạo hết sức chân tình về các vấn đề cấp thiết của mục vụ và các thách đố của Giáo Hội Hoàn Vũ và vị Cha Chung sắp tới.

Phản ảnh phần nào các lắng lo của dân Chúa, và gián tiếp các đòi hỏi một chiều, đầy phiến diện của dư luận thế tục, Đức Hồng Y Dolan kể lại nhận định của một hồng y anh em sau khi nghe người ta liệt kê các phẩm tính mà vị giáo hoàng tương lai “phải có” rằng: “hình như bọn mình có nhiệm vụ bầu Chúa Kitô, chứ không phải vị đại diện Người!”. Đức Hồng Y cho rằng chúng ta đang quá chờ mong ở người kế nhiệm Thánh Phêrô, chờ mong ngài là người hoàn hảo. Nhưng làm gì có người hoàn hảo ở trên cõi đời này. Chúa Kitô không chờ mong một đại diện hoàn hảo nhưng Người cũng không bao giờ bỏ rơi khi vị đại diện này vấp ngã.

Đức Hồng Y cũng cho biết những dự cảm của ngài đối với cơ mật viện: nó sẽ như một cuộc tĩnh tâm: Thánh Lễ mỗi buổi sáng, giờ kinh phụng vụ chung. Dĩ nhiên các hồng y có thể thăm viếng nhau và chuyện trò với nhau tại Nhà Thánh Marta trong các bữa ăn và những giờ rảnh rỗi giữa các lần đầu phiếu. Riêng tại Nhà Nguyện Sistine, thì bầu khí sẽ là bầu khí thinh lặng và cầu nguyện: gần như những buổi phụng vụ!

Các chia sẻ trên vẫn không làm những người Công Giáo như John Thavis khỏi nghĩ rằng tại cơ mật viện, có giờ dành cho cầu nguyện mà cũng có giờ dành cho vận động chính trị (politicking) dù không nên coi cơ mật viện như một đại hội chính trị, như nhiều người tưởng tượng. Theo ông, giờ phút dành cho cầu nguyện diễn ra tại Nhà Nguyện Sistine, nơi mà thủ tục bỏ phiếu diễn ra một cách long trọng khiến “các vị hồng y đến nói với nhau cũng không”. Một phần vì các ngài diễn hành vào đó trong phẩm phục “ca đoàn” như tham dự vào một buổi phụng vụ. Việc vận động phiếu bầu không thể diễn ra trong bầu khí ấy được.

Tuy nhiên, bầu khí ấy thay đổi hẳn lúc các hồng y trở lại Nhà Thánh Marta. “Các ngài bắt đầu nói năng, suy nghĩ về việc bỏ phiếu, và tất nhiên cổ vũ các ứng viên của mình cho các hồng y anh em”. Nhất là trong các bữa ăn: ở đây không ấn định chỗ ngồi, nên các vị hồng y được tự do bắt chuyện với bất cứ ai, đến từ bất cứ phương trời nào và khi bữa ăn tàn, các ngài vẫn có thể tổ chức thành các nhóm nhỏ hơn để chuyện trò cho tới khuya.

Dĩ nhiên, luật cơ mật viện rất nghiêm ngặt về những gì được phép hay không được phép nói. Điều tuyệt đối cấm, vi phạm sẽ bị vạ tuyệt thông, là cam kết hay hứa hẹn khiến một hồng y bỏ phiếu, hay từ khước bỏ phiếu, cho một ứng viên nào đó. Cũng ngăn cấm bất cứ dàn xếp nào nhằm hứa hẹn bổ nhiệm hay một đường hướng hành động nào đó nếu một ứng viên đặc thù được bầu làm giáo hoàng.

Điều cho phép là các “trao đổi quan điểm liên quan đến việc bầu cử”. Điều này rộng rãi đủ để cho phép các hình thức cổ vũ, chào mời (plugs) và ủng hộ được luân lưu một cách âm thầm tại Nhà Thánh Marta. Chính các vị hồng y cảm thấy có bổn phận phải thực hiện các việc này, vì nếu không, cơ mật viện sẽ rất dễ bị bế tắc.

Không khí cầu nguyện như Đức HY Dolan và John Thavis nhắc tới trên đây đã được Sandro Magister nhìn dưới khía cạnh khác, khởi đi từ các bức danh họa tại đó. Người ta thường chỉ nói tới bức danh họa Phán Xét của Michelangelo. Nhưng thực ra trên đường vào Nhà Nguyện Sistine, các hồng y đối diện với nhiều danh họa khác, có ý nghĩa không kém đối với diễn trình bầu giáo hoàng. Magister nhắc đến hai bức khác, ngoài bức Phán Xét này. Đó là bức Chúa trao chìa khóa cho Thánh Phêrô và bức Tiên Tri Giôna.

Theo Magister, nơi cơ mật viện diễn ra quả là nơi độc nhất trên thế giới nhưng các bích họa mà các hồng y thế nào cũng phải để mắt tới cũng sẽ có một tác dụng hết sức độc đáo đối với các ngài, như chính Đức Bênêđíctô XVI, lúc còn là hồng y Joseph Ratzinger từng nhận định: “tôi biết rõ chúng tôi đã chạm trán ra sao trước những bức tranh đó trong những giờ phút quyết định lớn lao như thế này, cách chúng nhắc nhở chúng tôi nhớ đến bổn phận của mình ra sao, cách chúng len lén đưa vào tầm hồn chúng tôi một cảm thức trách nhiệm lớn lao như thế nào. Chính từ ngữ ‘khoá kín’ (cơ mật viện) nhắc chúng tôi nhớ tới ý niệm chìa khóa, nhớ đến di sản chìa khóa đã để lại cho Thánh Phêrô. Đặt để các chìa khóa này trong bàn tay chính đáng: đó là trách nhiệm mênh mông trong những ngày này”.

Thực thế, ngay khi diễn hành từ Sala Regia vào Nhà Nguyện Sistine, 115 hồng y vị nào cũng nhìn thấy bức bích họa nổi danh của Perugino diễn tả cảnh Chúa Giêsu trao chìa khóa cho Thánh Phêrô. Và liền sau đó, trên bức tường phía sau, là bức Phán Xét Chung của Michelangelo và trên bức này là bức đồ sộ vẽ tiên tri Giôna, đối diện đó là Bức Thiên Chúa đang tách ánh sáng ra khỏi bóng tối. Khi đã vào chỗ, các ngài tuyên thệ giữ im lặng với tay đặt trên Tin Mừng, Giôna và Phán Xét trước mặt. Lần này đặc biệt hơn, các ngài được nghe bài suy niệm của ông già hơn 80 tuổi là hồng y Prosper Grech, bậc thầy vĩ đại về giáo phụ học, một đồ đệ và học giả về Thánh Augustinô, vị thánh tác giả của kiệt tác thần học “De Civitate Dei” (Về Kinh Thành Thiên Chúa). Rồi các ngài cầu nguyện và cuối cùng bỏ phiếu, luôn luôn được bao bọc bởi những bích họa dọc bên tường và trên trần Nhà Nguyện Sistine, những bích họa mô tả nguồn gốc thánh thiêng của quyền hành chìa khóa từng được trao cho Thánh Phêrô và các người thừa nhiệm, những chìa khóa mở cửa Nước Trời. Nhưng bức họa ở vị trí nổi bật là Giôna, một bức họa được Đức Julius II ủy nhiệm cho thiên tài Michelangelo, còn nói với các hồng y nhiều hơn thế.

Giôna vốn là vị tiên tri được Thiên Chúa sai đi để rao giảng sự hồi tâm cho dân ngoại. Ông ra đi cách miễn cưỡng, sau đó, nổi loạn chống lại việc Thiên Chúa tỏ lòng nhân hậu đối với dân Ninivê thống hối. Trên vòm Nhà Nguyện Sistine, Giôna thấy tội lỗi lúc nào cũng đồng hành với lịch sử con người, ít nhất, kể từ thời Đại Hồng Thủy, thậm chí cả trước đó nữa, từ những ngày có Ađam và Evà. Là một người chính trực, ông muốn kẻ có tội phải bị trừng phạt. Nhưng rồi, mắt ông đụng phải hành động sáng tạo đầu tiên của Thiên Chúa, Đấng đang tách ánh sáng ra khỏi bóng tối. Và ông bỗng nhận ra: Thiên Chúa không thể chịu đựng được việc những gì Người từng tạo nên từ thuở mới có vũ trụ phải biến mất, Người chỉ những muốn cứu vớt chúng.

“Dấu chỉ Giôna” mà Chúa Giêsu chính thức đem áp dụng vào Người (Mt 12:40), do đó, đã mồn một hiển hiện trong tâm thức mọi hồng y tụ họp nhau để bầu người kế nhiệm Thánh Phêrô. Giống thánh Gioan, Thánh Phêrô và các vị giáo hoàng sau ngài đều được Chúa Giêsu sai đi để rao giảng sự hồi tâm cho con người, vì “Nước Thiên Chúa đã gần kề”. Đó là các chìa khóa đã được trao cho Thánh Phêrô, đó là quyền lực của Giáo Hội, một quyền lực phát sinh từ hành vi sáng tạo của Thiên Chúa và sẽ tỏ hiện trọn vẹn vào phút chót, vào lúc Chúa Kitô phán xử mọi người trên thế gian. Bầu một vị giáo hoàng không phải là việc chỉ liên quan tới Giáo Hội mà liên quan đến trọn bộ sáng thế, cả hiện tại lẫn tương lai.

11/3/13

Hệ thống phá sóng truyền tin được cài đặt để ngăn chặn tiết lộ và liên lạc bên ngoài

Tác giả: 
Thu Linh

 
Hệ thống phá sóng truyền tin được cài đặt để ngăn chặn tiết lộ và liên lạc bên ngoài
 
Tòa thánh loan báo các Đức Hồng Y tại Rôma sẽ bắt đầu bầu vị kế nhiệm Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI vào ngày 12/3/2013.
 
Kể từ thứ Hai, 115 Hồng Y cử tri cùng với khoảng 12 Hồng Y trên 80 tuổi không có quyền bầu, đã thường xuyên họp để bàn thảo về chân dung của vị Giáo Hoàng tương lai và những thách đố mà ngài sẽ phải đối diện là một người lãnh đạo Giáo hội Công Giáo.
 
Ngày thứ Ba khởi đầu ngày Cơ Mật Nghị dấu chỉ cho thấy một sự thương nhượng giữa các Hồng Y, đặc biệt là các vị tại địa hạt Tòa Thánh thì muốn tiến trình bầu Giáo hoàng khởi sự sớm nhất có thể vào ngày Chúa Nhật, nhưng các Hồng Y từ các giáo phận khắp nơi trên thế giới thì muốn có thời gian để quen biết nhau và thẩm định các ứng viên Giáo hoàng, theo như tường trình của báo chí Ý.
 
Tiến trình cuộc bầu cử sẽ bắt đầu vào thứ sáng thứ Ba với một thánh lễ trọng thể tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô, được biết tới như là "Pro Eligendo Romano Pontifice" hay "Cho cuộc bầu chọn Giáo Hoàng Rôma".
 
Vào chiều thứ Ba, các Hồng Y sẽ rước vào nguyện đường Sistine, nơi các ngài sẽ nghe một bài suy niệm của Đức Hồng Y về hưu Prosper Grech Giáo phận Malta.
 
Tiếp theo sau thánh lễ và tất cả những ai không phải là Hồng Y rời khỏi căn phòng, thì tiến trình bầu cử sẽ bắt đầu dưới bức họa Cuộc Phán Sét cuối cùng của họa sĩ Michael Angelo.
 
Các Hồng y bầu Giáo hoàng mới đòi buộc phải giữ tối mật về tất cả những gì liên quan tới việc bầu Giáo Hoàng.  Sau nhiều tháng những dữ kiện bị rò rỉ ra ngoài cùng với những biện pháp khác đã dẫn tới việc bắt dữ người quản gia riêng của Giáo Hoàng Beneđíctô XVI là Paolô Gabriele, tòa thánh Vatican đã sử dụng các biện pháp ngăn ngừa kỹ thuật cao để  bảo đảm sự bí mật tiến trình bầu cử.
 
Hệ thống phá sóng đã được cài đặt chung quanh nguyện đường Sistine và chung quanh nhà trọ Santa Marta, nơi các Hồng Y sẽ ẩn náu khỏi thế giới bên ngoài trong những ngày Cơ Mật Nghị.
 
Điều này để ngăn ngừa sự nghe lén cũng những như phá sóng các liên lạc giữa các Hồng Y và thế giới bên ngoài.
 
Ngay cả những Hồng Y không rành về kỹ thuật nhưng nhiều vị đã thường xuyên hé lộ tin tức trong thời gian tiền Công Nghị họp đưa đến việc bắt phải chấp nhận một sự cô lập với báo chí trong thời gian bầu cử.
 
Theo phát ngôn viên tòa thánh Linh mục Lombardi thì cảnh sát Vatican sẽ bảo đảm sự di chuyển các Hồng Y từ nhà trọ Santa Marta tới nguyện đường Sistine - khoảng vài trăm mét đi bộ hay lái xe trong Vatican - được bảo vệ khỏi sự giao tiếp với "những kẻ không có phép".
 
Trong thời gian họp tiền Công Nghị được biết đến như là các phiên họp khoáng đại, trên 100 Hồng Y đã phát biểu các vấn đề đa dạng khác nhau như truyền giáo mới cho đến sự quan hệ giữa tòa thánh và các Giám mục địa phương, đối thoại giữa các tổ chức tôn giáo, luân lý vật lý học.
 
Tuy nhiên, những bài thuyết trình trước các Đức Hồng Y khác rất có ích để phác họa chân dung của một Giáo Hoàng tương lai  và những thách đố ngài sẽ phải đối diện. Những sự gặp gỡ trong giờ giải lao hay các bữa ăn chiếm phần quan trọng cho phép các Hồng y gặp gỡ, quen biết nhau và thẩm định phẩm giá ứng viên Giáo hoàng và thích hợp cho công việc cao cấp nhất của Giáo hội.
 
Thu Linh (phỏng dịch)
Nguồn thanhlinh

Mấy giờ có kết quả bầu Giáo Hoàng?

Mấy giờ có kết quả bầu Giáo Hoàng?
Đặng Tự Do3/11/2013

Ngày thứ Ba 12 tháng Ba, sau thánh lễ tại Đền thờ Thánh Phêrô, lúc 15.45 chiều các Hồng Y sẽ rời nhà trọ thánh thánh Mátta để tới dinh Tông Tòa. Lúc 16.30 các vị sẽ đi rước từ nhà nguyện Paolina đến nhà nguyện Sistina. Tại đây, lúc 16.45, có nghi thức tuyên thệ, vị trưởng nghi sẽ tuyên bố “Extra omnes!” Tất cả những người không phải HY cử tri phải ra ngoài!

Các Hồng Y sẽ nghe bài suy niệm do Đức Hồng Y Prospero Grech, 87 tuổi, người Malta, trình bày và sẽ bắt đầu bỏ phiếu lần đầu tiên bầu Giáo Hoàng.

Chúng ta có thể biết được kết quả vào lúc 7 giờ tối theo giờ Rôma. Ở Sàigòn lúc ấy là 1 giờ sáng ngày thứ Tư. Ở Perth là 2 giờ sáng. Ở Sydney và Melbourne là 5 giờ sáng ngày thứ Tư. Và ở Los Angeles là 11 giờ trưa thứ Ba.

Nếu chưa bầu được Giáo Hoàng, trong những ngày kế tiếp mỗi ngày sẽ có 4 lần bỏ phiếu và chúng ta có thể biết kết quả vào 4 thời điểm sau:

Tại Rôma: Vòng thứ nhất: từ 10h30 đến 11h sáng; vòng thứ hai lúc giữa trưa; vòng thứ ba từ 17h30 đến 18h; và vòng thứ Tư lúc 19h.

Tại Sàigòn: Vòng thứ nhất: từ 16h30 đến 17h; vòng thứ hai lúc 18h; vòng thứ ba từ 23h30 đến 24h; và vòng thứ Tư lúc 1h sáng.

Tại Perth: Vòng thứ nhất: từ 17h30 đến 18h; vòng thứ hai lúc 19h; vòng thứ ba từ 0h30 đến 1h sáng; và vòng thứ Tư lúc 2h sáng.

Tại Sydney và Melbourne: Vòng thứ nhất: từ 20h30 đến 21h; vòng thứ hai lúc 22h; vòng thứ ba từ 3h30 đến 4h sáng; và vòng thứ Tư lúc 5h sáng.

Tại Los Angeles: Vòng thứ nhất: từ 2h30 đến 3h sáng; vòng thứ hai lúc 4h sáng; vòng thứ ba từ 9h30 đến 10h; và vòng thứ Tư lúc 11h.
theo vietcatholic

Trang trối

Tác giả: 
Trầm Thiên Thu
Trăng trối

Nói đến lời “trăng trối” (hoặc trối trăng, nhưng thường dùng sai là trăn trối) là có liên quan sự chết. Đó là những điều cần thiết mà người ta muốn “nhắn nhủ” hoặc “nhắc nhở” thân nhân trước khi từ giã cõi đời, kết thúc chuyến lữ hành trần gian.

Nói đến động từ trăng trối là nói đến người sắp chết. Nỗi buồn lan tỏa. Màu tím đượm sầu. Im lặng trĩu nặng. Sâu lắng. Xúc động. Khi chứng kiến một người hấp hối, người ta không khỏi ngậm ngùi, mức độ ngậm ngùi tăng theo tỷ lệ thuận với mức độ thân thích. Có những giọt nước mắt không thể kiềm chế nên chúng tự do trào ra và lăn dài, cõi lòng đau nhói.

Chết là nỗi đau khổ nhất, là thất bại lớn nhất của nhân loại, cả nghĩa đen và nghĩa bóng, và “dầu là Con Thiên Chúa, Đức Kitô đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5:8). Chúa Giêsu bị treo trên Thập giá cũng bị coi là thất bại ê chề! Chết là thất bại lớn nhất của nhân loại. Hầu hết con người đều sợ chết, nhưng vẫn có những con người không tham sống, không sợ chết, dám liều thân vì chính nghĩa. Và người sắp chết luôn luôn nói sự thật.

Trước khi chết, nếu còn gì cần nhắn nhủ, người ta sẽ trăng trối bằng cả tấm lòng. Người nghèo thì chỉ có di ngôn, người giàu thì làm di chúc (chia của cải, đất đai cho con cháu). Đức Kitô quá nghèo, nghèo rớt mồng tơi, nghèo đúng nghĩa: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8:20; Lc 9:58), đến chết cũng bị lột trần. Không chỉ nghèo về vật chất mà Ngài còn “trắng tay” cả về tình cảm: 11 người trong 12 người thân tín nhất của Ngài cũng đang tâm bỏ rơi Ngài. Ngài “trở nên trò cười cho thù địch và cho cả hàng xóm láng giềng. Bạn bè thân thích đều kinh hãi, thấy ngoài đường thì ai cũng tránh xa” (Tv 31:12). Nghèo tột cùng trong nỗi cô đơn cùng cực. Ngài nghèo tới mức không còn thể nghèo hơn. Còn ai nghèo hơn Ngài không?

Vì quá nghèo như thế nên Ngài không có của cải để di chúc, mà chỉ có di ngôn: “Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15:12), là “luật sống” mà Ngài gọi là “điều răn mới” (Ga 13:24) và là dấu chỉ để thiên hạ nhận biết ai là môn đệ của Ngài (Ga 13:35). Ngài không bông đùa, không nói suông, không bóng gió. Phúc âm theo thánh sử Gioan đã nhắc đến động từ “yêu thương” 14 lần, điều đó càng chứng tỏ yêu thương là điều rất cần thiết, như điều kiện ắt có và đủ. “Luật yêu thương nhau” chính là di ngôn trăng trối của Chúa Giêsu cho mỗi chúng ta trước khi Ngài bị giết chết.

“Trong tình yêu chân thật, khoảng cách nhỏ nhất cũng là quá xa, và khoảng cách xa nhất cũng có thể bắc cầu” (Hans Nouwens). Tình yêu thương không có biên giới. Cụ thi hào Nguyễn Du đã cảm nhận: “Bắt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mới được phần thanh cao”. Biết cách chấp nhận thì lòng thanh thản. Còn nhạc sĩ Vũ Thành An, khi chưa làm phó tế vĩnh viễn, đã viết trong một Bài Không Tên: “Triệu người quen có mấy người thân, khi lìa trần có mấy người đưa”. Cuộc đời là thế, và Chúa Giêsu đã chịu tình cảnh thế thái nhân tình như vậy. Tuy nhiên, Ngài không cần chúng ta khóc thương Ngài, như Ngài nói với các phụ nữ Giêrusalem: “Đừng khóc thương Tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23:28). Chúa chỉ muốn chúng ta noi gương Ngài mà yêu thương nhau thật lòng. Đó chính là điều Chúa Giêsu mong muốn!

Lạy Chúa Giêsu, chúng con chỉ là hạt bụi li ti mà làm bận mắt Ngài. Xin giúp chúng con biết thực hiện đúng di ngôn của Ngài để ích lợi cho chính chúng con, chứ chẳng ích lợi gì cho Ngài. Xin cho chúng con biết can đảm chấp nhận thực tế – dù phũ phàng, biết đón nhận đau khổ là niềm hãnh diện về Thập giá (Gl 6:14). Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Nguồn: thanhlinh

Chúa chúc lành cho các bạn ngày đầu tuần


Một ngày đầu tuần, ban biên tập Xin CHÚA CHÚC LÀNH CHO CÁC BẠN và Gd một ngày an bình, vui vẻ, thành công
http://choquanktcn.blogspot.ca

Comment

Translate