19/3/13

Mot Minh và cô đơn


Tác giả: 
Trầm Thiên Thu
Một mình và cô đơn

Một mình hoặc đơn độc chưa chắc là cô đơn hoặc cô độc, vì có thể người đó đang suy tư, đang sáng tác, đang cầu nguyện, đang ngắm nhìn cái gì đó,… Và như vậy thì dù một mình nhưng không hề cô đơn. Cô đơn có thể là chỉ một mình, nhưng người ta vẫn có thể cô đơn khi đứng giữa hàng trăm người. Anh ngữ cũng phân biệt “alone” (một mình) khác với “lonely” (cô đơn, cô độc), Pháp ngữ tương đương là “seul” và “solitaire”. Nhưng nếu vừa một mình vừa cô đơn thì thật trĩu nặng – trĩu nặng cả tâm hồn và thể lý!

Cô đơn là cho đi mà không có người nhận, là muốn nhận mà chẳng có ai cho. Cô đơn là mong ước, mà điều mình mong ước chẳng xảy đến. Cô đơn là chờ đợi, mà người mình chờ đợi không đến. Chỉ có ai đã cô đơn mới có thể hiểu thấu nỗi buồn, mới thấy cái hoang dại trong cuộc đời của kẻ cô đơn như ta. Cô đơn là cảm giác khó diễn tả, không thể gọi tên. Cô đơn là một dạng đau khổ!

Cô đơn cũng có thể là khi một mình lang thang trong mưa, một mình lê bước trên đường đời, khi một mình trong phòng, khi không ai hiểu mình, khi bị gièm pha, khi bị chỉ trích, khi bị đố kỵ, khi bị ghét bỏ,…

Nỗi cô đơn khiến người ta u buồn, và ngược lại, nỗi buồn khiến người ta cô đơn!

Chiều tối Thứ Năm Tuần Thánh, sau khi dùng Bữa Tiệc Ly với các môn đệ, Chúa Giêsu đi vào Vườn Dầu một mình cầu nguyện với Chúa Cha. Có 3 môn đệ thân cận nhất đi theo nhưng các ông lăn ra ngủ khò, chả nước non gì!

Cả chương 17 (gồm 26 câu) trong Phúc Âm theo Thánh sử Gioan là lời cầu nguyện của Chúa Giêsu khi Ngài cô đơn đến tột cùng với bao điều trăn trở, như những lời trăng trối dành cho mọi người – trong đó có chính mỗi chúng ta.

Chúa Giêsu là Thiên-Chúa-Làm-Người, thế nên Ngài có hai bản tính: Thần tính và nhân tính. Về nhân tính, Ngài cũng là một con người bình thường – ngoại trừ tội lỗi. Nghĩa là Ngài cũng cảm thấy vui và buồn như chúng ta. Thế nên, khi biết đến giờ phải chịu khổ hình, Ngài cũng muốn tâm sự nỗi lòng với các môn đệ để được cảm thông, vì nói ra cũng nhẹ lòng phần nào: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy” (Mt 26:38; Mc 14:34).

Nỗi buồn của Chúa Giêsu quá lớn, quá nặng, mà không chỉ buồn mà còn sợ, đến nỗi tưởng chừng có thể chết đi được. Chúng ta cũng chỉ có thể cảm nhận phần nào dù chúng ta cũng đã từng mất người thân yêu nhất.

Nỗi cô đơn chồng chất, nỗi u buồn chồng chất. Sức người phải cố gắng hết sức mới có thể vượt qua. Vì không thể vượt qua cú sốc quá lớn nên một số người đã tìm đến cái chết bằng cách này hay cách nọ: Treo cổ, uống thuốc độc, nhảy sông, nhảy lầu, lao vào xe, tự cắt mạch máu hoặc tự đâm mình,… Một số người khác không tự tử thì bị tâm thần, mức độ nặng nhẹ khác nhau. Nói chung, nỗi buồn quá lớn khiến người ta bị nhiều dạng tâm bệnh.

Có lần Chúa Giêsu nói: “Sẽ đến giờ Thầy không còn dùng dụ ngôn mà nói với anh em nữa, nhưng Thầy sẽ nói rõ cho anh em về Chúa Cha, không còn úp mở” (Ga 16:25), các môn đệ khoái chí lắm. Rồi Ngài nói tiếp: “Chính Chúa Cha yêu mến anh em, vì anh em đã yêu mến Thầy, và tin rằng Thầy từ Thiên Chúa mà đến.28 Thầy từ Chúa Cha mà đến và Thầy đã đến thế gian. Thầy lại bỏ thế gian mà đến cùng Chúa Cha” (Ga 16:27-28), thế là các ông nhao nhao giành nhau nói: “Đấy, bây giờ Thầy nói rõ, chứ không còn dùng dụ ngôn nào nữa. Giờ đây, chúng con nhận ra là Thầy biết hết mọi sự, và Thầy không cần phải có ai hỏi Thầy. Vì thế, chúng con tin Thầy từ Thiên Chúa mà đến” (Ga 16:29-30).

Thật may mắn cho các môn đệ còn kịp nhận biết Sư Phụ là ai trước giờ sinh ly tử biệt. Nghe vậy, Đức Giêsu xác định bằng cách nói nghi vấn: “Bây giờ anh em tin à?” (Ga 16:31). Như một lời trách. Ngài buồn lắm, vì các ông ở bên Thầy suốt mấy năm trời, ăn dầm nằm dề với nhau, đi khắp nơi, thế mà bây giờ mới nói được một câu “nghe lọt tai”. Nhưng Ngài biết đám học trò mình chỉ nói miệng thôi, thế nên Ngài nói trước: “Này đến giờ, và giờ ấy đã đến rồi, anh em sẽ bị phân tán mỗi người mỗi ngả và để Thầy cô độc một mình” (Ga 16:32).

Và quả thật, ai cũng “bỏ của chạy lấy người”, chạy như ma đuổi, chạy mất dép, chạy đến rơi cả áo vẫn không dám quay lại nhặt, tất cả đều bỏ rơi Chúa khi Chúa cần họ nhất. Chúng ta cũng là những người đã từng đối xử với Chúa Giêsu như vậy. Do đó mà nỗi buồn của Chúa Giêsu quá lớn, nỗi cô đơn của Chúa Giêsu quá sâu!

Vừa mới thề sống thề chết, nói mạnh và chắc như đinh đóng cột, thế mà chỉ nghe mấy đứa đầy tớ gái bàn tán thôi, giáo hoàng tiên khởi Phêrô đã thẳng thừng chối Chúa (x. Mt 16:26-31; Mt 26:30-35; Lc 22:31-34; Ga 13:36-38). Vì không hề còn chút tình nghĩa nào đọng lại nên Phêrô mới dễ dàng chối leo lẻo như thế, và cũng như vậy nên các môn đệ khác mới trốn chạy. Môn đệ nào có “can đảm” lắm cũng chỉ dám đứng xa xa mà thôi. Không thể biện hộ!

May mà ông Phêrô kịp hối hận khi nhìn thấy ánh mắt sâu thẳm của Chúa Giêsu. Đó là ánh mắt cảm thông, yêu thương và tha thứ, có sức xoáy sâu vào tận đáy lòng Phêrô. Chỉ có mỗi chàng trai trẻ Gioan còn dám dứng gần Thánh Giá với Đức Maria.

Thấy các trò như vậy, thấy những người thân đối xử tệ như thế nên nỗi buồn của Chúa Giêsu càng tăng gấp bội, và nỗi cô đơn của Ngài càng căng phồng như sắp nổ tung vậy.

Phàm nhân quá yếu đuối, đầy tội lụy, quá xấu xa, như người-môn-đệ-Chúa-yêu đã nhận định: “Tất cả thế gian đều nằm dưới ách thống trị của Ác Thần” (1 Ga 5:19). Thời nào cũng có sự giả dối có ở khắp nơi, với hàng giả đã đành, đến cả người cũng có nhiều người giả: “Có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian” (1 Ga 4:1).

Sự giả dối của con người khiến xã hội xáo trộn, làm cho người thật cảm thấy buồn và hóa cô đơn. Tại sao? Người chân thật sẽ khó nói chuyện với người giả dối, bị người giả dối ghét, bị người giả dối khinh miệt, bị người giả dối trù dập, bị người giả dối chơi khăm, bị người giả dối thù hằn, bị người giả dối lừa bịp, bị người giả dối cô lập, bị người giả dối chơi gác,…

Những người giả dối còn vào hùa với nhau để hại người chân thật bằng nhiều thủ đoạn và mánh lới. Vì thế, người chân thật không chỉ có một mình mà còn chịu cảnh cô độc.

Chúa Giêsu đã bị bọn thủ ác cô lập, gài bẫy và bị sát hại đến chết. Những người chân thật theo tinh thần Đức Kitô cũng sẽ luôn bị như vậy: “Tôi tớ không lớn hơn chủ” (Ga 13:16; Ga 15:20). Nhưng ai dám giữ vững lập trường, không a dua, không sợ “lạc bầy”, cứ là chính mình, không sợ một mình, chẳng ngán cô đơn,… đó mới là môn đệ đích thực của Đại Sư Giêsu vậy!

Quả thật, chỉ có ai cùng chết với Đức Kitô thì mới xứng đáng được sống lại với Ngài: Đó chính là niềm tin của chúng ta (Rm 6:8).

TRẦM THIÊN THU
Lễ Đức Thánh Giuse Phu Quân Đức Maria, 19-3-2013

Chúc mừng bổn mạng Thánh Giuse


Chúa chúc lành cho các bạn một ngày mới an lành trong Chúa
Hôm nay kính Thánh Giuse bạn trăm Đức Maria, Xin Chúa chúc lành cho tất cả gia trường, các em, anh trai đã chọn Thánh Giuse là bổn mạng của mình, được giống Ngài nhiều hơn. Amen

18/3/13

Đức Thánh Cha Phanxicô: Lòng Thương Xót Có Sức Biến Đổi Thế Giới

Tác giả: 
Nguyễn Minh Triệu Sj

Đức Thánh Cha Phanxicô: Lòng Thương Xót Có Sức Biến Đổi Thế Giới

VATICAN. Hơn 150 ngàn người đã tham dự buổi đọc kinh Truyền Tin đầu tiên trong triều đại Giáo Hoàng của ĐTC Phanxicô trưa Chúa Nhật ngày 17 tháng 03 năm 2013. Từ sáng sớm rất nhiều tín hữu và khách hành hương đã tuôn về Quảng trường Thánh Phêrô để tham dự buổi đọc Kinh Truyền Tin và gặp gỡ vị Giáo Hoàng thứ 266 của Giáo Hội Công Giáo. Ngài là vị Giáo hoàng đầu tiên đến từ tân thế giới và là người đầu tiên lấy danh hiệu Phanxicô.


Các con đường dẫn vào Roma đều bị phong tỏa, rất nhiều nhân viên an ninh và tình nguyện viên đã được huy động để hướng dẫn và giúp đỡ các tín hữu và khách hành hương. Ngoài ra còn có 300 tình nguyện viên sẵn sàng giúp những người khuyết tật mong muốn gặp gỡ Đức Thánh Cha. Vì số lượng người tham dự quá đông, ban tổ chức đã bố trí 4 màn hình khổng lồ để những người ở xa cũng thấy được ĐTC. Dân chúng đứng tràn ra tới đường Hòa Giải.


Đúng 12 giờ trưa, ĐTC Phanxicô xuất hiện tại cửa sổ phòng làm việc của ngài trông xuống quảng trường, giữa tiếng reo vui mừng của các tín hữu. Trong bài huấn dụ ngắn trước khi đọc kinh, sau lời chào, Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh đến lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho mỗi người chúng ta. ĐTC nói:


“Sau cuộc gặp vào thứ 4 tuần trước, hôm nay một lần nữa tôi lại có cơ hội để gặp gỡ anh chị em. Tôi hạnh phúc vì chúng ta gặp gỡ nhau trong ngày Chúa Nhật, ngày của Thiên Chúa. Điều này thật đẹp và quan trọng đối với mỗi người Kitô hữu chúng ta. Chúa Nhật là ngày chúng ta gặp gỡ, chào hỏi, và chia sẻ cho nhau, điều mà chúng ta đang làm tại quảng trường này.

Trong Chúa Nhật thứ 5 Mùa Chay hôm nay, Lời Chúa trình bày cho chúng ta câu chuyện về người phụ nữ ngoại tình được Chúa cứu khỏi án tử hình. Chiêm ngắm thái độ của Đức Giê-su, chúng ta không nghe thấy những lời trách mắng, những lời kết án, nhưng là lời của tình yêu, lời thương xót mời gọi chúng ta hoán cải.
Anh chị em thân mến, gương mặt của Thiên Chúa là gương mặt của người cha đầy lòng thương xót, Ngài luôn kiên nhẫn với chúng ta. Anh chị em hãy nghĩ về sự kiên nhẫn của Thiên Chúa dành cho chúng ta, không phải Thiên Chúa luôn kiên nhẫn với mỗi người chúng ta sao? Vâng, đây chính là lòng thương xót của Thiên Chúa. Ngài luôn kiên nhẫn để hiểu, chờ đợi và không mệt mỏi tha thứ cho chúng ta nếu chúng ta biết quay lại với Ngài với tất cả con tim. Thánh vịnh viết rằng: “Lòng thương xót của Thiên Chúa vĩ đại dường bao”.

Tiếp đến Đức Thánh Cha nói rằng, trong những ngày này Ngài đã đọc một tác phẩm của thần học gia Kasper. Và chính tác phẩm đã gợi hứng cho ngài về lòng thương xót của Thiên Chúa. Ngài nói:


“Đức Hồng Y Kasper nói về việc lắng nghe lòng thương xót, và lời này có thể biến đổi tất cả. Lòng thương xót có thể làm cho thế giới trở nên ấm áp hơn và công bằng hơn. Do đó, chúng ta cần hiểu lòng thương xót của Thiên Chúa, Ngài là một người cha đầy lòng thương xót đối với mỗi người chúng ta. Hãy nhớ lại lời của ngôn sứ Isaia: “Tội các ngươi dầu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết. có thắm tựa vải điều, cũng hóa trắng như bông” (Is 1,18). Lòng thương xót đẹp biết bao!”

Sau đó ngài kể lại một câu chuyện trong kinh nghiệm mục vụ của ngài. Ngài nói:


“Tôi nhớ, vào năm 1992, khi còn là Giám mục, tôi đi dâng lễ tại một nhà thờ cho các bệnh nhân. Trong thánh lễ này tôi cũng giải tội cho một số người. Cuối thánh lễ, tôi đứng dậy vì tôi phải ban bí tích thêm sức. Lúc đó, có một người phụ nữ lớn tuổi tới gần tôi, bà rất khiêm nhường. Tôi nhìn người phụ này và nói với bà:
“Thưa bà, bà có muốn xưng tội không?”
Bà đáp: “Thưa có.”
“Nhưng nếu bà không có tội…”.
Và bà trả lời tôi rằng: “Tất cả chúng ta đều có tội”.
“Nhưng có lẽ Thiên Chúa sẽ không tha thứ cho chúng ta”, Tôi nói.
Bà đáp lại: “Chắc chắn Thiên Chúa tha thứ tất cả”.
“Nhưng làm sao bà biết, thưa bà?” Tôi hỏi lại.
“Vì nếu Thiên Chúa không tha thứ cho chúng ta, thế giới này sẽ không tồn tại”. Nghe những lời đó, tôi định hỏi bà rằng: “Bà ơi, nói cho tôi biết, phải chăng bà học ở trường đại học Gregoriana.” Bởi vì đây chính là sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần. Một sự khôn ngoan nội tâm về lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúng ta đừng bao giờ quên lời này: Thiên Chúa không bao giờ mệt mỏi tha thứ cho chúng ta, không bào giờ! Và vấn đề của chúng ta là gì? Thưa, vấn đề là chúng ta chán nản, chúng ta không muốn, chúng ta không mong muốn sự tha thứ. Ngài không bao giờ bỏ cuộc, không bao giờ! Thiên Chúa là người cha yêu thương luôn tha thứ. Ngài có một trái tim đầy lòng thương xót dành cho tất cả chúng ta. Và chúng ta cũng cần học và thương xót người khác. Chúng ta hãy cầu xin sự chuyển cầu của Mẹ Chúng ta, vì chính ngang qua mẹ, lòng thương xót của Thiên Chúa đã được thực thi giữa con người.”


Tiếp đến, Đức Thánh Cha cảm ơn mọi người và ngài cũng xin mọi người tiếp tục cầu nguyện cho Ngài. Ngài nói:


“Tôi xin gửi lời chào đến tất cả khách hành hương, cảm ơn các bạn vì đã tiếp đón và cầu nguyện cho tôi. Hãy cầu nguyện cho tôi, tôi xin anh chị em hãy cầu nguyện cho tôi. Tôi cảm ơn các tín hữu tại Roma và toàn thể anh chị em đến từ nhiều nơi trên thế giới cũng như những ai theo dõi qua các phương tiện truyền thông. Tôi chọn Thánh Phanxicô làm Đấng bảo trợ cho triều đại giáo Hoàng của tôi vì ngài là một người Ý. Tôi muốn có một sự gắn bó thiêng liêng với vùng đất này, là nguồn gốc của tôi. Thế nhưng, Đức Giê-su cũng mời gọi chúng ta trở thành thành viên của một gia đình mới, gia đình của Thiên Chúa, để chúng ta cùng bước đi trên con đường Tin Mừng. Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành cho anh chị em, và đừng bao giờ quên rằng, Thiên Chúa không bao giờ mệt mỏi trao ban sự tha thứ.”


Cuối cùng Đức Thánh Cha ban phép lành cho tất cả những người hiện diện.

Radiovatican
Nguyễn Minh Triệu Sj

Nguồn Thanhlinh

17/3/13

CUA LẦM

CƯA LẦM
________________________________________

Một bệnh nhân đến gặp bác sĩ và than thở về cái chân đau của mình.

Bệnh nhân: thưa bác sĩ mặc dù cái chân của tôi đã cưa rồi nhưng cái chân khác của tôi nó cứ đau?

Bác sĩ: Ôn tồn nói; tôi rất hân hạnh được báo cho anh biết hai tin rất quan trọng, là tin BUỒN và tin VUI; anh muốn nghe tin nào trước tùy anh lựa chọn. Tuy rất đau nhức nhưng anh vẫn can đảm đón nghe là tin gì;

Bệnh nhân: xin bác sĩ cho biết tin vui trước ạ.

Bác sĩ: tôi chia vui với anh vì trong tương lai cái chân bị cưa sẽ không còn bị ung nhọt hay làm anh bận tâm về nó nữa.

Tuy cơn đau đã lên nhưng vì tính tò mò nên bệnh nhân cũng ráng chịu đựng để nghe cái tin thứ hai.

Bác sĩ: tôi xin thành thực chia buồn cùng anh vì chúng tôi đã cưa lộn chân anh, và chút xíu nữa chúng tôi sẽ tiến hành cưa nốt cái chân đó.

Anh bệnh nhân nghe tới đây thăng luôn.

Hạnh Nguyễn

NGUỒN: NỤ CƯỜI NHÀ ĐẠO

XƯNG TỘI ... BẰNG E-MAIL

XƯNG TỘI ... BẰNG E-MAIL
________________________________________

Một anh thanh niên e-mail cho cha sở của mình:

- " Thưa cha đã mấy năm nay con chưa xưng tội …. Bởi vì con bận lắm ….cả ngày cứ phải ngồi làm việc trước computer …. hôm nay con muốn xưng tội với cha …. Nói tóm lại, trong mười điều răn Đức Chúa Trời, tội nào con cũng có phạm cả , không ít thì nhiều, khi nào cũng có, kể cả những tội quên tội sót …. Vậy xin cha ban phép tha tội cho con !"

Cha liền e-mail lại cho anh :

- " Những tội thuộc về điều răn 1, 2, 3 thì con phải liệt kê chi tiết tội ra và e-mail đến địa chỉ này : DUCCHUACHA @ THIENDANG. NET

- " Những tội thuộc về điều răn 4, 5 thì con cũng phải liệt kê chi tiết và e-mail về địa chỉ : DUCCHUACON @ THIENDANG.NET

- " Những tội có liên quan đến điều răn thứ 6, 7 , 8, 9, thì con cũng viết rõ chi tiết ra và gửi đến địa chỉ : DUCCHUATT @ THIENDANG.NET

- " Về phần làm việc đền tội thì con hãy làm như sau :

- " Việc đền tội cho các điều răn 1, 2, 3 thì con phải vào trang Giáo Lý Công Giáo và đọc hết những phần trong đó, địa chỉ là: ( www. Thiênđàng. org / thầnhọcvàtôngiáo / giáolýtântòngvàngườilớn/ )

- "Việc đền tội cho các điều răn 4 , 5 thì đọc hết các phần của trang ( www. Thiênđàng . org / đờisốngKitôhữu / vănhóacộnđồng / )

- "Việc đền tội cho các điều răn 7, 8, 10 thì phải đọc hết trang ( www. Thiênđàng . org / hỏiđểsốngđạo / khảocứu / )

- "Việc đền tội cho điều răn 6, 9 thì vào trang ( www. Thiênđàng . org / điểmnóng / )

- Lời khuyên cuối cùng là muốn cho đời vui tươi sáng sủa thăng tiến hơn thì vào trang : ( www. Thiênđàng . org / chuyệncườinhàđạo / )

- Chúc con luôn được bình an !!!

Nguồn: Nụ cười nhà Đạo

Phép lạ đời thường

VRNs (17.03.2013)Chicken Soup for the Soul  - Bạn có thể giẫm lên hùm thiêng, rắn độc; đạp nát đầu sư tử, khủng long. Thiên Chúa nói: “Kẻ gắn bó cùng Ta sẽ được ơn giải thoát, người nhận biết danh Ta sẽ được sức phù trì. Khi kêu đến Ta, Ta liền đáp lại, lúc ngặt nghèo có Ta ở kề bên” (Tv 91:13-15).

Bạn tôi là Steve sống ở Bờ Biển Đông nhưng thường đi công tác tới Minnesota. Trong một chuyến công tác, khi anh đang ăn tối tại một nhà hàng Hy lạp thì anh chú ý thấy một nữ phục vụ đang nhìn mình khác thường. Anh bắt chuyện với cô ấy và biết cô ở một thành phố nhỏ ở Hy lạp.
Anh giải thích: “Đó chính là nơi người anh song sinh với tôi tên Tom đang sống! Anh tôi là học giả nghiên cứu các tượng của Chính thống giáo Hy lạp”. Cô gái nói: “Tôi biết. Tôi thấy anh giống anh Tom ngay khi tôi vô đây”. Cô mới trở lại làm việc sau chuyến về thăm quê hương ở Hy lạp, và cô đã gặp Tom tại một tiệm sách.
Steve tin điều gì xảy ra cũng có một lý do nào đó, và vài tuần sau anh biết lý do đó là cuộc gặp gỡ tình cờ với cô phục vụ người Hy lạp kia. Anh về quê ở Bờ Biển Đông thì nghe tin anh Tom bị thương nặng ở Hy lạp.
Đó là ngày lễ Mẹ Mông Triệu theo lịch Chính thống giáo Hy lạp. Tom đi dọc con đường ít người qua lại gần tu viện Byzantine monastery trên núi Athos thì bất ngờ đá lở làm anh bị thương bất tỉnh. Khi Steve đến nơi thì thấy còn đầy vết máu. Anh Tom bị giập tay trái, chân phải bị gai đâm đầy và chân trái bị kẹt trên vách đá.
Tom không hiểu tại sao anh lại không bị văng ra xa. Anh chợt nhận ra mình đang được một phụ nữ vác đi, tay bà ôm lưng anh. Anh nhận ra màu đỏ sẫm (crimson) giống các tượng mà anh nghiên cứu. Mẹ Maria được vẽ màu áo đỏ sẫm như vậy. Tom nhắm mắt lại. Khi anh mở mắt ra thì xung quanh anh đầy ánh sáng trắng, một lúc sau thì hết.
Bị thương nặng thập tử nhất sinh, anh không thể cử động. Anh nhìn lên những ngọn cây phía sau và đắn đo quyết định. Một lúc sau, anh thấy thất vọng. Anh cố lách ra khỏi tảng đá cho bớt đau, hẳn không ai tình cờ thấy anh bị thương ở nơi hẻo lánh như vậy, thế thì chỉ có chờ chết thôi.
Một tiếng nói vang lên trong anh: “Đừng làm vậy! Anh nghĩ mình là ai mà có thể quyết định số phận của mình chứ?”. Được linh hứng ký lạ, bản năng sinh tồn trỗi dậy và anh cảm thấy đủ mạnh để bò lách ra khỏi tảng đá.
Tom sống qua ba ngày sau nhờ kem đánh răng, rong rêu, ít hạt đậu và ít nho khô. Nước thì vắt lấy từ đất ướt, rồi liếm cho đỡ khát. Nho khô phơi sương đêm cũng được thêm ít nước. Nghe có tiếng máy ghe chạy, anh ráng sức gọi lớn. Trong đêm tối, anh cố tưởng tượng những khuôn mặt những người thân đến đưa thức ăn và thức uống. Rồi thầm cảm ơn họ đến cứu mình…
Cuối cùng, vào ngày thứ ba, tiếng kêu cứu của Tom được nghe thấy. Các tu sĩ và dân làng Hy lạp đi cùng đội cứu hộ đến đưa anh đi cấp cứu. Bác sĩ chẩn đoán anh bị gãy xương đòn và xương cổ, vai bị trật khớp, bên sườn bầm tím và tay trái bị thương nặng. Họ nói đó là nhờ phép lạ, dù tay bị giập 2/3 mà không bị nhiễm trùng, thần kinh không bị tổn thương và động mạch không bị đứt.
Khi Steve nghe anh mình bị tai nạn trầm trọng, anh sợ Tom có thể thiếu thuốc men vì ở một vùng xa xôi như vậy ở Hy lạp. Steve nhớ lại cô phục vụ người Hy lạp, cô có nói đến một bác sĩ địa phương đã chữa trị cho anh Tom bình phục.
Dù khó hồi phục, Tom vẫn biết đó là một phép lạ mà Mẹ Maria đã là người cứu giúp đầu tiên vào ngày anh bị nạn. Nhưng đó không là phép lạ cuối cùng.
Trong thời gian nghỉ dưỡng, Tom xem lại 12 bức tranh anh đã vẽ trước khi bị tai nạn. Anh đặt tên cho chúng là “Ra Khỏi Bóng Tối”. Các bức tranh này cho thấy có bóng người thoát ra khỏi cái gì đó, rồi trườn bò trên nền đất. Người đó đi từ bóng tối ra ánh sáng như cảnh tượng điễn ra. Khi Tom vẽ chúng, ý anh muốn phác họa chân dung cuộc sống như một trò chơi làm nóng, một bước sa sút tới điểm cuối cùng là sự chếtsự sống vĩnh hằng. Xem lại những bức tranh sau khi bị tai nạn, anh ngạc nhiên khi thấy có điểm rất giống với tai nạn anh vừa bị. Có thể Thiên Chúa muốn anh chú ý và lắng nghe. Khi vẽ tranh, Tom ở trong một vực thẳm tâm linh (spiritual abyss), bị trầm cảm và cảm thấy thờ ơ với Thiên Chúa.
Trong thời gian nghỉ dưỡng, anh có kinh nghiệm về việc phát triển tâm linh. Tràn đầy niềm tin, hy vọng và bác ái, anh dành thời gian giúp đỡ những người đau khổ trên khắp thế giới. Anh biết mình không bao giờ đơn độc. Thiên Chúa luôn ở bên chúng ta, như chính Đức Kitô đã xác định: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt. 28:20).
Tom không coi tai nạn kia là “xui xẻo”. Anh luôn tin mọi thứ xảy ra đều có một nguyên nhân nào đó. Anh nói: “Chúng ta chỉ cần sẵn sàng lắng nghe và hành động theo sứ điệp mà mình nhận được”.
TRẦM THIÊN THU
(Chuyển ngữ từ Chicken Soup for the Soul: A Book of Miracles)

Hướng về Tuần Thánh

VRNs (17.03.2013) – Sài Gòn – Chúng ta nghe nói nhiều về các linh mục lạm dụng tình dục (dù chỉ là số ít) và các giám mục không nghiêm nên vẫn bổ nhiệm họ (lax bishops who reassigned them). Có những chuyện về các linh mục biển thủ tiền bạc của các giáo xứ. Đó là những vụ bê bối, tội lỗi và kinh tởm.
Không có gì lạ vì các giáo hoàng, hồng y, giám mục, linh mục, tu sĩ, vẫn là con người, nghĩa là vẫn có thể phạm tội. Khi một người sa ngã, điều đó gây tổn thương và gây “sốc”. Người ta mong đợi các nhà lãnh đạo tinh thần thực hiện điều mình giảng dạy. Nếu không thì chỉ là giả hình (hypocrites). Và chúng ta biết Chúa Giêsu nghĩ gì về những kẻ giả hình rồi. Nhưng điều này cũng không lạ. Nếu bạn nghĩ ngày nay tệ hơn ngày xưa, hãy suy nghĩ về những ngày lễ trọng mà chúng ta cử hành trong Tuần Thánh: Thứ Năm tuần thánh và Thứ Sáu tuần thánh.
Trong khoảng 1 giờ sau khi Chúa Giêsu truyền chức các giám mục và các linh mục đầu tiên – 12 tông đồ – điều gì xảy ra?
Họ đã ngủ khi Chúa bảo họ cầu nguyện và canh thức với Ngài; một người đã phản bội Ngài chỉ vì 30 đồng bạc; một người là giáo hoàng đầu tiên đã chối Chúa 3 lần; và người trẻ đã chạy xa vì sợ trong khi Chúa cần họ nhất. Chỉ có một người trung thành là Gioan còn ở lại với Đức Mẹ đứng dưới chân Thánh giá trên đồi Can-vê vào ngày thứ Sáu – ngày có cách gọi lạ là “ngày tốt lành” (Good Friday).
Không là một khởi đầu tốt đẹp cho các giám mục và linh mục. Chỉ vài giờ sau khi thụ phong chức thánh, 11 trong 12 người đã bỏ rơi Chúa Giêsu. Thật là tồi tệ chưa từng thấy!
Chúng ta có nên tha thứ và bỏ qua tội lỗi và tật xấu của các giáo sĩ? Tuyệt đối không nên! (Absolutely not!). Các giám mục và linh mục có nên ngừng tìm kiếm nhân đức lớn lao, sự thánh thiện, và sự hoàn hảo được Chúa kêu gọi? Không bao giờ! (Never!).
Vấn đề là nếu cuộc sống, sinh lực, sự thánh thiện, và tính hiệu quả của Giáo hội tùy vào nhân đức của các giám mục và linh mục. Chúng ta không tin giáo hoàng, hồng y, giám mục, linh mục, hoặc đức ông. Không, chúng ta chỉ tin vào Chúa Giêsu. Chỉ mình Ngài sẽ không làm chúng ta thất vọng, chỉ mình Ngài không bao giờ phạm tội, chỉ mình Ngài không bao giờ nuốt lời hứa, chỉ mình Ngài xứng đáng được chúng ta tin tưởng tuyệt đối.
Đó là lý do xảy ra bi kịch khi ai đó bỏ Chúa Giêsu và giáo hội vì phạm tội, vì bê bối, dù chỉ là tội nhẹ của một giám mục hoặc linh mục. Nếu đức tin tùy vào chúng ta, đó là đã đặt sai chỗ ngay từ đầu. Các giám mục và linh mục có thể đại diện cho Chúa Giêsu chăm sóc Giáo hội của Ngài, dù lúng túng, nhưng giám mục và linh mục không là Chúa Giêsu và Giáo hội của Ngài.
Một người vợ của một nạn nhân đã nói với một giám mục: “Xin đức cha giúp con lấy lại niềm tin vào giáo hội! Con tin vào đức cha!”. Vị giám mục đó trả lời: Đừng tin tuyệt đối vào tôi. Tôi sẽ cố gắng hằng ngày để giữ niềm tin của chị, cầu nguyện hàng ngày để chị không thất vọng, nhưng hãy tin tôi, chẳng chóng thì chày, tôi e rằng tôi sẽ làm chị thất vọng. Xin chị hãy hoàn toàn tin vào Chúa Giêsu! Không có gì khác là thần tượng!.
Frank Sheed, một thần học gia của thế kỷ 20, nói: “Chúng ta không được rửa tội theo phẩm trật. Chỉ có Chúa là quan trọng nhất. Không có giáo hoàng, giám mục, hay linh mục nào có thể làm gì hoặc nói gì khiến chúng ta muốn từ bỏ giáo hội”.
Hãy cầu nguyện cho các giám mục và linh mục. Chúng ta phải cố gắng sống theo cách sống của Chúa Giêsu, đừng để tội lỗi đẩy chúng ta ra xa.
TRẦM THIÊN THU
(Chuyển ngữ từ Archdiocese ofNew York)
Bài tiếp theo

16/3/13

LÒNG CHÚA NHÂN TỪ



17/03/13 CHÚA NHẬT TUẦN 5 MC – C
Ga 8,1-11

LÒNG CHÚA  NHÂN TỪ
Lúc đó, các kinh sư và người Pharisêu dẫn đến trước mặt Đức Giêsu một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình… Họ  nói với Người: “Theo sách Luật, ông Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?” Chúa Giê-su nói với họ: “Ai trong các ông sạch tội thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.” (Ga 8,3-7)
Mời Bạn: Bạn hãy nhìn các kinh sư và biệt phái: cả đêm thì đi rình mò… từ sáng sớm đã lo đi tố cáo.
Còn ngưòi phụ nữ thì đầu tóc bù xù, mặt cúi gầm xuống không dám ngẩng lên… Bẽ bàng, nhục nhã: Hàng trăm con mắt đang đổ dồn vào chị với một vẻ khinh bỉ!… Chị rùng mình đau nhói: nghĩ đến những hòn đá sắp sửa ném vào thân chị!
Mời bạn cũng hãy nhìn ngắm Chúa Giêsu đang ngồi giữa đám đông, nhân từ, cảm thông, tế nhị. Phải chăng lòng Ngài cũng đang trĩu nặng vì những tội lỗi của nhân loại và của chính bạn nữa?
- Đến lượt bạn, bạn hãy chọn một chỗ đứng trước mặt Chúa, bên người phụ nữ tội lỗi này, nhớ lại tội lỗi mình để chờ Chúa xử án… Từ chỗ đứng đó bạn mới thấy được lòng nhân từ thương xót của Ngài.
Sống Lời Chúa: Xét lại tội lỗi của mình và khóc với Chúa; rồi bạn xin Ơn Tha Thứ qua Bí Tích Hòa Giải.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, biết bao lần con đã giống như các kinh sư và biệt phái trong cách đối xử với người khác : lên án, chỉ trích, luận tội… Trong tư thế người phụ nữ, thì lạy Chúa, con cũng đã ngoại tình, ngoại tình không riêng ở Điều Răn thứ Sáu mà cả mỗi khi con phản bội Chúa, tôn thờ tiền bạc, thú vui, những thứ không phải là Chúa… Xin cho con biết đau đớn vì tội lỗi và quyết tâm trở về với Chúa.

Xin lần nữa thương yêu

VRNs(16.03.2013) – Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã phú bẩm cho họ khả năng biết phân biệt điều lành điều dữ. Thế nên, việc nhân loại phản ứng mãnh liệt với những hành vi tội ác của đồng loại cũng là điều dễ hiểu. Người công chính thì căm ghét tội lỗi, bất công.
        Căm phẫn với những hành động tội lỗi là việc cần thiết. Một khi nhân loại mẫn cảm với tội, điều đó mới đáng sợ, vì nó báo động một lương tâm khô cứng, chai lì. Căm ghét tội, mới hòng tránh phạm tội, thế nhưng người ghét tội chưa hẳn là kẻ vô tội. Vì bởi chẳng một ai trên thế giới này được khẳng định cho là công chính, toàn hảo cả. Đã mang lấy kiếp con người, nhân loại khó tránh khỏi lầm lỗi, bởi sự yếu đuối bất toàn vốn dĩ của bản thân luôn đẩy con người rời xa sự thiện. Đó chính là bản ngã mà họ khó có thể vượt qua.
        Thế nhưng, xã hội thời nào cũng vậy, luôn tồn tại một số đông những lớp người, khoan dung với mình nhưng lại khắt khe với người khác. Tội của mình thì lới lỏng, cho qua, nhưng tội của thiên hạ, dù chỉ như con kiến, bé như hạt tiêu cũng phải phanh phui, bới móc ra để mà trừng phạt, bêu riếu cho hả giận.
        Một người am hiểu chính mình, một người khiêm nhường thực sự, một người chân nhận bản thân, ắt sẽ có thái độ hoàn toàn khác trước lỗi phạm của tha nhân. Cần phải cho người xấu nhận ra hành vi tội lỗi, sai trái của họ là điều cần thiết, nhưng phải có thái độ thế nào trước lầm lỗi của kẻ khác cũng là điều nhất định phải suy nghĩ lại. Việc loại trừ những phần tử xấu ra khỏi xã hội xem chừng là việc quá đơn giản, nhưng làm thế nào để huấn luyện, để thu phục họ từ bỏ con đường tội lỗi, quay trở lại làm người lương thiện mới là điều quan trọng.
        Và đó chính là điều Thiên Chúa muốn, đó chính là sứ mệnh của Con Một Ngài. Đức Giêsu đến trần gian, Ngài không hề bác bỏ luật lệ xã hội cũng như tôn giáo, nhưng Ngài đến là để kiện toàn, để làm cho lề luật ấy hoàn hảo hơn. Nhân loại hay dùng luật làm chuẩn mực để trừng trị, sát phạt lẫn nhau. Riêng Ngài muốn đưa họ đi đến một giới luật cao hơn, trên mọi giới luật, đó là luật tha thứ và thương yêu.
        Bất cứ thụ tạo nào được sinh ra trên thế giới này đều cần tình yêu thương. Vạn vật cần thức ăn để sống nhưng con người cần thiết phải có tình yêu thương mới tồn tại. Một khi tình yêu ấy chết đi, không còn nữa, tất nhiên thế giới sẽ bị đẩy vào con đường diệt vong.
        Những người biệt phái, kinh sư hôm nay là những đại diện của luật lệ, là những người phán quyết và trừng trị những ai không thi hành luật. Họ gài bẫy Đức Giêsu, để xem thái độ của Ngài thế nào trước người phụ nữ phạm tội ngoại tình mà theo lề luật, bà đáng phải bị ném đá: “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang phạm tội ngoại tình. Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?” (Ga 8, 4-5) Cho dù Đức Giêsu trả lời thế nào cũng vướng vào bẫy của họ, đồng tình hay phản đối cũng vậy, đều bị xem là người phá luật hoặc là người nói lời yêu thương nhưng không thi hành thương yêu.
        Thừa biết ác ý của họ, Đức Giêsu không cho họ câu trả lời như mong muốn, nhưng Ngài đã cho họ chìa khóa giải mã mọi tà tâm trong lòng. Trong thinh lặng, Ngài đã viết điều gì đó trên đất, rồi từ tốn đáp lại: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.” (Ga 8, 7). Câu trả lời tuyệt hảo quá, xem chừng rất ngắn gọn, đơn giản nhưng kì lạ thay, chẳng có lấy một ai, không có lấy một người, từ già đến trẻ đủ can đảm để ra tay làm việc ấy trước cả. Mà hoàn toàn ngược lại, mọi người dần dần rút lui, từ từ bỏ đi hết, bắt đầu từ những người lớn tuổi cho đến khi chỉ còn một mình người đàn bà đối diện với Đức Giêsu. Ngài từ tốn nói: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!” (Ga 8, 11)
        Vậy đấy, đó chính là điều mà Đức Giêsu từ bỏ cả ngai vàng của mình đến trần gian để sống, minh chứng và dạy cho nhân loại. Ngài không muốn điều gì khác hơn ngoài việc con người tôn nhận Thiên Chúa và thương yêu nhau. Vì bởi chúng ta được sinh ra trong tình yêu thương. Điều Ngài muốn là con người được sống và sống hạnh phúc. Ngài không tạo dựng con người để rồi hủy diệt mặc dầu họ đã đang tâm phản bội lời thề ước với Thiên Chúa. Ngài vẫn yêu thương và tha thứ, còn chết và sống lại để cứu độ họ. Vậy hà cớ gì, nhân loại lại chém giết, sát hại lẫn nhau khi tất cả đều được cứu độ và thương yêu? Nhân loại làm thế, có phải vì không nhận ra mình tội lỗi? Con người làm vậy có phải vì cho rằng họ tốt lành, sạch trong?
        Lạy Chúa, bao năm tháng qua đi, bấy nhiêu phút giây con được sống làm người. Vui buồn, hạnh phúc, đau khổ… mọi cảm giác đều đã được nếm trải. Những giờ phút vinh hoa nhất cũng như những phút giây tủi nhục nhất vì bị ném đá, kết tội,… giờ đây con đã chân nhận ra một điều quí giá, Thiên Chúa muốn con sống và sống hạnh phúc bất chấp con là ai, con có là gì. Cảm ơn Ngài đã đến, lạy Chúa, cảm ơn Ngài đã đến để sống và nếm trải cuộc đời trần thế như con. Cảm ơn Ngài đã thấu hiểu và cảm thông mọi bất toàn nơi con. Cảm ơn Ngài đã chết để cứu chuộc con. Ước gì con có thể sống được như Chúa. Ước gì con có thể tha thứ, yêu thương như Ngài, vì bởi chính sự tha thứ ấy đã nuôi con lớn lên, đã cho con trợ lực sống. Xin giúp can đảm lấy tình yêu thương làm thước đo mọi chuẩn mực cuộc sống, sáng suốt nhận ra mình là kẻ bất toàn, tội lỗi, hơn bao giờ hết, hơn mọi lúc nào cũng luôn cần tha thứ, thương yêu.

M. Hoàng Thị Thùy Trang.

Hãy nhanh khi nghe – chậm khi nói

VRNs (16.03.2013) – Đồng Nai - Người Việt Nam thường có câu: hãy “nhanh khi nghe – chậm khi nói”. Nghe để đấy, nghe để biết chuyện, suy nghĩ bàn hỏi mới là người khôn ngoan. Còn kẻ dại khờ thì dễ tin, dễ bị khích động và dễ kết án hùa theo đám đông.
Có rất nhiều trường hợp thương tâm đã xảy ra chỉ vì nhanh nghe, nhanh nói, dễ tin vào lời người khác để hành động điên cuồng gây nên những đau khổ do hiểu lầm, nhẹ dạ mang lại. Có rất nhiều lần chính chúng ta cũng vì quá tin người mà hành động thiếu suy nghĩ khi ném đá anh em. Cũng có rất nhiều lần chính chúng ta cũng khổ sở, chẳng biết phân bua thế nào vì bị người khác hiểu lầm, dựng chuyện làm hại chúng ta.
Có một câu chuyện thương tâm kể rằng:
Tạnh mưa, bọn trẻ bưng cơm đứng ăn trước cửa. Tý khoe:
- Nhà Tý ăn thịt gà.
Đêm đó, bà Tám chửi:
- Mả cha nó, nghèo mạt kiếp tiền đâu ăn gà, nó ăn gà bà, nó chết bất đắc cho mà xem.
Ông giáo buồn lắm, ngã bệnh, qua đời. Thương tình, hàng xóm lo ma chay.
Tý hớn hở vì nhà nó đông vui.
Trời đổ mưa.
Thằng Tý la lớn:
- Con gà vô nhà, dậy bắt làm thịt ba ơi.
Mọi người nhìn theo. Thì ra, một con cóc dưới kẹt tủ đang giương mắt nhìn lên quan tài ông giáo.
Hóa ra, nhà ông giáo ăn thịt cóc nhưng lại nói thịt gà để cho con trẻ khỏi thèm thịt gà! Thật là oan gia. Chỉ vì một lời kết án vu vơ đã làm mất đi một mạng người thật là đáng tiếc!
Thế nên, ở đời đừng vội kết tội cho người khác. Hãy bao dung độ lượng và tha thứ. Có những chuyện thấy vậy mà không phải vậy, nên cần cẩn trọng lời nói. Có những sự thật cũng cần được cảm thông hơn là kết án, vì có khi chính chúng ta cũng trải qua những lần lầm lỗi như thế.
Lời Chúa hôm nay cho ta thấy thái độ của Chúa Giê-su thật từ tâm. Ngài không hùa theo đám đông để kết án người đàn bà tội lỗi. Dù rằng tội người này theo lời của người Do Thái là “rõ mười mươi”. Dù rằng là tội quả tang nhưng cũng cần cảm thông và tha thứ. Ngài đã đi bước trước trong sự tha thứ khi Ngài nói: “Tôi không kết án chị đâu”. Ngài cũng nhắc nhở những người chung quanh đừng dễ dàng kết án người khác, đừng dễ dàng chửi bởi anh em, bởi vì: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá ném trước đi”. Ngài còn tạo cơ hội cho người phụ nữ chuộc lại lỗi lầm: “Chị hãy về và từ này đừng phạm tội nữa”.
Đức Giê-su là Thiên Chúa rất thánh thiện vô cùng. Ngài không hề sai phạm một lầm lỗi nào, thế mà Ngài vẫn luôn luôn thông cảm được với sự yếu đuối của người tội lỗi. Ngài không kết án mà sẵn sàng tha thứ. Còn chúng ta, chúng ta cũng yếu đuối như tất cả mọi người, thế mà ta lại khó thông cảm với những yếu đuối của người khác, nhất là khi họ làm thiệt hại đến ta, đến quyền lợi, danh tiếng, hay cản trở ý muốn của ta.
Ở đời: “Ai nên khôn mà không dại một lần”, thế nên, làm người cần có sự khiêm nhu để nhìn lại mình và để cảm thông với anh em. Có thể ta dễ dàng kết án người khác. Có thể chúng ta không muốn gương xấu trong môi trường chúng ta. Nhưng liệu chúng ta làm ầm ĩ lên, hoặc mạnh tay ném đá kẻ có tội chúng ta sẽ được gì khi mất anh em , mất bạn bè vì sự nóng giận của chúng ta?
Mùa chay là mùa giúp chúng ta nhận ra thân phận yếu đuối của mình để sám hối và cũng để cảm thông với lỗi lầm của anh em. Đừng kết án anh em. Đừng đẩy anh em vào đường cùng. Đừng lên án xử anh em, nhưng hãy bao dung và tha thứ cho nhau. Hãy nhớ lời Chúa dạy: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá ném trước đi”.
Xin cho chúng ta học nơi Chúa bài học của bao dung và tha thứ để chúng ta luôn lấy lòng từ bi, nhân hậu mà đối xử với nhau. Xin cho chúng ta cũng nhận ra mình là con nợ đã từng được Chúa tha thứ để đừng bao giờ hà khắc, kết án anh em. Xin Chúa giúp chúng ta học nơi Chúa luôn “chậm bất bình và rất mực khoan nhân” để đối xử với nhau trong bác ái yêu thương. Amen
Lm. Jos Tạ Duy Tuyền
Tin tiếp theo:

LƯỚT THẮNG SỰ ÁC

Tác giả: 
Lm Trần Đình Long


LƯỚT THẮNG SỰ ÁC
T.H


  • Ngược Dòng Thời Gian 
Khoảng năm năm về trước, khi một người mục tử dấn thân trong công cuộc loan truyền lòng Chúa xót thương, có một nhóm nhỏ gồm nhiều thành phần học sinh, sinh viên, công nhân, nội trợ, tiểu thương… kết lại cùng nhau. Một mặt họ chăm chỉ đi nghe giảng và cầu nguyện, một mặt họ về thảo luận cùng nhau, để lời Chúa thông qua bài giảng của người mục tử thấm sâu và triển nở, tạo sự thay đổi tận căn trong suy nghĩ và hành động của người tham dự.

Nhóm người bé nhỏ ấy nhận thức ra rằng đón nhận tình yêu thương của Chúa, thì phải biết yêu thương người khác bằng những việc làm nhỏ bé, thiết thực. Họ bắt đầu tỏa vào làng xóm xa xôi, lắng nghe những câu chuyện đời, mà ẩn chứa trong đó là những mảnh đời vỡ nát, đớn đau, và cần phải nâng đỡ về tinh thần, vật chất mới hy vọng có sự đổi thay tích cực.

Một ngày nọ, từ một xứ xa, có người cho tin : Một bà cụ bán xôi bị tai biến, giờ lại không có chỗ ở.

Tìm về xứ vùng sâu, gặp gỡ người này người kia, hỏi thăm xóm giềng, tìm cả tới cha sở tại, nghe ngài san sẻ những suy tư, mới hay vấn đề không dừng lại ở việc bà cụ bệnh và không nơi nương tựa.

Câu chuyện đưa các tình nguyện viên tới một vấn đề nhức nhối hơn. Bà cụ không quá nghèo, cũng tạm đủ ăn. Cơn bạo bệnh khiến con cái quáng quàng lo bà cụ... chết ! Lúc đó bà cụ ở cùng nhà với vợ chồng cô Út. Họ có hai con nhỏ.

Ma quỷ bắt đầu len lỏi vào đầu óc của một số con cái bà cụ. Họ ở xa kéo về, lo cụ chết một nhưng lo cụ chết không chia nhà mười. Thế là một quyết định được đưa ra : bán nhà chia nhau và dành một phần mướn nhà cho cụ ở, đợi cụ... chết !

Vào thời điểm đó, nhà đất sốt như tôm tươi, vừa mở lời, có người tới lụm nhà và chồng tiền cái rụp !

Tiền được phân chia như dự tính. Dĩ nhiên vợ chồng cô Út đang ở với bà dạt vòm, không còn nơi nương thân, đành phải dắt con cái nheo nhếch đi ở nhà thuê.

Dĩ nhiên bà cụ cũng được rinh đến một phòng trọ đợi ngày... lên thiên đàng. Khốn cho bà. Tiền tiêu hết, bệnh nó cũng tiêu từ từ. Bà thành ra yếu ớt chứ... chưa chịu chết !

Con cái bà cụ sau khi chia chác nhau tiền bán nhà của mẹ mà mẹ không chịu chết, chúng biến sạch sành sanh, chỉ có vợ chồng cô Út cùng hai cháu ở gần. Khổ thay vì bà cụ nghe con bán nhà, thành ra một nỗi đau gây ra cảnh dạt vòm, điêu đứng cho gia đình cô Út. Anh con rể cũng rất giận bà mẹ vợ cao số và lụy đám con hư, thành ra quan hệ thâm tình vỡ đổ và bà cụ này lâm cảnh ngặt nghèo về cả tinh thần lẫn vật chất.

Thật là đáng buồn, cùng với tốc độ đô thị hóa vù vù, thì tình người ngày mỗi vơi đi, giềng mối gia đình cũng chênh vênh theo mãnh lực đồng tiền. Quả là đáng buồn, đáng quan ngại.

Tình nguyện viên tiến hành tiếp xúc bí mật với bên A và bên B. Bên A là bà cụ rất nhớ cháu con. Bên B tuy giận mẹ, nhưng các cháu nhớ bà, và cô con Út tuy ngại anh chồng nhưng cũng đau xót mẹ.

Đàng khác bằng các kênh ngoại giao riêng của các cá nhân tình nguyện viên, câu chuyện được tóm tắt và gửi tới một chương trình nhân đạo xã hội của VTV. Tình nguyện viên gợi ý với đạo diễn tại sao lại không bắt cây cầu làm một buổi đoàn viên cuối năm, kết nối yêu thương, vực lại tương quan gia đình đang trên đà vực thẳm.

Ý nghĩ táo bạo đó được nhà đài chấp nhận và thế là có một tiệc đoàn viên phát đúng Đêm Giao Thừa năm đó. Một cái kết có hậu. Bà cụ tạm về ăn Tết với con, những tấm lòng của xã hội cũng có một chút quà tặng bà cụ lận lưng, và bếp nhà cô con Út tết ấy cũng ấm áp và đầy đặn.

Thế nhưng, khi mọi người cũng vỗ tay chúc mừng hoan hỉ, và vui đón Giao Thừa, thì một tình nguyện viên không hẳn đã vui. Lúc phụ ê kíp làm chương trình, người này thấy trong hốc nhà cô con Út có một cặp nạng gỗ, và dưới chân cầu thang gác xép của phòng trọ nghèo, đứa con trai của cô Út tầm 6 tuổi không muốn đứng lên. Nó có vẻ buồn bã và bứt rứt…

  • Đứa Cháu Thiệt Thòi
Sau cái Tết ấy, tình nguyện viên quay lại gia đình Út. Bà cụ đã ngược về nhà tình thương. Cũng tạm an lòng, dù không ở cùng nhau nhưng nghĩa tình đã được nối lại, coi như tạm ổn.

Vấn đề lúc này là số phận của chủ nhân... đôi nạng gỗ, đứa con trai của cô Út.

Đó chính là bé HĐ mới sáu tuổi. Em bị một căn bệnh không thuốc chữa có cái tên rất Tây là Cophaxalan - tức hoại khớp háng mãn tính. Mới sáu tuổi, em đã phải trải qua biến cố gia đình xào xáo tương tàn, bị dứt ra khỏi mái ấm yêu thương, lốc thốc theo cha mẹ trôi nổi theo các cuộc dọn nhà, dù là nhà trọ. HĐ còn phải trải qua hai ca phẫu thuật thay khớp, và bác sỹ cho biết cứ theo thời gian em sẽ còn phải thay dài dài, và nếu em vận động nhiều, thì ít nhất hai năm sẽ lại mổ một lần, thay khớp mới cho phù hợp lứa tuổi.

Tìm tới trường tiểu học, cô giáo cho biết em học giỏi, nhưng tính khí hơi thất thường, và sức khỏe như thế là yếu kém, ngoài bệnh về khớp, em bị loạn thị nặng, đeo kính suốt đời. Em có dấu hiệu bị bệnh quá năng động, có lẽ do mổ nhiều nên ảnh hưởng.

Một chiến dịch dài hạn lập tức được triển khai, câu chuyện về HĐ được tình nguyện viên đưa lên mạng xã hội, và lập hẳn một chuyên đề thảo luận.

Kết quả là rất nhiều người vào cuộc. Diễn đàn DRD cấp học bổng cho em. Các bloger gom góp tiền quà thường xuyên tới thăm hỏi HĐ và một bloger là doanh nhân đã nhận tài trợ ổn định hàng tháng cho em. Hơi tiếc là hai năm sau bloger hỗ trợ em có tên là bonghonggai qua đời vì bệnh ung thư. Trước khi qua đời anh này cũng có lời nhờ một tình nguyện viên gần nhà HĐ tiếp tục lo lắng cho em.

Thời gian qua mau, HĐ tốt nghiệp tiểu học, em còn đoạt giải cuộc thi vẽ nét bút xanh. Nhà em lại chuyển nhà, em chuyển trường và liên lạc của tình nguyện viên tạm gián đoạn. Song hàng năm một người thầm lặng dù ở xa vẫn gửi sách vở và chút tiền học cho em, ai cũng ngỡ như thế là đã tốt.

  • Bóng đen của ma quỷ và cuộc chiến giành lại một con người

Bất ngờ tháng 11/2012 một nhà báo của tòa soạn Tuổi Trẻ tìm tới một tình nguyện viên, anh có ý nhờ các tình nguyện viên tìm giúp một số nạn nhân là trẻ em nam, bị kẻ xấu xâm hại và chúng rao bán các em công khai trên một trang web ấu dâm, thật khủng khiếp.

Và đau xót hơn, một trong gương mặt bị nạn là... HĐ. Mới chưa đầy một năm không gặp, em ra cớ sự.

Phải chung tay cùng nhà báo có tâm vạch mặt cái ác, và cứu các trẻ thơ. Trong vòng mấy ngày trời, những con người “ăn cơm nhà, vác tù và thế gian” lao vào một cuộc chiến không cân sức.

Một mặt tiếp cận gia đình HĐ, khéo léo nâng đỡ tinh thần để gia đình vượt qua cú sốc đau thương. Theo lời người trong cuộc và tường trình của HĐ, bé đã thoát nanh vuốt bọn buôn người trong gang tấc.

Rất khó tìm ra các em còn lại, vì kẻ thủ ác đăng họ tên và địa chỉ ma! Y còn láo lếu lấy cả địa chỉ một ngôi chùa làm địa chỉ giao dịch!

Song trời không phụ người, sau một buổi chiều tình nguyện viên bị dí chạy te tua bởi một ông tự xưng là cán bộ hưu. Ông này định đánh tình nguyện viên vì dám đặt điều bôi xấu xã nhà, làm gì có chuyện trẻ em nam mà bị lợi dụng. May sao, khi chứng kiến, có một tay "anh chị " trên chốn giang hồ đã âm thầm nhận lời giúp tình nguyện viên. Vì theo anh, đã là giang hồ chính nghĩa thì không được hại trẻ em. Thấy con cái Chúa nhiệt tâm nên anh sẵn sàng giúp đỡ. Thằng thủ ác biến thái này, anh ấy có biết.

Nhờ đó sự việc được bóc tách từ từ, các nhà báo quả cảm cũng đeo bám quyết liệt, pháp luật đã phải vào cuộc, kể cả hội luật gia. Các luật sư mổ xẻ và cho đây là một loại tội phạm mới ở Việt Nam, luật pháp cần phải được thay đổi và bổ sung để bảo vệ trẻ nhỏ.

Quay lại với HĐ, khi ý thức được sự nghiêm trọng của vấn đề, phần xấu hổ mặc cảm, phần sợ hãi cho sức khỏe của bản thân, em có những dấu hiệu trầm uất nặng nề, dù rằng em và gia đình cũng đã đủ dũng cảm nói lên tiếng nói của mình để nhà nước, các cơ quan chức năng có những biện pháp ngăn chặn tội ác.

Tình nguyện viên đã hội ý khẩn cấp và đưa ra các giải pháp tạm thời, bởi trong khả năng bé nhỏ của mình, có những khi họ cũng cảm thấy mệt mỏi và nản lòng bởi cứ chưa hết vấn đề nọ thì vấn đề khác đã nảy sinh, mà với nhiệt tâm thì chưa hẳn là đã đủ.

Tất nhiên, những khi như thế, người linh mục lãng tử luôn đồng hành với các học trò của mình, hướng dẫn họ, trước tiên phải cầu nguyện xin Chúa thêm đức tin, thêm sức mạnh và ban cho sự khôn ngoan để biết cách giải quyết vấn đề, không thể ỷ sức người hạn hẹp, mà phải trông cậy vào lòng Chúa xót thương. Cái tâm có vững, cái trí mới tinh thông, mới có thể hành động đúng đắn.

Theo sự chỉ dẫn của thầy, họ tiếp cận cháu bé nhẹ nhàng, từng chút từng chút đưa cháu về với niềm vui trẻ thơ, thuyết phục cháu đi làm các xét nghiệm y khoa, phòng tránh những bệnh lây nhiễm theo chỉ định của bác sỹ.

Đằng khác tình nguyện viên quay về cha xứ sở tại, là một người nhiệt tâm, ngài đã nêu tội ác đáng lên án này cho giáo dân, góp thêm tiếng nói bài trừ cái ác. Tiến thêm một bước cha đồng ý mở một hội thảo về vấn đề trẻ em bị xâm hại cho các đoàn thể trong xứ, và có những chỉ đạo tích cực trong việc hỗ trợ chăm sóc tinh thần cho cháu bé.

Và từ nơi xa, người mục tử tâm huyết trong việc loan truyền lòng Chúa xót thương đã có một quyết định làm vơi nhẹ nỗi đau và cả gánh nặng cho gia đình cháu là đưa cháu vào chương trình “mỗi tháng cứu giúp một đồng bào”, trợ giúp cha mẹ cháu tiền thuốc thang, điều trị tâm lý cho cháu. Ngài cũng căn dặn các học trò, không được lơ là, phải theo dõi chăm nom cháu bé trong một thời gian đủ dài hòng mong cháu ổn định.

“Và cầu nguyện !” Cha nhấn mạnh để các học trò không được quên, một lời cầu nguyện đơn sơ mà mạnh mẽ : “Lạy Chúa Giê-su, con tín thác vào Chúa!” Không có Chúa, ma quỷ sẽ lộng hành làm loạn ngay, sức người mỏng giòn sao có thể tự thân mà thắng chúng được.

Họ đã chuyên chăm cầu nguyện và hành động để “Lướt Thắng Sự Ác”. Họ lại tiếp tục lên đường vì còn bao bé thơ có số phần thiệt thòi như HĐ cần phải được nâng đỡ.
 Nguồn thanhlinh

Những hình ảnh sa mạc đẹp lạ

 Những hình ảnh sa mạc đẹp lạ
Đường tàu thẳng tắp trên sa mạc rộng lớn ở Australia, tuyết trắng phủ lên khu vực Taklamakan (Trung Quốc) là những bức tranh đẹp lạ đến mê hồn.

Con đường bị cồn cát cắt ngang ở thung lũng Nile, Ai Cập.


Hình ảnh hệ thống thủy lợi ở Jordan.



Ốc đảo Huacachina tại Peru vào ban đêm.



Chiếc đầm bao quanh là cát ở Công viên Quốc gia Lençóis Maranhenses, Brazil.



Cồn cát Rub al Khali nằm ở biên giới của 4 quốc gia: Ả-Rập-Xê-Út, Oman, Yemen và Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống Nhất.



Cồn cát dài đến vô tận ở Namibia.



Cây trơ lá ở hoang mạc Namib, Sossusvlei, Namibia.



Sa mạc trắng ở Ai Cập.



Đường tàu trên sa mạc ở Austraila.



Tuyết bao phủ lên sa mạc Taklamakan, Trung Quốc.



Đảo hồ Crescent ở sa mạc Gobi, Trung Quốc.



Ảnh chụp từ trên cao đáy sông khô cạn ở sa mạc Sonoran, Mexico.



Hệ thống phát điện năng lượng mặt trời Ivanpah ở sa mạc Mojave, California, Mỹ.


*****************************************

Tôi chọn



Tác giả: 
Lm Nguyễn Văn Nghĩa


TÔI CHỌN

Chúa gọi?

Chuỵện thật như bịa thứ nhất: Một người thất vọng uống thuốc sâu tự tử. Xét thấy đương sự lúc sinh thời có một vài biểu hiện thiếu làm chủ bản thân, tôi bèn giải thích cho đoàn tín hữu rồi vẫn tiến hành làm phép xác, tẩm liệm và cho đưa thi hài vào nhà thờ dâng Lễ an táng. Khi đưa thi hài vào nhà thờ, ca đoàn bỗng cất bài hát quen thuộc: “Khi Chúa thương gọi tôi về, lòng tôi hân hoan như trong một giấc mơ. Miệng tôi nức vui tiếng cười…” Tôi đã đắng họng không biết khởi đầu Thánh Lễ bằng lời dẫn nhập nào bèn nói thằng: “Tôi không tin trường hợp này là do Chúa thương gọi về. Chuyện thứ hai: Cũng bài hát đó trong thánh lễ an táng một thanh niên chết vì ẩu đả, bị đâm mấy nhát vào tim, phổi, tôi  cũng khẳng định rằng không đời nào Thiên Chúa gọi người ta kiểu này ra khỏi trần gian. Chuyện thứ ba: Một thanh niên vốn là giáo lý viên của giáo xứ đi làm việc. Qua sông cùng các bạn đồng nghiệp, một bạn đứng lên chụp hình, thuyền chòng chành, lật úp. Sáu thanh niên tử nạn, trong số đó có bạn giáo lý viên ấy. Tôi đến làm phép xác và tẩm liệm tại tang gia. Sau nghi lễ, một vị hội đồng thay mặt tang quyến ngõ lời cám ơn. Và như để an ủi tang gia, cùng với lời cám ơn, vốn đã từng nghe nhiều mục tử khuyên bảo trong các đám tang, vị ấy nói rằng: “Cánh hoa nào đẹp thì Thiên Chúa ngắt về”. Tôi đắng họng khi chợt nhớ tới cảnh tình vừa vị kỷ vừa thiếu văn hoá của một số bà con ở thủ đô Hà Nội khi tham quan một hội hoa đã từng chen chân ngắt giành hoa đẹp làm xấu cả bộ mặt thủ đô nước nhà vài năm trước đây. Sao chúng ta lại nỡ gán ghép cho Thiên Chúa cái hành vi vừa thiếu văn hoá vừa đầy vị kỷ như thế nhỉ? Rất nhiều nạn nhân của các chế độ độc tài chẳng hạn như những cái chết trong các lò hơi ngạt thời phát xít Đức, rất nhiều nạn nhân của các thiên tai như trận động đất gây sóng thần ở Nam Á  ngày 26-12-2004  hay ở Nhật Bản ngày 11-3-2011 vừa qua, phải chăng những cái chết bi thương ấy cũng đều do Thiên Chúa gọi?


Chắc chắn không ai dám to gan gán ghép cho Thiên Chúa là nguyên nhân của những cái chết ấy. Rất có thể cách giải thích nào đó của truyền thống đạo đức đã làm xuất hiện nhiều triết gia vô thần như Jean Paul Sartre hay Albert Camus. Còn chuyện cha già Gioan Baotixita Hồ Sĩ Cai, 91 tuổi, một vị linh mục giáo phận Ban Mê Thuột nghỉ hưu tại Toà Giám Mục. Đêm Thứ Bảy ngài còn nói chuyện với giám mục, còn chuẩn bị để 04g30 sáng hôm sau dâng Lễ thì lúc 4g00 sáng Chúa Nhật ngài đã an bình ra đi. Xin thử hỏi rằng việc an nghỉ ngàn thu của cha già có phải là do Thiên Chúa gọi không? Tôi xin khẳng định rằng không. Ngài ra đi như ngọn đèn hết dầu thôi. Giả như Thiên Chúa gọi thì cái đích của người được gọi phải chính là Thiên Chúa, thì có thể nói nhiều khi chẳng cần lời cầu nguyện, chẳng cần Thánh Lễ…


Chúa chọn?


Một vị hội đồng tâm sự với tôi: “Cha ơi, bà con giáo dân xứ con phàn nàn về cha xứ chúng con đủ điều. Đúng là ngài khó quá, lại nóng nảy nữa chứ. Con đã an ủi họ là các cha, các sơ, các thầy là những người Chúa chọn, nên mình phải cố chịu đựng”. Nhân chuyện Đức Bênêđictô XVI thoái vị, tôi đã kêu gọi bà con cầu nguyện cho Ngài cũng như cho các Hồng Y trong việc bầu tân Giáo Hoàng. Một em thiếu nhi hỏi tôi: “Cha ơi, Giáo Hoàng là do Chúa chọn rồi thì mình cầu nguyện làm gì?” Vậy có phải bất cứ ai được bầu làm Giáo Hoàng cũng là người đã được Chúa chọn? Một câu hỏi xem ra khó có lời giải đáp, dù rằng với niềm tin đại đa số tín hữu thì Giáo Hoàng đều do Chúa chọn. Nếu Chúa đã chọn rồi thì cầu nguyện để làm gì? Và các Hồng Y phải cần có thời gian làm quen, tìm hiểu, cầu nguyện và bầu bán làm gì nhỉ?  Đọc lịch sử Giáo Hội chúng ta có xác tín rằng tất cả những vị Giáo Hoàng đều là do Chúa chọn không? Rồi đến các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, phải chăng đều do Thiên Chúa chọn? Đức tân Giáo Hoàng Phanxicô I bông đùa với các Hồng Y: “Xin Chúa tha tội cho anh em (vì đã dại chọn tôi làm Giáo Hoàng!) (Lời Đức Hồng Y Dolan). Nếu bỗng dưng tôi nói rằng Đức Giáo Hoàng Phanxicô I là không do Chúa chọn thì chắc bà con tín hữu sẽ cho rằng ông cha này “bị chạm” hoặc mất đức tin rồi. (không nghe và không thấy báo đài khắp nơi đều ca ngợi tân Giáo Hoàng chúng ta đó ư?). Nhưng nếu nói rằng Chúa không chọn, nhưng Người soi sáng cho các Hồng y chọn thì chẳng ai dám trách cứ. Cụ thể là phải đến vòng bỏ phiếu thứ năm các Hồng Y mới chọn được tân Giáo Hoàng. Tuy nhiên nếu chỉ có vậy thì chưa đủ và tôi có thể xin phép Đức tân Giáo Hoàng để thêm một tí vào câu dí dỏm của Ngài nói với các Hồng Y ở trên, đó là cũng xin Chúa tha tội cho Ngài, vì nếu Ngài không nhận, nghĩa là không chọn, thì ngai Giáo Hoàng vẫn còn trống.
Vào trần gian, Chúa Kitô đã nên giống chúng ta mọi đàng, ngoại trừ tội lỗi, nghĩa là Người vẫn chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên. Các tin mừng, cách riêng tin mừng thánh Gioan cho ta thấy Chúa Kitô chỉ làm dấu lạ khi cần thiết để mạc khải Nước Trời. Thiên Chúa đã dựng nên vũ trụ vạn vật với quy luật vận hành của nó và Người dựng nên con người có lý trí và ý chí tự do. Thiên Chúa không phải là Đấng thích ngẫu hứng làm phép lạ hoặc thích tuỳ tiện nhúng tay làm thay đổi các quy luật Người đã lập nên.


Sự xuất hiện của một con người mới trên trần gian này là do quyền năng của Thiên Chúa nhưng vẫn lệ thuộc vào sự tự do của con người. Thiên Chúa đã trao ban điều đó thì Người không rút lại. Khi bố mẹ muốn có một sinh linh mới, thì Thiên Chúa phú ban linh hồn. Thậm chí một thai nhi hiện hữu do bởi một hành vi thú tính của hai người nam nữ nào đó (như hiếp dâm, loạn luân…) thì Thiên Chúa cũng phú ban linh hồn. Những trường hợp này có thể khẳng định rằng dù không hợp thánh ý Thiên Chúa nhưng Người vẫn theo quy luật Người đã đặt ra, vì Người không thể mâu thuẩn với chính Người.


Như thế có thể nói rằng sự sinh sôi nẩy nở của nhân loại lệ thuộc vào quy luật tự nhiên và sự tự do mà Thiên Chúa tặng ban cho loài người. Với hệ luận ấy chúng ta có thể khẳng định rằng chính tự do của con người và các quy luật tự nhiên đã làm nên cái chết của con người. Sự ra đi của cha già hưu nói ở trên chỉ là kết thúc quá trình “thành trụ hoại không” của một kiếp người xét như một sinh vật mà nói theo ngôn ngữ bình dân là khi đèn hết dầu thì tự nhiên tắt, thế thôi. Sáng ngày 12-3-2013 trong Thánh Lễ an táng cha già, Đức Giám Mục giáo phận Ban Mê Thuột và Đức Ông Tổng Đại Diện cũng nhìn sự ra đi của ngài như đèn hết dầu. Cái chết của rất nhiểu trẻ thơ vô tội trên bờ  biển Bali – Inđônêsia  hay ở Nhật Bản là do sự vận hành của giới tự nhiên. Cái chết của anh bạn trẻ giáo lý viên vừa là do quy luật tự nhiên: vật nặng rơi xuống nước thì chìm, người không biết bơi thì ngạt thở, uống nước, khi rơi xuống dòng nước sâu và cũng vừa do sự bất cẩn của các bạn đi cùng thuyền và nhiều lý do chủ quan hay khách quan khác. Cái chết của người tự tử thì có thể có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân lớn là cái quyết định của chính họ. Cái chết của nhiều người trong trại Auschwitz thì ai cũng nhận đó là do sự độc ác của nhà độc tài Hitler và nhiều người dưới quyền ông ta lúc bấy giờ. Chúng ta có thể khẳng định rằng cùng với quy luật của giới tự nhiên đã tạo lập thì Thiên Chúa còn trao ban cho con người quyền chọn lựa trên chính sự sống lẫn sự chết của mình và của nhau. Đây là một hồng ân cao cả nhưng cũng là một thách đố khó vượt qua. Nếu có sự lựa chọn nào xấu xa, gây hậu quả nghiêm trọng cho bản thân, cho tha nhân, cho xã hội và giáo hội thì xin chớ đổ thừa cho Thiên Chúa.


Trở lại với các bậc sống, các vai vị trong giáo hội. Lật các trang Tin mừng chúng ta nhận ra hiện thực này: Khi vào trần gian, Đấng luôn tự xưng là Con Người đã thức suốt một đêm trắng để cầu nguyện rồi sáng hôm sau chọn gọi Nhóm Mười Hai đặt làm Tông đồ. Chúa Cha không đích thân chọn nhưng Người trao phó cho Đấng làm người chọn tập thể Nhóm Mười Hai. Các bậc sống: tu sĩ, linh mục, giám mục hay các vai vị: Bề trên cộng đoàn, Bề trên Tổng quyền, Quản xứ, Giám mục giáo phận…và cả Giáo Hoàng thì Thiên Chúa cũng trao phó cho con người quyết định chọn lựa cho chính mình hay cho người khác. Đã có chọn lựa thì có thể đúng có thể sai, có thể đúng và đẹp thánh ý Thiên Chúa và cũng có thể chưa. Chúng ta tin rằng dù có lúc con người chọn sai nhưng Thiên Chúa vẫn luôn hướng dẫn dòng lịch sử nhân loại theo lòng từ bi và quyền năng của Người, nói theo ngôn ngữ tu đức là Thiên Chúa vạch đường thẳng bằng những nét cong của con người. Tuy nhiên nội dung niềm tin này không hề xem nhẹ hay bỏ qua vai trò chọn lựa của loài người. Sự chọn lựa của con người qua các quyết định căn bản luôn có đó vai trò thiết yếu làm nên sự sống sự chết, làm nên hạnh phúc hay đau khổ cho mình và tha nhân đến độ thánh giáo phụ Âugustinô dám khẳng định rằng “Thiên Chúa có thể dựng nên tôi mà không cần có tôi nhưng Người không thể cứu độ tôi mà không cần có tôi”.


Phó mặc mọi sự cho Thiên Chúa là một hành vi lỗi Đức Cậy cũng giống như thái độ quá cậy dựa vào sức riêng của mình. Thiên Chúa dựng nên loài người giống hình ảnh Người và Người muốn tạo vật cao cả này vốn được ban cho linh hồn với hai cơ năng là sự hiểu biết và ý chí tự do, phải biết sống cách trưởng thành để cộng tác với Người hoàn thành công cuộc sáng tạo. Nhiệm vụ vinh dự này vừa nói lên nét cao cả của con người cũng vừa là chìa khoá mở cánh cửa vào sự sống đời đời của con người để hưởng vinh phúc vĩnh cửu hay để trầm luân mãi mãi.


Tản mạn đôi điều về sự chọn-gọi chỉ mong sao Kitô hữu chúng ta đừng hữu ý hay vô tình làm cớ cho sự dữ tồn tại khiến nhiều người đã từng phẩn uất và đã chọn con đường “vô thần”. Công đồng Vatianô II cũng đã từng nhìn nhận phần trách nhiệm của Kitô hữu khi sống quá thụ động khiến cho chủ nghĩa vô thần phát triển. Phải chăng cũng do sự thụ động của chúng ta mà các chế độ độc tài vẫn còn tồn tại? Phải chăng vì sự thụ động của chúng ta mà xã hội vẫn còn tồn tại nhiều bất công, gian dối, bạo lực, hận thù, áp bức?


          Sự sống, sự chết, đau khổ, hạnh phúc của bản thân và tha nhân một cách nào đó đang ở trong sự lựa chọn của chúng ta. Thay vì chủ trương như Tổng thống Obama là “freedom of choice” thì Kitô hữu chúng ta phải biết cầu nguyện trong chân thành và khiêm hạ rồi  can đảm đưa ra những lựa chọn, quyết định cách sáng suốt và có trách nhiệm. Có thể nói rằng tương lai của xã hội, của dân tộc, của đất nước, của Giáo hội đang tuỳ thuộc sự lựa chọn của mỗi người chúng ta vậy. Một câu hỏi rất thời sự: “Đâu là sự lựa chọn của bạn, của tôi về nội dung Bản Hiến Pháp nước nhà đang được đề nghị sửa đổi?”



Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột
Nguồn thanhlinh

Comment

Translate