20/3/13

THÁNH THẦN VÀ NHỮNG CỘNG ĐOÀN MỚI

VÀI NÉT VỀ
CANH TÂN ĐẶC SỦNG CÔNG GIÁO

TÀI LIỆU * LỜI CHỨNG * CẢM NGHIỆM






BÀI 8 :THÁNH THẦN VÀ NHỮNG CỘNG ĐOÀN MỚI
 


Trích Chương 8, tác phẩm
THÁNH THẦN, HƠI THỞ SỐNG ĐỘNG CỦA GIÁO HỘI
Cố Hồng Y L.J. SUENENS

 


Đức tin phải thấm nhuần tình huynh đệ,
nghĩa là phải được thể hiện trong cộng đoàn,
nếu không, đức tin sẽ chẳng tồn tại.
P. Liége




1. HÌNH ẢNH BAN ĐẦU CỦA GIÁO HỘI :TÌNH HUYNH ĐỆ KITÔ GIÁO


Trên hành trình trở về nguồn của Kitô giáo, chúng ta đã nêu lên đặc tính của người Kitô hữu nguyên thủy. Đó là những người «biết hoán cải, nhận Đức Giêsu làm Chúa và làm Đấng Cứu Độ, lắng nghe Thánh Thần».


Chúng ta cũng phải ý thức thực trạng của các cộng đoàn Kitô giáo thời sơ khai ấy. Sau hai mươi thế kỷ, các bối cảnh văn hóa xã hội rõ ràng đã thay đổi rất nhiều. Nhưng để giữ sự liên tục không bị gián đoạn với quá khứ, cần phải tìm lại những yếu tố cốt yếu. Ngay cả những tương phản cũng có giá trị giúp ta tự vấn lương tâm. Ngày nay, chữ «Giáo Hội» xét về mặt bên ngoài, hẳn sẽ gợi lên hình ảnh một xã hội có tổ chức chặt chẽ, bao trùm mọi lục địa, được điều hành bằng những luật lệ phổ quát do Đức Giáo Hoàng ban hành. Đó là hình ảnh một «định chế» bên cạnh «những định chế khác», thường được nói đến trong khuôn khổ chính trị hoặc xã hội học. Người ta xếp chung trên cùng một bình diện những quyền bính dân sự, quân sự và tôn giáo; rồi đồng hóa sự khủng hoảng của Giáo Hội với sự khủng hoảng của một chế độ quân chủ tuyệt đối đang bị các thế lực dân chủ chống đối. Đó là nhìn Giáo Hội qua một ống nhòm bị điều chỉnh sai, dưới góc độ làm hình ảnh bị rời ra xa, bị biến dạng, thay vì đưa lại gần.


Mang thân phận con người trong thời gian và không gian, nên Giáo Hội cũng là «định chế và xã hội»; nhưng – như chúng tôi đã nói - tự nơi bản chất thâm sâu của mình, Giáo Hội là một cộng đoàn huynh đệ gồm những người nhìn nhận Đức Giêsu Na-da-rét, đã chết và phục sinh, là Đấng Cứu Độ con người và thế giới. Họ nhìn nhận Ngài là Chúa và là Con duy nhất của Thiên Chúa. Và họ muốn dựa vào Ngài để cùng thực hiện những nội dung đức tin của họ, giữa họ với nhau và với tất cả mọi người. Giáo Hội chỉ hiện diện cụ thể ở nơi nào các tín hữu tụ họp lại để nghe lơi Chúa, để cầu nguyện, để cử hành Tiệc Thánh, để dấn thân sống đức tin và đức ái bằng một cuộc sống cá nhân và cộng đoàn bất khả phân ly.
Cha L. Bouyer đã viết rất chính xác:


« Tự căn cơ Giáo Hội không hiện hữu như một tổ chức có qui mô toàn cầu chuyên lo việc phụng tự, rao giảng Tin Mừng hoặc việc bác ái Kitô giáo, mà trước tiên như những cộng đoàn chủ yếu ở địa phương gồm các tín hữu tụ tập nhau lại để cử hành Thánh Thể».39


Sách Công Vụ Tông Đồ cho chúng ta thấy tình huynh đệ của các Kitô hữu, là môn đệ Đức Giêsu. Họ liên kết chặt chẽ với nhau, đôi khi đến mức chia sẻ của cải cho nhau.


Những Kitô hữu đầu tiên, gồm ba ngàn người hoán cải và gia nhập đức tin, đã đón nhận lời Thánh Phêrô và các Tông Đồ vào sáng ngày Thánh Thần hiện xuống. Họ được sách Công Vụ Tông Đồ mô tả là:


– một cộng đoàn do các Tông Đồ hướng dẫn, chuyên chú nghe các Tông Đồ dạy dỗ.
– một cộng đoàn huynh đệ linh hoạt nhờ những buổi hội họp và tiếp xúc thường xuyên với nhau.
– một cộng đoàn Thánh Thể, cùng cử hành lễ tưởng niệm Đức Chúa «cho đến khi Ngài lại đến».
– một cộng đoàn cầu nguyện, trước tiên cùng tụ họp ở Đền Thờ, và về sau tại nhà của nhau.




Trên đây là những nét chủ yếu người ta nhận thấy nơi Giáo Hội thời sơ khai; sự hiệp thông huynh đệ nồng ấm này là dấu chỉ tuyệt vời làm cho người ta tin tưởng vào Giáo Hội. Người ta phải buột miệng nói: «Kìa xem họ yêu thương nhau biết bao!».
Những ai nhìn họ sống đều bị đánh động bởi niềm vui, tâm hồn đơn sơ, tình huynh đệ chan chứa của họ. Ta có thể nói rằng đời sống của họ rõ ràng là chân thật, họ tin tưởng thế nào thì thực hành thế ấy. Họ cố gắng sống trọn vẹn lời nhắn nhủ hết sức hợp lý sau đây: «Ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy thì làm sao có thể yêu mến Thiên Chúa, Đấng họ không thấy» (1Ga 4,20).



Mối hiệp thông huynh đệ của họ không phải là kết quả của sự gần gũi tự nhiên, hoặc do sự nhiệt tình lãng mạn. Mối hiệp thông ấy– Koinonia – trải qua những căng thẳng nội bộ mà họ phải vượt thắng, bên trên những gì ngăn cách hoặc đối đầu giữa nô lệ và chủ nhân, giữa đàn ông và đàn bà, giữa Do Thái và Hy Lạp.



Mối hiệp thông huynh đệ ở đây không phát sinh từ việc có chung một ý thức hệ hoặc cùng sống theo một bộ luật chi tiết nào đó mà bắt nguồn từ việc gặp gỡ một Đấng và do việc tuyên xưng niềm tin của mình vào Đấng ấy. Mối hiệp thông trước tiên là hiệp thông với Đấng nầy, từ đó phát sinh ra sự hiệp nhất giữa các anh chị em cùng tuyên dương Ngài. Mối hiệp thông này là một «Martyria= mầu nhiệm tử đạo» nghĩa là chứng tá. Chính từ ngữ này – «Martyria» – nói lên mức chứng tá mà Kitô hữu có thể phải gặp.40



Mối hiệp thông huynh đệ này còn là «Diaconia», nghĩa là phục vụ trong tình liên đới, ưu tiên phục vụ các anh chị em đang gặp khó khăn. Chúng ta nhớ lại những quyên góp của thánh Phaolô giúp các Kitô hữu ở Giêrusalem và việc chia sẻ của cải cho nhau. Mối hiệp thông huynh đệ nầy giải thích nhiều tác vụ khác nhau để phục vụ cộng đoàn trong chính nhãn quan “diaconia”trên đây.



Các chức năng mục vụ được định vị ngay trong khuôn khổ tình huynh đệ khởi thủy này. Dĩ nhiên, các chức năng ấy không thuần túy phát sinh từ cộng đoàn. Vì từ khởi thủy, Đức Giêsu đã ban cho Giáo Hội Ngài một tác vụ tông đồ nối liền với Ngài cách đặc biệt. Nhưng việc phục vụ Giáo Hội đã thấm sâu vào tâm hồn những cộng đoàn đang khai sinh.
Trong chương hai hiến chế Lumen Gentium, Công Đồng Vatican II đã nhấn mạnh khía cạnh huynh đệ là nền tảng của Giáo Hội khi mô tả Giáo Hội là dân Thiên Chúa, dân chịu phép rửa, dân coi nhau là anh chị em mình. Như thế, Công Đồng Vatican II đã tiếp nối truyền thống mà dư âm hiện vẫn còn vang trong sách Công Vụ Tông Đồ. Đó là quyết định của Công Đồng Giê-ru-sa-lem, quyết định chung của «các Tông Đồ, các trưởng lão và các anh em», được truyền đến các Kitô hữu ở An-ti-ô-ki-a, Si-ri-a, Si-li-xi-a. Quyết định ấy được coi như của toàn thể cộng đoàn: «Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định không đặt lên vai anh em một gánh nặng nào khác ngoài những điều cần thiết này» (Cv 15,28).


Trong ba thế kỷ đầu, các thế hệ Kitô hữu đầu tiên đã sống tình huynh đệ này hết sức tự nhiên. Chữ «Giáo Hội» có nghĩa là cuộc tụ họp, và cuộc tụ họp này mang danh nghĩa «cộng đoàn huynh đệ» (Thư thánh Phêrô). Các Giáo Hội địa phương này gởi thư cho các Giáo Hội địa phương khác. Các giám mục cũng gởi các sứ điệp tới các Giáo Hội khác với Giáo Hội của mình. Chẳng hạn thư của Thánh Phaolô gởi tín hữu Roma không phải là một trường hợp riêng lẻ. Vào đầu thế kỷ thứ hai, thánh I-nha-xi-ô thành An-ti-ô-ki-a gởi bảy lá thư cho các Giáo Hội trong đó có sáu Giáo Hội thuộc về một vùng khác. Thời ấy, người ta cùng sống đạo Kitô với nhau, các công việc của bất kỳ ai cũng đều là việc của mọi người. Thay đổi lịch sử xảy ra giữa thế kỷ thứ III và thứ VI. Càng ngày người ta càng nhấn mạnh đến khía cạnh định chế và pháp lý của Giáo Hội, cũng như phân biệt giữa giáo sĩ và giáo dân, để cuối cùng giống như đã lập ra hai giai cấp trong Giáo Hội.



Nói thế không có nghĩa là giáo phẩm và tác vụ linh mục không phải là những thực thể chuyên biệt, nhưng vai trò riêng của họ được linh hoạt trong khuôn khổ cộng đoàn. Vì thế, bình diện mục vụ chi phối rõ rệt ý nghĩa thẩm quyền tôn giáo. Và sự kiện nầy giải thích hình ảnh mục tử được Giáo Hội chọn để nói đến các vị hướng dẫn cộng đoàn: hình ảnh này không chỉ có trong Tin Mừng vốn mô tả Đức Giêsu là vị mục tử nhân lành, mà nó còn đáp ứng được thực thể Giáo Hội mà người ta đang sống. Vai trò mục tử trước tiên không phải là cai quản đàn chiên mà là tụ họp chiên lại, liên kết chúng với nhau thành một cộng đoàn thống nhất.





2. KITÔ GIÁO MANG TÍNH CỘNG ĐOÀN


Giáo Hội sơ khai đã phát sinh như một tập thể gồm những cộng đoàn bé nhỏ của các Kitô hữu, tản mác khắp nơi trong đế quốc La Mã. Họ sống giữa mọi người, đóng vai trò mà Đức Giêsu đã chỉ định là làm muối đất, làm men dậy bột. Nhờ sức mạnh từ bên trong – tức quyền lực của Thánh Thần hoạt động trong Giáo Hội – dần dà người gặp người và Giáo Hội được thiết lập. Khi nhìn về tương lai, chúng ta như tái khám phá một Giáo Hội sống lưu đày, tản mác. Đây lại là lý do mới nữa gợi ý cho chúng ta rút tỉa bài học của thời nguyên thủy Giáo Hội. Tôi tin rằng, hơn bao giờ hết, tương lai của Giáo Hội tùy thuộc vào sức mạnh và phẩm cách của đời sống cộng đoàn của mình. Giáo Hội tương lai tùy thuộc vào các cộng đoàn Kitô hữu, là những nơi thể hiện Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Kitô.



Kitô giáo và chủ nghĩa cá nhân không thể đi đôi với nhau. Bản chất của đời sống Kitô hữu là để cho Chúa Kitô trở thành sự sống chung của các Kitô hữu. Là để Thánh Thần xây dựng Giáo Hội nơi chúng ta bằng những ân huệ đa biệt, đồng quy và bổ sung lẫn nhau. Đặc tính của các đoàn sủng không phải là sự biểu hiện của Thánh Thần vì thiện ích chung sao? Đoàn sủng được bảo đảm là chân thật khi các Kitô hữu trong cộng đoàn biết rõ nhau, phê bình xây dựng lẫn nhau, cùng nhau suy xét. Nhờ sinh hoạt chung như thế mà cuộc sống cộng đoàn thêm phong phú, và những đối nghịch đi đến hòa hợp. Người ta thường nói phải hợp nhiều người lại mới có được quyết định khôn ngoan. Cũng có thể nói : phải hợp nhiều người lại thì mới là Kitô hữu. Vả lại Đức Giêsu từng dạy rằng : «Ở đâu có hai hoặc ba người họp lại vì danh Thầy thì Thầy ở giữa họ» (Mt 18,20). Lời hứa này bắt nguồn từ chính mầu nhiệm Ba Ngôi.


Sự thống nhất siêu việt ấy của Ba Ngôi đã được Đức Giêsu chỉ cho chúng ta như gương mẫu tối cao để chúng ta bắt chước và thể hiện trong đời sống của mình. Kitô hữu là một hữu thể cộng đoàn. Nếu không ai là một hòn đảo thì điều ấy lại càng đúng đối với tất cả những ai đã chịu phép rửa tội. Chính Đức Giáo Hoàng cũng không thể tự cô lập. Thượng phụ Athénagoras từng nói: «Đức Giáo Hoàng cũng cần có anh em».


Để Đức Giêsu đặc biệt hiện diện, chúng ta cần phải hợp thành một cộng đoàn, tối thiểu là hai hoặc ba người. Người ta phải sống Kitô giáo chung với nhau. Không gần gũi anh chị em mình, làm sao ta có thể chia sẻ lương thực thiêng liêng với họ? Mỗi người phải làm sao phát triển các đoàn sủng mình nhận được để ích lợi cho tất cả mọi người. Trước khi trở thành Giáo Hội hoàn cầu, thì Giáo Hội đã từng là Giáo Hội Cô-rin-tô hoặc Giáo Hội Ê-phê-sô. Chúng ta càng ý thức về sức sống cộng đoàn cụ thể, thì Giáo Hội càng hiện diện linh động và càng triển nở.


Đời sống cộng đoàn và nhu cầu con người ngày nay


Kitô giáo tự bản chất là cộng đoàn. Điều này đúng trong mọi nơi mọi lúc; nhưng người Kitô hữu hôm nay lại cần phải phục hoạt những cộng đoàn Kitô hữu, không phải chỉ để sống đức tin của mình, mà còn để tồn tại với tư cách Kitô hữu trong một thế giới ngày càng xa lạ với Kitô giáo. Chèo ngược dòng nước thì lúc nào cũng vất vả; người ta hầu như bị miễn cưỡng lôi đi. Con người là con cái của thời đại mình nhiều hơn là con cái của cha mẹ mình. Chúng ta bị đe doạ trầm trọng bởi khuôn mẫu tập thể; xã hội đang áp đặt hình ảnh và các tiêu chuẩn độc đoán của nó trên chúng ta. Nếu nhân loại tiến bộ trong một số lãnh vực thì nó lại thụt lùi trong biết bao lãnh vực khác: phong hóa đồi bại, tội ác gia tăng, bạo lực, mưu sát, v..v.. Người Kitô hữu đang hít thở không khí của một thế giới như thế. Không thể sống Kitô giáo trong hầm kín, biệt cư để mong tránh khỏi các loại chướng khí độc hại ấy .


Cộng đoàn Kitô hữu cơ bản là gì?


Do đó, hơn bao giờ hết, chúng ta cảm thấy khẩn thiết phải làm sống dậy những cộng đoàn Kitô hữu đích thực. Thế nhưng danh hiệu «cộng đoàn cơ bản» thường bao hàm những thực tế hết sức khác nhau, ngay cả trong môi trường Kitô giáo. Một linh mục người Bỉ, cha Max Delespesse, giám đốc Trung tâm cộng đoàn quốc tế ở Bruxelles, nhận xét như sau: Người ta hay dùng tên ấy để nói đến những cộng đoàn «cùng hành động với nhau» hơn là «cùng sống với nhau». Các cộng đoàn cùng hành động với nhau đương nhiên có lý do hiện hữu của mình, tuy nhiên, ở đây chúng ta không đề cập đến những cộng đoàn này. Cộng đoàn Kitô hữu mà chúng tôi muốn nói tới là loại cộng đoàn «cùng sống với nhau» để rồi cùng hành động với nhau.


Việc sống cùng với nhau ấy có thể thực hiện ở nhiều mức độ khác nhau. Ở đây chúng ta không cần phân tích các mức độ ấy. Nhưng đối với Kitô hữu, cùng sống với nhau mà thôi thì chưa đủ để thành một cộng đoàn Kitô hữu. Chỉ là cộng đoàn Kitô hữu nếu họ thực sự cùng sống với nhau vì Đức Giêsu Kitô, Đấng mà họ công khai tuyên xưng, Đấng mà họ cố gắng bước theo vì Ngài là Chủ Tể sự sống, là Đấng Cứu Độ, là Chúa. Một cộng đoàn chỉ đích thực là Kitô giáo nếu biết đáp lại lời gọi của Đức Giêsu Kitô để Thánh Thần Ngài dẫn dắt đi giữa lòng thế giới. Bonhoeffer lưu ý đến điều kiện đầu tiên này, ông viết:
«Ngay từ đầu cần phải ý thức rằng tình huynh đệ Kitô giáo trước hết không phải là một lý tưởng do con người suy nghĩ ra, mà là một thực tế được Thiên Chúa ban tặng. Tiếp đó, ý thức rằng thực tế nầy thuộc trật tự thiêng liêng chứ không thuộc trật tự tâm lý. Không thể đếm hết những cộng đoàn Kitô hữu bị băng rã vì đã sống theo một hình ảnh ảo tưởng về Giáo Hội».41


Suy nghĩ trên đây rất chính xác và đúng lúc. Có lần tôi đọc lướt qua một tạp chí nọ, bỗng đọc thấy một định nghĩa về cộng đoàn cơ bản như sau: «Các cộng đoàn cơ bản ít nhắm tới việc loan báo Đức Giêsu Kitô cho bằng tự tra vấn mình về chính Ngài, và sống đức tin như một cuộc tìm kiếm liên lỉ. Các cộng đoàn này muốn liên kết hoạt động chính trị với việc sống đạo Kitô giáo của mình». Trong đoạn trên, cần hiểu rõ từng chữ một. Theo nghĩa đích xác và mạnh mẽ của bản chất mình thì một cộng đoàn Kitô giáo không thể nào không rao truyền Đức Giêsu Kitô: «Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng» (1Cr 9,16). Nói thế không có nghĩa là phải thực hiện ơn gọi nầy một cách thiếu suy xét, cẩu thả. Có rất nhiều cách «trình bày về Đức Giêsu Kitô». Dầu sao đi nữa thì người Kitô hữu phải luôn luôn nghĩ đến chuyện làm sao mang sứ điệp đến với mọi người bất chấp trở ngại và chống đối có thể xảy ra.


Trong câu định nghĩa trên có câu: «Tự tra vấn mình về Đức Giêsu Kitô và sống đức tin như một cuộc tìm kiếm». Nhưng chúng ta cần đồng ý với nhau lối hiểu câu nầy: Hẳn nhiên người ta có thể thắc mắc về Đức Giêsu Kitô và tìm cách nhận biết Ngài rõ hơn khởi từ đức tin nguyên thủy vào Ngài và trong khuôn khổ đức tin ấy. Đó chính là sứ mạng của thần học. Hoặc là theo giả thuyết hoàn toàn khác, người ta thắc mắc từ nơi ngưỡng cửa đức tin, rốt ráo đặt lại vấn đề đức tin của mình.
Có thể có những nhóm người dọ dẫm còn xa lạ với đức tin đang cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa của Kitô giáo. Nhưng những nhóm người như thế chưa phải những cộng đoàn Kitô hữu theo nghĩa chính xác. Còn nếu là những người đã chịu phép rửa, thì cuộc tìm kiếm của họ lại mang một ý nghĩa khác. Nếu ta thắc mắc nghi ngờ thần tính Đức Giêsu Kitô hay về sự phục sinh của Ngài – không phải về việc mầu nhiệm ấy xảy ra thế nào, mà về chính việc chấp nhận mầu nhiệm ấy –, thì ta không còn là Kitô hữu nữa. Một cộng đoàn tìm kiếm như thế không phải là một cộng đoàn Kitô giáo. Cần phải tôn trọng giá trị của từ ngữ. Bất hạn một cộng đoàn Kitô giáo nào, ngay từ nền tảng, cũng phải cùng nhau nhìn nhận Đức Giêsu và sứ điệp của Ngài.



Khi hỏi: «Người Kitô hữu là ai?» người ta thường trả lời: đó là một người tốt, công bình, bác ái, có đạo đức và có ý thức xã hội. Nhưng rất nhiều người không là Kitô hữu cũng có những đức tính ấy, đôi khi còn hơn cả chúng ta. Thế thì sao? Đặc tính duy nhất và cấu thành Kitô giáo không phải là toàn bộ các nguyên tắc hay giá trị, mà là Đức Giêsu Kitô. Điều cốt yếu của Kitô giáo chính là ý nghĩa của cuộc đời, của sự chết, của sự sống lại của Đức Giêsu Kitô, và của sự hiện diện sống động của Ngài nhờ Thánh Thần.


Nếu Đức Kitô chỉ là một danh hiệu mơ hồ, kỳ thực chỉ là nhằm mô phỏng tình yêu đối với nhân loại mà thôi, và nếu Tin Mừng bị giản lược thành một chủ nghĩa nhân bản xã hội nào đó, thì danh hiệu Giêsu hẳn có thể gán cho tên của bất kỳ vị tiên tri vĩ đại nào đó của nhân loại. Cổ võ canh tân trong Giáo Hội để làm gì nếu việc canh tân này không giúp người ta tái khám phá một cách sâu xa tương quan cá nhân của người Kitô hữu với Đức Giêsu Kitô. Nếu muốn sống đời Kitô hữu một cách trung thực, trước tiên phải tìm cho ra ý nghĩa chính xác của phép rửa trong Đức Giêsu Kitô.
Đức Giêsu Kitô là viên đá gốc, là nền của mọi cộng đoàn Kitô hữu. Để một cộng đoàn Kitô hữu có thể sống và tồn tại, cần phải có lẽ sống, và lẽ sống ấy chính là Đức Kitô. Không thể thay thế lẽ sống ấy bằng bất cứ thứ gì. Ngài làm cộng đoàn sinh động từ bên trong nhờ Thánh Thần của Ngài. Không có Ngài, không thể có gặp gỡ, không thể có hiệp thông đích thực giữa con người với nhau.


Không ai diễn tả chức năng của Thánh Thần là mối dây liên kết con người lại với nhau một cách tuyệt vời như Dietrich Bonhoeffer. Thần học gia Tin Lành bị Đức Quốc Xã sát hại này vẫn là một trong những nhà tư tưởng được giới trẻ yêu thích. Người ta trích dẫn những lá thư ông viết trong tù nhiều hơn tất cả những tác phẩm khác của ông. Tôi nghĩ rằng trang trích dẫn sau đây nói lên tư tưởng chính yếu của tác phẩm của ông: «Bàn về bản chất đích thực của Giáo Hội». Trong trang này, ông nhắc nhở rằng từ kể từ biến cố Hiện Xuống, chính Thánh Thần luôn làm cho mọi «cuộc tụ họp nhau» trở thành «Giáo Hội»:
«Người ta tụ họp lại: Thánh Thần ngự xuống trên họ... Trước tiên là tụ họp lại, tiếp đến là Thánh Thần ngự xuống. Tụ họp mà thôi thì chưa phải là Giáo Hội: chính Thánh Thần mới làm cho sự tụ họp ấy thành Giáo Hội. Nhưng Thánh Thần chỉ đến trên những người đã tụ họp lại với nhau. Con người chẳng thể làm gì để cứu rỗi mình, nhưng họ có thể hướng về Giáo Hội: lời hứa ban Thánh Thần được hứa cho từng người với điều kiện người ấy phải là thành viên của một cộng đoàn tập hợp lại. Điều mới mẻ xảy đến cho người ấy chính là Thánh Thần đến. Việc Thánh Thần ngự đến và việc thành lập Giáo Hội là một biến cố nhìn thấy được chứ không phải một ý tưởng mơ hồ. Thánh Thần tự tạo cho mình một chỗ trong thế gian và Ngài ngự đến với những dấu chỉ hữu hình. Cộng đoàn lập tức thành hình, mọi người đều có thể nhìn thấy và chân nhận.



Thành lập Giáo Hội không phải là một việc được thực hiện giấu giếm trong một xó xỉnh nào đó, mà là một biểu hiện rõ ràng đối với tất cả những ai được kêu gọi. Thánh Thần cho thế gian thấy cộng đoàn của Ngài: Cộng đoàn ấy lập tức trở nên “một thành xây trên núi không thể giấu được”. Thánh Thần tràn ngập Lời Chúa: Ngài không ấp úng nhưng nói thật rõ ràng; ai nấy đều hiểu. Chính đó là ý nghĩa của phép lạ nói nhiều thứ tiếng. Lời Chúa liên kết lại và đặt con người trước trách nhiệm của mình. Thánh Thần nói Lời duy nhất mà mọi người đều hiểu. Khi trở nên hữu hình, Giáo Hội liền chịu thế gian phê phán: sự hữu hình của Giáo Hội gây mâu thuẩn. Thế gian xem sự hiện diện của Thánh Thần có vẻ như say sưa và điên rồ. Sự nhạo cười ấy chính là dấu chỉ luôn luôn đổi mới cho biết Giáo Hội đang đi đúng đường. Dấu chỉ ấy còn rõ ràng hơn cả những lời vỗ tay tán tụng của thế gian. Khi nào Giáo Hội ẩn mình để khỏi ai nhìn thấy, thì bấy giờ là Giáo Hội đã hiểu sai thực tại Thánh Thần».




3. GIÁO XỨ VÀ CỘNG ĐOÀN


Là hơi thở sống động của Giáo Hội, Thánh Thần làm Giáo Hội sinh động nơi từng bộ phận nhỏ, chứ không phải chỉ cho toàn thể Giáo Hội một cách tổng quát. Như chúng ta đã nói ở phần trên, công cuộc canh tân tâm linh chỉ thành công nếu bắt đầu từ nơi đời sống cụ thể, thường nhật, của những Kitô hữu có khả năng sống đạo Kitô giáo của mình trong một môi trường sống bình thường. Người Kitô hữu còn bị chi phối bởi môi trường họ sống nhiều hơn bởi các cơ chế. Ảnh hưởng của môi trường sống còn quan trọng hơn các cơ chế. Phải bắt đầu từ những cộng đoàn Kitô hữu đích thực mới có thể làm cho Kitô giáo sống động trở lại. Các cộng đoàn tạo nên mô tế bào cho cơ thể là Giáo Hội.
Điều này dẫn chúng ta đến một vấn đề tế nhị, đó là những tương quan giữa các cộng đoàn cơ bản và đơn vị nền tảng của cơ chế là giáo xứ.


Cộng đoàn Kitô hữu và cơ cấu giáo xứ


Chúng ta không thuật lại ở đây lịch sử hình thành giáo xứ như ta đang có hiện nay. Gần như ở khắp nơi, cơ cấu giáo xứ là nền tảng đầu tiên của Giáo Hội. Nói chung, trước đây giáo xứ đúng là môi trường sống của người Kitô hữu, và không có vấn đề gì phải đặt ra: giáo xứ đã được cảm nhận là tổ ấm thông thường của đời sống Kitô hữu. Nhưng rồi vấn đề đô thị hóa, đời sống tân tiến, sự di chuyển, trào lưu tục hóa, chủ nghĩa đa nguyên xã hội đã làm đảo lộn tình trạng quân bình ấy. Các giáo xứ ở thành phố và ở các thị trấn lớn không còn nằm trong khuôn khổ sinh hoạt bình thường nữa. Chủ chăn và Kitô hữu khó tạo được những tương giao thân thiết làm cho mọi cộng đoàn trở nên sống động. Để tìm ra nét tương phản, chúng ta hãy đọc lại đoạn kết của thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Roma. Thật tha thiết nồng ấm!


«Tôi xin gửi lời thăm chị Pơ-rít-ca và anh A-qui-la, những người cộng tác với tôi để phục vụ Đức Kitô Giêsu ; hai anh chị đã liều mất đầu để cứu mạng tôi. Không chỉ mình tôi, mà còn các Hội Thánh trong dân ngoại cũng phải mang ơn anh chị. Tôi cũng xin gửi lời thăm Hội Thánh vẫn họp tại nhà anh chị ấy.


«Xin gửi lời thăm anh Ê-pê-nét, bạn yêu quý của tôi, là của đầu mùa miền A-xi-a dâng lên Đức Kitô. Xin gửi lời thăm chị Maria, người đã vất vả nhiều vì anh em. Xin gửi lời thăm các anh An-rô-ni-cô và Giu-ni-a, bà con với tôi, và đã từng ngồi tù với tôi ; các anh là những người xuất sắc trong các Tông Đồ, lại còn theo Đức Kitô trước tôi. Xin gửi lời thăm anh Am-li-át, bạn yêu quý của tôi trong Chúa. Xin gửi lời thăm anh Ua-ban, người cộng tác với chúng tôi trong Đức Kitô, và anh Ta-khy, bạn yêu quý của tôi. Xin gửi lời thăm anh A-pe-lê, người đã từng được tôi luyện trong Đức Kitô. Xin gửi lời thăm mọi người trong nhà anh A-rít-tô-bu-lô. Xin gửi lời thăm anh Hê-rô-đi-on, bà con với tôi. Xin gửi lời thăm bà con anh Na-ki-xô, những người đang ở trong Chúa. Xin gửi lời thăm hai chị Try-phen và Try-phô-xa, những người đang vất vả vì Chúa. Xin gửi lời thăm chị Péc-xi-đê yêu quý, người đã vất vả nhiều vì Chúa. Xin gửi lời thăm anh Ru-phô, người được Chúa chọn, và thăm mẹ của anh, cũng là mẹ của tôi. Xin gửi lời thăm các anh A-xinh-rít, Phơ-lê-gon, Héc-mê, Pát-rô-ba, Héc-ma và những anh em ở với các anh ấy. Xin gửi lời thăm anh Phi-lô-lô-gô và chị Giu-li-a, anh Nê-rê và cô em anh ấy, anh Ô-lim-pa và mọi người trong dân thánh đang ở với các anh chị ấy. Anh em hãy hôn chào nhau một cách thánh thiện. Tất cả các Hội Thánh Đức Kitô gửi lời chào anh em» (Rm 16,3-16).



Mặc dù đời sống hờ hững vô tình của các thành phố ngày nay, các giáo xứ đã cố gắng rất nhiều để trở nên sống động và tăng cường các sinh hoạt cộng đồng. Kể từ Công Đồng Vatican II, phụng vụ đã được canh tân để hướng đến mục tiêu đó. Nếu so sánh các buổi cử hành Thánh Thể trước kia và hiện nay, nói chung, người ta phải nhìn nhận rằng đã có một cuộc canh tân quan trọng. Chúng ta tìm lại được cộng đồng Kitô hữu cùng cầu nguyện với nhau, cùng lắng nghe lời Chúa, ý thức rằng Thánh Thể phải được hoàn thanh trong hiệp thông và phải tràn ra bên ngoài thành những cử chỉ tỏ bày tình huynh đệ. Tuy chưa đạt tới lý tưởng, nhưng bước đi khả quan.



Dầu vậy, nếu chúng ta nhìn kỹ cộng đồng được mời qui tụ trong các nhà thờ ngày chủ nhật, chúng ta phải thú nhận rằng cộng đoàn này chưa tạo được ấn tượng về mối tình huynh đệ thân thiết. Ngày Chúa Nhật, tại điểm hẹn ấy, ta thường thấy các Kitô hữu đủ loại đủ kiểu, từ những người dấn thân thực sự cho đến những người giữ đạo theo truyền thống. Ở đây chả ai nghĩ đến giai cấp xã hội hay sự ngăn cách giữa các giai cấp; còn lòng đạo hạnh vẫn luôn là một bí mật của Thiên Chúa. Theo ước lệ, chúng ta gọi những ai có thực hành đời sống bí tích một cách tối thiểu, là «Kitô hữu», mà không tìm hiểu xem trong đó có bao nhiêu người thực hành Kitô giáo cho trọn các chiều kích cần thiết. Nhiều Kitô hữu sống đạo hời hợt; còn những người sống phù hợp với định nghĩa đầy đủ về người Kitô hữu đích thực thì hiếm hơn. Tuy nhiên, ngoài nhận xét bàng quan đó, vấn đề quan trọng là phải ý thức đến các cấp độ khác nhau trong việc sống đời Kitô hữu, để định hướng nỗ lực mục vụ và thích ứng nỗ lực ấy cho những Kitô hữu kiểu đại trà cũng như những Kitô hữu dấn thân mạnh mẽ. Đàng khác, chúng ta phải làm sao để hai cách thức mục vụ ấy ăn khớp và đồng quy với nhau.


Giữa những giáo xứ và những cộng đoàn sống động hiện hữu bên ngoài những giáo xứ ấy, có thể xây dựng những tương quan đa biệt tuỳ hoàn cảnh và nhân sự. Phải làm sao để các sáng kiến, các dự án và sinh hoạt hòa hợp với nhau. Điều quan trọng là những cộng đoàn này không được nằm ngoài tầm giám sát của giám mục là trung tâm sống động của cộng đoàn Giáo Hội.



Có giáo xứ cho rằng cứ để các cộng đoàn ấy sinh hoạt và cho phép mỗi cộng đoàn phát triển theo con đường riêng của mình, nhưng rán giữ được sự hiệp nhất tối thiểu và cần thiết. Một lối hiệp nhất đa nguyên có thể mang lại kết quả tốt. Có giáo xứ lại nhờ một «cộng đoàn sống động» tạo năng động cho cho cả giáo xứ mình; nhờ cách nầy nhiều giáo xứ có được sự «phụ lực tâm linh». Có thể tiên liệu chắc chắn sẽ có đụng chạm và khó chịu. Tuy nhiên, khổ đau do sự hiểu lầm nhau cũng góp phần vào việc cứu chuộc nhân loại.


Về các nhóm đoàn sủng, Kevin Ranaghan đã mô tả sự hòa nhập có thể thực hiện được trong khung cảnh giáo xứ như sau:
«Chúng ta phải nỗ lực để giúp các nhóm cầu nguyện và những cộng đoàn của chúng ta hòa nhập vào các giáo xứ và các giáo phận của chúng ta. Không có một kiểu mẫu nào chung cho sự hòa nhập này. Mỗi nhóm cầu nguyện đoàn sủng và mỗi cộng đoàn đều có phong cách riêng của mình và cũng phong phú đa dạng như các giáo xứ và các giáo phận vậy.
«Tại một số nơi, Phong Trào Canh Tân Đoàn Sủng có thể là cuộc tiếp cận mục vụ nhằm canh tân mục vụ cho giáo xứ. Tại một số nơi khác, nhóm cầu nguyện chỉ là một hoạt động được giáo xứ chuẩn nhận. Tại một số thành phố, các nhóm đoàn sủng đông hơn, hoặc các cộng đoàn lớn hơn, qui tụ các Kitô hữu thuộc nhiều giáo xứ, thì cần thiết phải quan hệ với vị giám mục và các cộng sự viên của ngài. Đôi khi, cộng đoàn có thể xuất hiện nơi thành phố như một kiểu mới qui tụ các Kitô hữu; ở những nơi khác, cộng đoàn ấy lại mang hình thức một hiệp hội mới trải rộng khắp giáo phận».43


Để kết thúc đoạn văn nói về các giáo xứ và các cộng đoàn cơ bản, chúng ta cần nhìn về tương lai đầy hứa hẹn mà đôi bên có thể bổ sung cho nhau. Luis Rétif đã viết nên những hình ảnh tuyệt vời của chân trời ấy:



«Những đơn vị nhẹ nhàng hơn, những tập hợp phát sinh từ cuộc sống, một lối phụng vụ tìm lại được hơi ấm của lễ hội quen thuộc, những tác vụ được phân phối lại giữa linh mục và giáo dân, tình trạng thức tỉnh lương tâm ngôn sứ, linh mục hòa nhập lại vào cuộc sống tập thể cộng đoàn: đó là một số hứa hẹn đã chứng thực nơi các nhóm nhỏ. Miễn là cho họ thời gian để hình thành và chấp nhận cho họ quyền được sai lầm. Điều thiết yếu là phải tái tạo một cơ phận Kitô giáo sống động. Chỉ những cộng đoàn vừa mức sinh hoạt con người, bám rễ vào môi trường cụ thể địa phương, hiện diện ở những nơi có những con người tương thân tương ái đang sinh sống, đang chiến đấu và hy vọng, chỉ những cộng đoàn hoặc những nhóm Công Giáo tiến hành, cảm nhạy trước những thôi thúc của Thánh Thần để dấn thân cho chân lý trong mối hiệp thông với toàn thể Giáo Hội: chỉ những cộng đoàn như thế mới có thể làm hồi sinh toàn cơ thể là Giáo Hội.44





4. VAI TRÒ NGÔN SỨ CỦA CÁC CỘNG ĐOÀN KITÔ HỮU SỐNG ĐỘNG


Công Đồng Vatican II nói rằng Giáo Hội «là bí tích sự hiệp nhất nhân loại». Điều này có nghĩa là Giáo Hội vừa là dấu chỉ vừa là mối hy vọng cho thế giới đang khao khát hiệp nhất, bình an và phát triển toàn diện. Để chu toàn sứ mạng này, Giáo Hội phải có khả năng cống hiến cho thế giới những chứng nghiệm chỉ đạo; những chứng nghiệm nầy là tiền cảnh của một cộng đồng nhân loại mà con người mơ ước và tìm kiếm không ngơi. Giáo Hội phải có khả năng, qua tiền cảnh ấy, chỉ cho thế giới hé thấy được tương lai của nhân loại, một khi thế giới biết đón nhận Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ, là chìa khóa giải quyết những vấn đề của mình. Tôi cố ý sử dụng hình ảnh chìa khóa để minh chứng rằng căn rễ ẩn đằng sau mọi khổ đau của thế gian này chính là lòng căm ghét, ganh tị, ích kỷ cá nhân hoặc tập thể, thiếu tình thương dưới mọi hình thức. Tóm lại, nói theo ngôn ngữ Kitô giáo, đó chính là tội lỗi. Thế nhưng chỉ mình Đức Giêsu mới có thể thay đổi trái tim con người một cách sâu xa, nhờ đó mà thay đổi được mọi cơ chế. Chỉ khi biết đón nhận Đức Giêsu là đường, là sự thật và là sự sống, thì người ta mới có thể triệt để đi sâu vào trọng tâm vấn đề. Chỉ Giáo Hội Ngài mới có năng lực canh tân không những bộ mặt Giáo Hội mà cả bộ mặt trái đất này. Điều này có vẻ khó lọt tai những Kitô hữu có đức tin yếu kém, đức cậy lung lay. Nhưng đã là Kitô hữu thì phải tin hết mình vào điều ấy, không hơn không kém.


Khi chứng nghiệm được “ trời mới đất mới”, vượt lên trên muôn ngàn trở ngại như một dấu chỉ tiên phong, thì Kitô hữu có thể cống hiến niềm hy vọng ấy cho thế giới qua hình ảnh của nếp sống các cộng đoàn Kitô giáo cơ bản. Nhìn vào lối sống của các Kitô hữu nầy, người ta không khỏi ngạc nhiên tự hỏi: đâu là bí quyết giúp họ yêu thương nhau, sống thanh thản và quên mình như thế? Bấy giờ danh Đức Giêsu sẽ vụt nổi bật lên, vì chính cuộc sống của các Kitô hữu là ánh sáng giúp nhận ra khuôn mặt Ngài. Chính đó là dấu chỉ Đức Giêsu dùng để giúp thế giới có thể tin vào Ngài; và đó cũng là phương cách minh giáo hữu hiệu nhất. Cuộc sống Kitô hữu là chứng tá của sự thật, là giá trị ngôn sứ cho thế giới. J. J. von Allmen diễn tả điều ấy cách tuyệt vời:


«Mỗi người chịu phép rửa là một niềm hy vọng cho mọi người. Mỗi bữa tiệc Thánh Thể là một hứa hẹn cho mọi bữa ăn. Và Giáo Hội là bến mong chờ cho mọi xã hội con người».


Chúng ta có khuynh hướng coi nhẹ vai trò trung gian của cộng đoàn, trung gian giữa người Kitô hữu và thế giới. Nhờ cuộc sống cộng đoàn, chúng ta có thể sống đạo «tại gia» trước khi đưa đạo vào đời. Cần phải nghiên cứu sâu sát tương quan giữa các Kitô hữu theo Thánh Kinh: Tình yêu giữa anh chị em với nhau phải là ưu tiên. Thánh Phaolô nói: «Chúng ta hãy thực hành điều thiện cho mọi người, nhất là đối với anh em trong cùng đại gia đình đức tin» (Gl 6,10). Hãy coi chừng kẻo giống như hạng người «việc nhà thì nhác việc chú bác thì siêng». Bác ái phải bắt đầu từ trong gia đình mình rồi dần dà lan rộng ra tới người khác. Không thể bỏ qua những bước trung gian, những trạm trung chuyển. Phần lớn, công cuộc canh tân trong Giáo Hội được thực hiện khởi từ những cộng đoàn Kitô hữu đã trở thành tổ ấm ánh sáng và sức nóng đối với môi trường chung quanh.

Theo cái nhìn nhân loại, xem ra như nghịch lý khi cho rằng tương lai Giáo Hội tùy thuộc vào những cộng đoàn Kitô hữu bé nhỏ, vì những cộng đoàn ấy – dẫu nhiệt thành đến đâu – cũng chỉ là một giọt nước trong đại dương. Đúng vậy. Nhưng nếu lưu ý đến năng lực thiêng liêng toát ra từ bất cứ nhóm người nào chấp nhận để cho Đức Kitô làm sinh động bằng Thánh Thần Ngài, ta sẽ thấy tất cả đều thay đổi giá trị, vì chúng ta đang đi vào sức mạnh và quyền năng của chính Thiên Chúa. «Bầy chiên nhỏ bé trong Tin Mừng» tượng trưng cho thiểu số Kitô hữu mà Đức Cha Helder Camara ưa gọi là thiểu số A-bra-ham. Quả thật, chính những nhóm thiểu số ấy biến đổi thế giới.


Hồng Y Newman đã nhấn mạnh cách tuyệt vời về năng lực của những nhóm nhỏ bề ngoài có vẻ yếu đuối này:
«Không phải những gã khổng lồ làm được những chuyện to tát nhất... Mô-sê có một mình, Ê-li-a cũng một mình, Đa-vít, Phaolô, A-tha-na-di-ô, Lê-ô... đều một mình. Ân sủng luôn hoạt động thông qua một số ít người. Cái nhìn sắc bén, xác tín nồng nàn, quyết tâm không lay chuyển của nhóm nhỏ, máu của vị tử đạo, lời nguyện cầu của vị thánh, hành vi anh hùng, cơn khủng hoảng sớm vượt qua, năng lực tập trung vào một lời nói hay một ánh nhìn, đó là những dụng cụ của trời cao! Hỡi đoàn chiên nhỏ bé, đừng sợ, vì Đấng ngự giữa anh chị em có đầy quyền năng, Ngài sẽ làm cho anh chị em những điều kì diệu».



***************************************************
Nguồn thanhlinh

Bải Giảng của Tân Giáo Hoàng

VRNs (20.03.2013) – Radio Vatican – NGuyên văn bài giảng khai mạc triều đại giáo hoàng Phanxicô, sáng 19.03.2013 (giờ Rome):
Anh chị em thân mến,
Tôi cảm tạ Chúa vì được cử hành Thánh Lễ này, khai mạc sứ vụ Phêrô trong ngày lễ trọng kính Thánh Giuse, Hôn Phu của Đức Trinh Nữ Maria, và là Bổn Mạng của Giáo Hội: đây là một dịp trùng hợp đầy ý nghĩa và cũng là lễ bổn mạng của Vị Tiền Nhiệm Đáng Kính của tôi: chúng ta gần gũi ngài trong kinh nguyện, đầy lòng quí mến và biết ơn (vỗ tay).
Tôi thân ái chào các anh em Hồng y và Giám Mục, các linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ và tất cả anh chị em giáo dân. Tôi cám ơn các đại diện của các Giáo Hội và Cộng đoàn Giáo Hội khác hiện diện nơi đây cũng như các đại diện của cộng đồng Do thái và các cộng đồng tôn giáo khác. Tôi gửi lời chào nồng nhiệt đến các vị Quốc trưởng và Thủ tướng chính phủ, các phái đoàn chính thức của bao nhiêu nước trên thế giới và ngoại giao đoàn.
Chúng ta đã nghe trong Tin Mừng rằng ”Giuse làm như Thiên Thần Chúa đã truyền và đón nhận hiền thê của mình” (Mt 1,24). Trong những lời này có gồm tóm sứ mạng mà Thiên Chúa ủy thác cho Giuse, sứ mạng làm người canh giữ. Nhưng canh giữ ai? Thưa là canh giữ Mẹ Maria và Chúa Giêsu, nhưng đó là một sự canh giữ được nới rộng cho toàn thể Giáo Hội, như Chân phước Gioan Phaolô 2 đã nhấn mạnh: ”Thánh Giuse, vì yêu thương chăm sóc Mẹ Maria và vui mừng tận tụy giáo dục Đức Giêsu Kitô, như thế Ngài cũng giữ gìn và bảo vệ nhiệm thể của Ngài là Giáo Hội, mà Đức Thánh Trinh Nữ là hình ảnh và gương mẫu” (Tông Huấn Redemptoris Custos, 1).
Thánh Giuse thi hành công việc canh giữ ấy như thế nào? Thưa một cách kín đáo, khiêm tốn, trong thinh lặng, nhưng với một sự hiện diện liên lỷ và trung tín hoàn toàn, cả khi Ngài không hiểu. Từ khi kết hôn với Mẹ Maria cho đến biến cố Chúa Giêsu 12 tuổi tại Đền thờ Jerusalem, Ngài ân cần yêu thương đồng hành trong mọi lúc. Ngài ở cạnh Maria Hiền thê của Ngài trong những lúc thanh thản cũng như trong những lúc khó khăn của cuộc sống, trong hành trình đi Bêlem để kiểm tra dân số, và trong những giờ hồi hộp và vui mừng của cuộc sinh hạ; trong lúc bi thảm tị nạn sang Ai Cập và trong cuộc vất vả tìm con tại Đền Thờ; và rồi trong cuộc sống hằng ngày tại nhà Nazareth, trong phòng làm việc nơi thánh nhân đã dạy nghề cho Chúa Giêsu.
Thánh Giuse đã sống ơn gọi gìn giữ Mẹ Maria, Chúa Giêsu và Giáo Hội như thế nào? Thưa trong sự luôn quan tâm để ý tới Thiên Chúa, cởi mở đối với những dấu hiệu của Chúa, sẵn sàng đối với dự phóng của Chúa, không phải tới điều riêng của mình, nhưng điều mà Thiên Chúa yêu cầu Vua Davít, như chúng ta đã nghe trong bài đọc thứ I; Thiên Chúa không mong ước một nhà do con người làm ra, nhưng Chúa muốn lòng trung thành với Lời Ngài, với kế hoạch của Ngài; và chính Thiên Chúa xây dựng căn nhà, nhưng bằng những viên đá sống động nhờ Thánh Thần của Ngài. Và thánh Giuse là người ”canh giữ”, vì Ngài biết lắng nghe Thiên Chúa, để cho thánh ý Chúa hướng dẫn, và chính vì thế thánh nhân càng nhạy cảm hơn đối với những người được ủy thác cho Ngài, biết đọc các biến cố một cách thực tế, chú ý đến những gì ở chung quanh và biết đưa ra những quyết định khôn ngoan hơn. Các bạn thân mến, chúng ta thấy thánh Giuse đáp ứng ơn gọi của Chúa như thế nào, với thái độ sẵn sàng, mau mắn, nhưng chúng ta cũng thấy đâu là trung tâm điểm ơn gọi Kitô, là chính Chúa Kitô! Chúng ta hãy gìn giữ Chúa Kitô trong đời sống chúng ta, để giữ gìn những người khác, để giữ gìn thiên nhiên, công trình sáng tạo.
”Nhưng ơn gọi của người canh giữ không phải chỉ liên hệ đến các tín hữu Kitô chúng ta mà thôi, nhưng còn có một chiều kích đi trước và nhân bản, liên hệ tới tất cả mọi người. Đó là việc bảo tồn toàn thể thiên nhiên, vẻ đẹp của công trình tạo dựng, như được trình bày cho chúng ta trong Sách Sáng Thế và như thánh Phanxicô Assisi đã chỉ cho chúng ta; đó là tôn trọng đối với mỗi thụ tạo của Thiên Chúa và môi trường trong đó chúng ta sinh sống. Đó là giữ gìn con người, chăm sóc tất cả mọi người, mỗi người, với tình yêu thương, đặc biệt là các trẻ em, người già, những người yếu đuối hơn và thường ở ngoài lề tâm hồn chúng ta. Đó là chăm sóc lẫn nhau trong gia đình: vợ chồng gìn giữ nhau, và trong tư cách là cha mẹ, họ chăm sóc con cái, rồi với thời gian cả con cái cũng trở thành những người gìn giữ cha mẹ. Đó là sống những tình bạn chân thành, là một sự gìn giữ nhau trong sự tín nhiệm, trong sự tôn trọng và trong thiện ích. Xét cho cùng, tất cả đều được ủy thác cho sự gìn giữ của con người, và đó là một trách nhiệm liên hệ tới tất cả chúng ta. Anh chị em hãy trở thành những người gìn giữ hồng ân của Thiên Chúa.
”Và khi con người thiếu sót trách nhiệm của mình, khi chúng ta không chăm sóc công trình tạo dựng và các anh chị em chúng ta, thì khi ấy xảy ra sự tàn phá và con tim trở nên chai đá. Rất tiếc là trong mỗi thời đại, đều có những ”vua Hêrôđê” đề ra những mưu đồ chết chóc, hủy hoại và bóp méo khuôn mặt của con người nam nữ.
Tôi muốn xin tất cả những người đang nắm giữ các vai trò trách nhiệm trong lãnh vực kinh tế, chính trị hoặc xã hội, tất cả những người thiện chí: ”Chúng ta hãy trở thành những người gìn giữ công trình tạo dựng, gìn giữ kế hoạch của Thiên Chúa được ghi khắc trong thiên nhiên, giữ gìn tha nhân, môi sinh; chúng ta đừng để cho những dấu hiệu tàn phá và chết chóc tháp tùng hành trình của thế giới chúng ta! Nhưng để ”gìn giữ” thì chúng ta cũng phải chăm sóc chính mình! Chúng ta hãy nhớ rằng oán ghét, ghen tương, kiêu ngạo làm cho cuộc sống bị nhơ bẩn! Gìn giữ có nghĩa là canh chừng những tâm tình chúng ta, con tim chúng ta, vì chính từ đó nảy sinh những ý hướng tốt hay xấu: những ý hướng xây dựng và những ý hướng hủy hoại! Chúng ta không được sợ sự tốt lành, và cũng đừng sợ sự dịu dàng!
”Và ở đây, tôi muốn ghi nhận thêm điều này: chăm sóc, giữ gìn, đòi phải có sự tốt lành, đòi phải được sống với sự dịu dàng. Trong các sách Phúc Âm, thánh Giuse xuất hiện như một người mạnh mẽ, can đảm, chuyên cần làm việc, nhưng trong tâm hồn Ngài trổi vượt một sự rất dịu dàng, đây không phải là đức tính của kẻ yếu, trái lại, nó chứng tỏ một tâm hồn mạnh mẽ và có khả năng chú ý, cảm thương, thực sự cởi mở đối với tha nhân, yêu thương. Chúng ta không được sợ sự tốt lành và dịu dàng!
”Ngày nay, cùng với lễ Thánh Giuse, chúng ta cử hành khởi đầu sứ vụ của tân GM Roma, người Kế Vị Thánh Phêrô, cũng bao gồm một quyền bính. Dĩ nhiên Chúa Giêsu Kitô đã ban quyền cho thánh Phêrô, nhưng đó là quyền bính gì thế? Sau ba câu Chúa Giêsu hỏi thánh Phêrô về tình yêu, có 3 lời mời gọi: hãy chăn các chiên con, hãy chăn giắt các chiên mẹ của Thầy. Chúng ta không bao giờ được quên rằng quyền bính đích thực là phục vụ và cả Giáo Hoàng, để thi hành quyền bính này, ngày càng phải tiến sâu hơn vào việc phục vụ ấy, việc phục vụ có tột đỉnh sáng ngời trên Thập Giá; Giáo Hoàng phải nhìn đến sự phục vụ khiêm tốn, cụ thể, đầy đức tin, của thánh Giuse và như thánh nhân, mở rộng vòng tay để giữ gìn toàn thể Dân Chúa và yêu thương, dịu dàng, đón nhận toàn thể nhân loại, nhất là những người nghèo nhất, yếu đuối nhất, những người nhỏ bé nhất, những người mà thánh Mathêu mô tả trong cuộc phán xét chung về đức bác ái: những người đói, khát, ngoại kiều, người trần trụi, bệnh nhân, tù nhân (Xc Mt 25,31-46). Chỉ những ai phục vụ với lòng yêu mến mới biết giữ gìn!
Trong bài đọc thứ hai, Thánh Phaolô nói về Abraham, người ”đã tin, kiêm vững trong niềm hy vọng bất chấp mọi nghịch cảnh” (Rm 4.18). Kiên vững trong niềm hy vọng, bất chấp mọi nghịch cảnh! Cả ngày nay, đứng trước bao nhiêu chân trời đen xám, chúng ta cần thấy ánh sáng hy vọng và chính chúng ta trao ban hy vọng. Giữ gìn công trình tạo dựng, mỗi người nam nữ, với cái nhìn dịu dàng và yêu thương, đó chính là mở rộng chân trời hy vọng, là mở ra một luồng sáng giữa bao nhiêu mây mù, là mang sức nóng hy vọng! Và đối với tín hữu, đối với các tín hữu Kitô chúng ta, như Abraham, như thánh Giuse, niềm hy vọng mà chúng ta mang có chân trời của Thiên Chúa được mở rộng cho chúng ta trong Chúa Kitô, được xây dựng trên đá tảng là Thiên Chúa.
”Giữ gìn Chúa Giêsu với Mẹ Maria, giữ gìn toàn thể công trình sáng tạo, giữ gìn mỗi người, đặc biệt là người nghèo nhất, giữ gìn chính chúng ta; đó là một công tác phục vụ mà Giám Mục Roma được kêu gọi chu toàn, nhưng đó cũng là ơn gọi mà tất cả chúng ta được mời gọi làm cho ngôi sao hy vọng được chiếu sáng rạng ngời: Chúng ta hãy gìn giữ với lòng yêu mến điều Thiên Chúa đã ban cho chúng ta!
”Tôi cầu khẩn sự chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria, của Thánh Giuse, của thánh Phêrô và Phaolô, thánh Phanxicô, xin Chúa Thánh Linh tháp tùng sứ vụ của tôi, và tôi nói với tất cả anh chị em rằng: xin cầu nguyện cho tôi! Amen
+ ĐGH PHANXICÔ
G. Trần Đức Anh OP dịch
VRNs trích đăng từ Radio Vatican – tiếng Việt

19/3/13

Tường thuật thánh lễ đăng quang ĐGH Phanxicô

Tường thuật thánh lễ đăng quang ĐGH Phanxicô


VRNs (19.03.2013)- Vatican TV – Lúc 5 giờ 5 phút
“Đây Chiên Thiên Chúa , đây Đấng xóa tội trần gian, phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa” 
4 giờ 50 phút
“TẤT CẢ CÁC CON HÃY NHẬN LẤY MÀ UỐNG;
VÌ NÀY LÀ CHÉN MÁU THẦY,
MÁU GIAO ƯỚC MỚI VÀ VĨNH CỬU,
SẼ ĐỔ RA CHO CÁC CON
VÀ NHIỀU NGƯỜI ĐƯỢC THA TỘI.
CÁC CON HÃY LÀM VIỆC NÀY MÀ NHỚ ĐẾN THẦY.”

Với danh hiệu Phanxicô, Đức Giáo Hoàng đã gây bất ngờ cho nhiều người. Trong buổi gặp gỡ với giới truyền thông trước đó. Đức Thánh Cha đã giải thích về lựa chọn của Ngài  “ Khi số phiếu lên đến 2 phần 3, thì cộng đoàn vỗ tay như thói quen vì đã bầu được Giáo Hoàng. ĐHY Hummes ôm lấy tôi và nói: ”Bạn đừng quên người nghèo nhé!”. Và lời ấy đã đi vào tâm trí tôi: người nghèo, người nghèo!. Rồi ngay lúc ấy cùng với người nghèo tôi đã nghĩ đến thánh Phanxicô Assisi”.
“Rồi tôi cũng nghĩ đến các cuộc chiến tranh, trong khi cuộc khui phiếu tiếp tục, cho đến tất cả các phiếu. Thánh Phanxicô là người hòa bình. Và thế là tên Phanxicô đi vào tâm hồn tôi: Phanxicô Assisi. Người khó nghèo, người hòa bình, người yêu mến và bảo tồn thiên nhiên, trong lúc này chúng ta đang có một quan hệ không tốt lắm đối với Đấng Tạo Hóa. Đó là vị mang lại cho chúng ta tinh thần hòa bình, con người thanh bần. A, tôi mong ước một Giáo Hội thanh bần và cho người nghèo dường nào! Sau đó một vài hồng y đã nói đùa với tôi: ”Lẽ ra bạn phải được gọi là Adriano, vì ĐGH Adriano VI là một nhà cải cách, cần phải cải tổ…”. Một vị khác nói: ”Không, không, tên của bạn phải là Clemente”. Nhưng tại sao? ”Clemente XV: như thế bạn trả đũa được ĐGH Clemente XIV là người đã giải tán dòng Tên!”. Đó là những câu nói đùa thôi…”
 
Lúc 4 giờ 40 phút thánh lễ bước sang phần Phụng vụ Thánh Thể

Lúc 4 giờ 28 phút Đức Thánh Cha kết thúc bài giảng và cộng đoàn cùng Tuyên xưng Đức Tin. ĐHY GB Phạm Minh Mẫn của Việt Nam cũng đang tham dự thánh lễ đại diện cho hàng triệu Tín hữu Công Giáo Việt Nam đang hướng về Vatican
Trong buổi đọc kinh Truyển tin Chúa Nhật vừa qua. Nhiều người đã có nhận xét.
“Những lời lẽ đầy tự do và chứa chan hy vọng là những gì chúng tôi muốn.Đó là những gì chúng tôi cần. “.”Ngài là một con người tốt bụng, rất giản dị, tử tế và tao nhã. Tôi nghĩ ngài sẽ làm việc rất tốt. “.”Ngài đã làm tất cả chúng tôi ngạc nhiên, bởi sự giản dị và gần gũi đối với người nghèo. Vạn tuế Đức Thánh Cha. “
Lúc 4 giờ 17 phút. Đức Giáo Hoàng đang thuyết giảng trước đông đảo khách tham dự trong ngày lễ trọng kính Thánh Giuse

Bài đọc Tin Mừng trích sách Mátthêu 1,16.18-21.24a
16 Ông Gia-cóp sinh ông Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-su cũng gọi là Đấng Ki-tô.18 Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô : bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. 19 Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. 20 Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng : “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. 21 Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” 24a  Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy.

Thánh lễ đăng quang của Đức Thánh Cha Phanxicô được cử hành vào lễ trọng kính Thánh Giuse bạn trăm năm Đức Trinh Nữ Maria. Vì thế các bài đọc được rút ra từ phần riêng kính các Thánh trong ngày lễ này.
Romereports cho biết Vatican hy vọng ít nhất 200.000 tín hữu tham dự lễ này.
Theo wikipedia Ban đầu, dây Pallium Giáo hoàng không khác dây Pallium của Giám mục, với ý nghĩa Giáo hoàng cũng là một Giám mục của Giáo phận Rome. Tuy nhiên, từ thời của giáo hoàng Benedict XVI, dây Pallium Giáo hoàng trở nên khác biệt hơn so với các Giáo hoàng tiền nhiệm. Vẫn mang hình dáng truyền thống nhưng dây Pallium Giáo hoàng mới dài hơn dây Pallium dành cho các Tổng giám mục, dệt hoàn toàn bằng len trắng dài 2.6m và rộng 11 cm làm bằng lông cừu. Trên sợi dây len có gắn hình 5 dấu thập giá biểu tượng của 5 dấu đinh của Đức Kitô với 3 chiếc đinh cài tượng trưng cho 3 dấu đinh thập giá.


Lúc 3 giờ 43 phút.Tại quảng trường, Đức Hồng Y Jean Louis Tauran, trưởng hồng y đẵng phó tế đặt dây pallium trên vai ĐGH. Kế đó Đức Hồng Y Godfried Danneels, trưởng hồng y đẵng linh mục dâng một lời cầu nguyện. Và Đức Hồng Y Angelo Sodano, niên trưởng hồng y đoàn trao cho ĐGH chiếc nhẫn ngư phủ mới được làm riêng cho triều đại Đức Phanxicô.
Chiếc nhẫn ngư phủ bằng bạc mạ vàng là một trong những biểu tượng mà tân Giáo hoàng sẽ nhận trong thánh lễ nhậm chức, được làm theo mẫu mà nhà điêu khắc Enrico Manfrini (đã mất năm 2004) đã thiết kế cho cố Giáo hoàng Phaolô VI.
“Chiếc nhẫn được thiết kế bởi Manfridi, người đã sáng tạo nhiều công trình tôn giáo và dâng nó cho giáo hoàng,” người phát ngôn của Vatican Federico Lombardi cho hay.
Manfridi được mệnh danh là “nhà điêu khắc của giáo hoàng,” đã từng thiết kế nhiều đồ vật cho các đời Giáo hoàng, từ Đức Piô XII, Đức Phaolô cho tới Đức Gioan Phaolo II. Còn người thiết kế nhẫn cho Giáo hoàng Benedict XVI thì là một thợ kim hoàn khác có tên Claudio Franchi.
Lúc 3 giờ 32 phút. Đoàn đồng tế đang tiến ra Quảng trường thánh Phêrô. Sau khi Đức Giáo Hoàng dành thời gian cầu nguyện cùng xông hương trước mộ thánh Phêrô.


Lúc 3 giờ 25 phút. Đoàn rước từ vương cung thánh đường đang chuẩn bị tiến ra Quảng trường. Vào năm 2005, Thánh lễ đăng quang của ĐGH Biển Đức 16 đã được rút ngắn xuống từ ba tiếng theo thường lệ xuống còn hai tiếng. Sáu nguyên thủ quốc gia đã đăng ký tham dự thánh lễ này, trong đó có Phó Tổng thống Mỹ, Joe Biden, cùng các nhà lãnh đạo khác cũng như người đứng đầu của nhiều tín ngưỡng .Sẽ có 130 đoàn đại biểu đến từ các quốc gia.
Một số các nhà lãnh đạo tín ngưỡng cũng sẽ có mặt ở đó, nổi bật nhất, Đức Thượng phụ Đại kết Bartholomew I, cũng như các đại biểu đến từ 32 giáo hội Kitô giáo khác và 16 nhóm người Do Thái. Hồi giáo, Phật giáo, đạo Sikh và đạo Giai-na cũng có đại diện tham dự.
 Lúc 3 giờ. Đức Thánh Cha Phanxicô I đã tiến vào  Quảng truờng thánh Phêrô trên xe chuyên dụng. Đoàn đại biểu đến từ các nước đã trương hiệu kỳ để đón chào Ngài.
Lúc 2 giờ 37 phút (giờ Việt Nam) Đông đảo khách hành hương và các đoàn đại biểu tham dự thánh lễ đăng quang của Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã hiện diện tại Quảng trường thánh Phêrô. Trước đó Giám đốc phòng báo chí Vatican nói rằng có hơn 200 đoàn đại biểu tôn giáo và chính trị xác nhận là họ sẽ đến tham dự thánh lễ này.
Quảng trường thánh Phêrô với đông đảo khách hành hương
Hàng trăm ngàn người đang vào bên trong Quảng trường để tham dự Thánh Lễ nhậm chức chính của Đức Đức Thánh cha Francis. thánh lễ bắt đầu từ 9:00 sáng theo giờ Rôma.
Tất cả các Hồng Y tại Rome được dự kiến sẽ có mặt trong Thánh Lễ, và Tổng Giám Mục và Giám Mục sẽ được tham dự đại diện cho Giáo Hội địa phương từ khắp nơi trên thế giới 1, Đức Thượng phụ Đại kết Constantinople, Thượng phụ Bartholomew I, người được coi là “đầu tiên của “Hiệp thông trong Giáo Hội Chính Thống Đông, sẽ được tham dự tại nhậm chức Thánh Lễ Đức Tổng Giám mục York, Tiến sĩ John Sentamu sẽ đại diện cho Tổng giám mục Canterbury và Cộng đồng Anh giáo tại Rome thánh lễ sẽ có thêm sự tham dự của Tổng thống Cristina Kirchner; Dilma Roussef, Chủ tịch Brazil;. và Mexico Chủ tịch Enrique Peña Nieto Phó Tổng thống Joe Biden,thống đốc Canada, David Johnston. các nhà lãnh đạo châu Âu, tướng Đức Angela Merkel, Thủ tướng Pháp Jean-Marc Ayrault và ,Thủ trưởng Tây Ban Nha Mariano Rajoy. Chủ tịch Hội đồng châu Âu, Hermann Van Rompuy và Chủ tịch Ủy ban châu Âu, José Manuel Barroso.

Dây Pallium


Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long3/19/2013

Dây Pallium

Ngày lễ khai mạc sứ vụ mục tử Phero, còn gọi là lễ đăng quang, Đức tân giáo hoàng nhận choàng lên vai dây Pallium, và chiếc nhẫn ngư phủ được trao xỏ vào ngón tay.

Hai biểu tượng này diễn tả chức vị cùng quyền hành của Đức giáo hoàng Công giáo Roma.

Nhưng đâu là ý nghĩa dây Pallium?

1. Nguồn gốc lịch sử dây Pallium

Dây Pallium là biểu hiểu chức vị của Đức giáo hoàng Công giáo. Dây Pallium cũng được trao ban cho các vị Tổng giám mục đứng đầu các Tổng giáo phận Công giáo trên thế giới.

Dây Pallium cũng là chiếc dây Các Phép (Stola), mà linh mục mang đeo khi cử hành các Bí Tích. Dây Pallium ngày nay có hình thể như chữ Y, phía trên quấn thành hình tròn choàng qua hai bên vai, và phía dưới dài xuống trước ngực, chiều ngang rộng từ 5 đến 15 centimét. Trên dây Pallium có thêu các hình Thánh gía mầu đen. Riêng dây Pallium của Đức giáo hoàng thêu hình Thánh gía mầu đỏ.

Tới thế kỷ thứ 3. dây Pallium là một phần áo mão của các Nghị sĩ quan thượng viện Roma. Sau khi đạo Công giáo được chính thức công nhận là tôn giáo trong toàn thể đế quốc Roma năm 380, dây Pallium được trao cho các Giáo sỹ chức sắc cao cấp.

Bên Đông Phương dây Pallium thuộc về phẩm phục của các Đức Giám mục.

Từ thế kỷ thứ 7. Đức giáo hoàng bên Phương tây trao dây Pallium cho các vị Tổng giám mục.

Dây Pallium được Đức giáo hoàng cũng như các Vị Tổng giám mục mang đeo trên vai, không chỉ mang ý nghĩa là biểu tượng của chức vị cùng quyền bính. Nhưng còn hơn thế nữa. Dây Pallium có một ý nghĩa thâm sâu về đạo đức thần học, nhất là trách nhiệm là mục tử của người được mang đeo dây này.

2. Ý nghĩa đạo đức thần học

„ Biểu tượng đầu tiên là dây Pallium, được dệt bằng len thuần túy, sẽ được đặt lên đôi vai tôi. Dấu chỉ xa xưa này các Giám mục Rôma đã quàng từ thế kỷ IV có thể xem là hình ảnh gánh nặng của Đức Kitô mà vị Giám mục của thành này, Tôi Tớ của các Tôi Tớ Chúa, mang lên vai ngài. Ách của Thiên Chúa là thánh ý Chúa mà chúng ta nhận lấy. Và thánh ý này không đè nặng lên chúng ta, đè bẹp chúng ta và lấy đi tự do của chúng ta. Niềm vui của dân Do Thái, đặc ân lớn nhất của dân tộc này là biết điều gì Chúa muốn, là biết nơi đâu có thể tìm ra con đường dẫn đến sự sống. Đó cũng là niềm vui của chúng ta: Thánh ý Chúa không tha hóa ta, nhưng thanh tẩy chúng ta - cho dù điều này có thể là đau thương - và do đó dẫn ta quay về với chính mình. Như thế, chúng ta không phụng sự một mình Ngài nhưng còn phụng sự ơn cứu độ của toàn thế giới, của toàn bộ lịch sử.

Biểu tượng của dây Pallium còn cụ thể hơn nữa: len chiên nhằm tiêu biểu cho những con chiên lạc lối, yếu đau mà vị mục tử vác lên vai ngài và đem đến những nguồn nước sự sống. Đối với các Nghị Phụ của Giáo Hội, dụ ngôn con chiên đi lạc mà vị mục tử tìm kiếm trong sa mạc, là một hình ảnh của mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo Hội. Nhân loại - mỗi một người trong chúng ta - là con chiên lạc trong sa mạc không còn biết lối về. Con Thiên Chúa sẽ không thể để điều này xảy ra; Ngài không thể bỏ mặc con người trong điều kiện thê thảm như vậy. Ngài nhảy trên đôi chân mình và từ bỏ vinh quang thiên quốc để tìm kiếm con chiên này và theo nó đến tận cùng của Thánh Giá. Ngài mang nó lên vai và gách vác nhân loại; Ngài gách vác tất cả chúng ta - Ngài là mục tử nhân lành đã thí mạng vì đàn chiên. Điều dây Pallium này chỉ ra đầu tiên và trên hết là tất cả chúng ta được gánh vác bởi Đức Kitô. Nhưng đồng thời nó cũng mời gọi chúng ta gánh vác lẫn nhau.

Do đó, dây Pallium trở thành một biểu tượng cho sứ vụ mục tử mà Bài Đọc thứ Hai và Bài Phúc Âm đề cập đến. Người mục tử phải được linh hứng bởi lòng nhiệt thành thánh thiện của Đức Kitô: với Ngài không thể có chuyện thờ ơ trước cảnh quá nhiều người đang sống trong sa mạc. Và có quá nhiều loại sa mạc. Có những sa mạc của nghèo đói, sa mạc của đói khát, sa mạc của bỏ rơi, của cô đơn, của tình yêu bị huỷ diệt. Có những sa mạc của đêm đen Thiên Chúa, sự trống rỗng của các linh hồn không còn nhận thức được phẩm giá và mục đích đời người. Những sa mạc bên ngoài thế giới đang lớn dần vì những sa mạc bên trong đã trở thành quá mênh mông.

Do đó, những kho tàng dưới thế không còn để kiến tạo vườn của Thiên Chúa cho tất cả mọi người sống chung nhưng chúng được dùng để phục vụ những quyền lực bóc lột và hủy diệt. Giáo Hội như một tổng thể và tất cả các Mục Tử, giống như Đức Kitô, cần phải tiến bước để dẫn dắt dân ra khỏi sa mạc, tiến về cung điện cuộc sống, tiến đến tình bạn với Con Thiên Chúa, tiến đến Đấng đã ban cho chúng ta sự sống, và sự sống dồi dào.

Biểu tượng của con chiên cũng có một ý nghĩa sâu xa hơn. Trong vùng Cận Đông Cổ, các vua chúa có thói quen xem mình là các mục tử của dân họ. Đây là một hình ảnh tiêu biểu cho quyền lực của họ, một hình ảnh coi thường người khác: với họ đối tượng của mình chỉ như bầy cừu mà mục tử có thể khử bỏ tùy thích. Khi mục tử của toàn thể nhân loại, Thiên Chúa hằng sống, chính Ngài trở nên con chiên, Ngài đứng bên những con chiên, đứng bên những ai bị áp bức và giết hại. Đây là cách thức Ngài tự mạc khải mình là vị mục tử chân chính: Đức Giêsu nói về chính Ngài: "Ta là Mục Tử Tốt Lành … Ta thí mạng sống mình vì đàn chiên" (Ga 10:14). Không phải là quyền lực nhưng chính là tình yêu cứu chuộc chúng ta! Đây là dấu chỉ của Thiên Chúa: chính Ngài là tình yêu.

Biết bao lần chúng ta mong Thiên Chúa tỏ mình ra mạnh mẽ hơn, muốn Ngài ra oai quyết liệt, đánh gục sự dữ và kiến tạo một thế giới tốt đẹp hơn. Tất cả các ý thức hệ về quyền lực biện minh cho chúng bằng đúng đường lối này, chúng biện minh cho sự hủy hoại bất cứ thứ gì chắn lối trên con đường của tiến bộ và giải phóng nhân loại. Chúng ta đau khổ vì sự nhẫn nại của Thiên Chúa. Nhưng chúng ta lại cần đến sự nhẫn nại của Ngài. Thiên Chúa, Đấng đã trở nên chiên con bảo với chúng ta rằng thế giới được cứu rỗi bởi Đấng Chịu Đóng Đinh, chứ không phải bởi những kẻ đóng đinh Ngài. Thế giới được cứu chuộc bởi sự kiên nhẫn của Thiên Chúa. Nó bị phá hủy bởi sự thiếu kiên nhẫn của con người.

Một trong những tính cách căn bản của một mục tử phải là yêu thương dân được trao phó cho mình như yêu mến Đức Kitô Đấng ngài phụng sự. Chúa Kitô nói với Thánh Phêrô: "Hãy chăm sóc các chiên ta", và giờ đây, trong giây phút này, Ngài cũng nói với tôi điều đó. Chăm sóc nghĩa là yêu thương, và yêu thương cũng có nghĩa là sẵn sàng chịu đau khổ. Yêu thương nghĩa là trao ban cho đàn chiên những gì là thực sự lương hảo, dưỡng chất chân lý Thiên Chúa, lời Chúa, dưỡng chất sự hiện diện của Ngài, được ban cho chúng ta qua các Bí Tích Hồng Phúc. Các bạn thân mến- trong giờ phút này, tôi chỉ có thể nói: hãy cầu nguyện cho tôi, để tôi có thể học biết yêu Chúa càng ngày càng nhiều hơn. Hãy cầu nguyện cho tôi để tôi có thể học biết yêu đàn chiên của Ngài càng ngày càng nhiều hơn - nói cách khác, các bạn, Giáo Hội thánh thiện, mỗi người trong các bạn và tất cả các bạn hợp lại. Xin cầu cho tôi, để tôi đừng trốn chạy vì sợ sói dữ. Hãy cầu nguyện cho nhau xin Thiên Chúa gánh vác chúng ta và chúng ta sẽ học biết cách gánh vác lẫn nhau.“ ( Đức Giáo hoàng Benedicto XVI., bài giảng lễ khai mạc sứ vụ mục tử Phero, Vatican 24.04.2005

3. Chiếc dây Pallium được làm phép thánh hiến

Dây Pallium được làm bện bằng lông của con chiên, và vào ngày lễ kính Thánh nữ Agnes, 21.01. hằng năm do Đức giáo hoàng làm phép thánh hiến.

Lông các con chiên được thu thập đưa về nhà Dòng Santa Cecilia kín bên Ý Trastevere bện dệt thành dây Pallium.

Chiều trước ngày lễ kính hai Thánh Tông đồ Phero và Phaolo, những chiếc dây Pallien được đưa đến bàn thờ trước mộ Thánh Phero nằm bên dưới bàn thờ chính của đền thờ Thánh Phero bên Vatican. Những dây Pallien mới này được giữ cẩn thận trong hộp ngay sát cạnh di tích Xương Thánh của Thánh Phero. Như thế dây Pallium được đụng chạm với di tích Xương Thánh của vị Tông Đồ cả của Chúa Giesu, Thánh Phero.

Dây Pallium được Đức giáo hoàng trao ban cho các Vị Tổng giám mục mới được bổ nhiệm đứng đầu các Tổng giáo phận vào ngày lễ kính hai Thánh Tông đồ Phero và Phaolô, 29.06. hằng năm ở đền thờ Thánh Phero bên Vatican, trong buổi lễ đại trào long trọng.

Việc trao dây Pallium từ tay Đức giáo hoàng cho các vị Tổng giám mục mới được bổ nhiệm gắn liền với lời tuyên thệ trung thành với Đức Gíao hoàng Roma đương nhiệm và những vị kế nhiệm ngài.

Các vị Tổng giám mục chỉ được mang đeo dây Pallium khi dâng thánh lễ trong Tổng giáo phận của ngài, và trong những Giáo phận thuộc về vùng tổng giáo phận của mình.

Chỉ một mình Đức Gíao Hoàng Roma được mang dây Pallium khắp nơi, chỗ nào ngài tới dâng thánh lễ.

Dây Pallium chỉ trao ban cá nhân cho vị Tổng giám mục. Nên vị đó không được trao truyền tiếp cho ai. Khi vị đó qua đời, dây Pallium cũng được quàng vào chôn theo vị đó.

Một vị Tổng giám mục đã được trao dây Pallium cho một tổng giáo phận, và rồi một thời gian sau lại được bổ nhiệm sang làm việc ở một Tổng giáo phận khác, vị đó lại cần dây Pallium mới.

Hôm 19. 03.2013 Đức tân giáo hoàng Phanxico đã được Đức Hồng Y đẳng Phó Tế Tauran, trao choàng dây Pallium có thêu 6 hình cây Thánh gía mầu đỏ trong lễ khai mạc sứ vụ mục tử Phero.

Tuy không trực tiếp như vị tiền nhiệm Đức nguyên giáo hoàng BenedictoXVI. trong lễ khai mạc sứ vụ mục tử đã có suy tư nói về ý nghĩa dây Pallium. Nhưng Đức tân giáo hoàng Phanxico trong bài giảng, đã nói lên khía cạnh gánh nặng trách nhiệm phục vụ canh giữ những gì Thiên Chúa đã tạo dựng ban cho con người:

”Nhưng ơn gọi của người canh giữ không phải chỉ liên hệ đến các tín hữu Kitô chúng ta mà thôi, nhưng còn có một chiều kích đi trước và nhân bản, liên hệ tới tất cả mọi người.

Đó là việc bảo tồn toàn thể thiên nhiên, vẻ đẹp của công trình tạo dựng, như được trình bày cho chúng ta trong Sách Sáng Thế và như thánh Phanxicô Assisi đã chỉ cho chúng ta; đó là tôn trọng đối với mỗi thụ tạo của Thiên Chúa và môi trường trong đó chúng ta sinh sống.

Đó là giữ gìn con người, chăm sóc tất cả mọi người, mỗi người, với tình yêu thương, đặc biệt là các trẻ em, người già, những người yếu đuối hơn và thường ở ngoài lề tâm hồn chúng ta.

Đó là chăm sóc lẫn nhau trong gia đình: vợ chồng gìn giữ nhau, và trong tư cách là cha mẹ, họ chăm sóc con cái, rồi với thời gian cả con cái cũng trở thành những người gìn giữ cha mẹ.

Đó là sống những tình bạn chân thành, là một sự gìn giữ nhau trong sự tín nhiệm, trong sự tôn trọng và trong thiện ích. Xét cho cùng, tất cả đều được ủy thác cho sự gìn giữ của con người, và đó là một trách nhiệm liên hệ tới tất cả chúng ta. Anh chị em hãy trở thành những người gìn giữ hồng ân của Thiên Chúa.

”Và khi con người thiếu sót trách nhiệm của mình, khi chúng ta không chăm sóc công trình tạo dựng và các anh chị em chúng ta, thì khi ấy xảy ra sự tàn phá và con tim trở nên chai đá. Rất tiếc là trong mỗi thời đại, đều có những ”vua Hêrôđê” đề ra những mưu đồ chết chóc, hủy hoại và bóp méo khuôn mặt của con người nam nữ. (Đức giáo hoàng Phanxico, Bài giảng lễ khai mạc sứ vụ mục tử, 19.03.2013)

Đức tân gíao hoàng Phanxico từ khi được bầu chọn là giáo hoàng đã và đang chiếm giữ được cảm tình lòng qúi mến của mọi người. Người ta nghe, nhìn thấy cùng cảm nhận n được lòng khiêm nhượng, sự chân thành đơn giản trong cung cách cũng như lời nói của ngài phát chiếu tỏa ra.

Nhiều người đã nói lên tâm tư tin là làn gió mới Đức Chúa Thánh Thần đang thổi vào trong Giáo Hội.

*********************

Làn gió mới Đức Chúa Thánh Thần thổi vào đời sống Giáo Hội là làn gió thiêng liêng đạo đức, làn gió mang đến sự tươi mát đem đến sức sống sự phấn khởi cho con người, mà các vị Giáo hoàng cũ cũng như mới đều nhấn mạnh đến:

1. Đức nguyên gíao hoàng Benedicto XVI. trong buổi triểu yết cuối cùng ngày 27.02.2013 đã cảnh gíac nguy cơ coi biến Gíao Hội tựa như một „Tổ hợp cho mục tiêu tôn giáo hay mục tiêu nhân bản lo việc phúc lợi“

Đức tân gíao hoàng Phanxico trong bài giảng đầu tiên ở nhà nguyện Sixtine với các Vị Hồng Y đã nói lên tâm tư quyết liệt chống lại hình ảnh một Giáo Hội như „Chúng ta có thể tiến bước theo ý muốn của mình, chúng ta có thể xây dựng rất nhiều điều, nhưng nếu chúng ta không tuyên xưng Đức Giêsu Kitô, thì có ích gì? Chúng ta sẽ trở thành một tổ chức phi chính phủ (NGO) đáng thương, chứ không phải là Giáo Hội, không phải là Hiền Thê của Chúa“ ( 14.03.2013.)

2. Đức nguyên giáo hoàng Benedicto XVI. khi từ gĩa lui về nghỉ hưu đã kêu gọi cùng xây dựng Giáo hội trong „ hòa hợp hài hòa“.

Đức tân gíao hoàng Phanxico cũng nhìn thấy mục tiêu của Giáo Hội „không phải đều giống như nhau, nhưng trong sự hòa hợp hài hòa.“

3. Đức nguyên Gíao hoàng Benedicto XVI. đã nói lên Giáo Hội cần phải đừng để bị tục hóa. Nhưng ưu tiên cho người nghèo.

Đức tân giáo hoàng Phanxico luon nhấn mạnh đến khía cạnh sống dấn thân cùng đồng hành với người nghèo.

Mỗi Vị Giáo Hoàng được Chúa gửi đến cho Giáo Hội vào mỗi thời điểm khác nhau, mà đời sống con thuyền Giáo Hội cần.

Như thế có thể nói được:

Đức cố Gíao hoàng Phaolo II., bây giờ là Á Thánh, đã giữ con thuyền đời sống Giáo Hội cho vững vàng trở lại trong cơn sóng gió bão táp.

Đức nguyên Giáo hoàng Benedicto XVI. đã bắt đầu làm nhiệm vụ thanh tẩy rửa con thuyền Giáo Hội bị dơ bẩn, và lèo lái cho đi trở lại đúng đường, đúng hướng.

Và Đức tân giáo hoàng Phanxico bây giờ làm nhiệm vụ cho dàn máy bên trong thuyền hoạt động nổ chạy, để con thuyền Giáo Hội có khả năng vượt đại dương.

Khí hậu mùa Xuân đang về với đất trời, với con người và với Gíao Hội Chúa ở trần gian. 
Nguồn: Vietcatholic

Việc chuẩn bị lễ đăng quang giáo hoàng đã hoàn tất

Việc chuẩn bị lễ đăng quang giáo hoàng đã hoàn tất

VRNs (19.03.2013) – Vatican – Sáng 18.03, việc chuẩn bị gần như hoàn tất để Thánh Lễ đăng quang của Đức Giáo Hoàng Francis. Giám đốc báo chí Vatican nói rằng có hơn 200 đoàn đại biểu tôn giáo và chính trị xác nhận là họ sẽ đến dự lễ này.
Dự kiến, thánh lễ sẽ bắt đầu lúc 9:30 sáng (gần 4 giờ tại VN), nhưng trước đó gần một giờ, Đức Giáo Hoàng đi một vòng Quảng trường Thánh Phêrô để chào mọi người trước khi tiến vào bên trong Vương Cung Thánh Đường.
Cha Federico Lombardi trả lời báo chí trong cuộc họp báo

Các phóng viên vừa tham dự cuộc họp báo, vừa làm tin và chuyển ngay về bản báo/đài của mình, khiến khán giả và đọc giả có cảm tưởng cuộc họp báo đang xảy ra trước mặt họ và cùng giờ với cuộc họp đang diễn ra ở Rome.
Cha Federico Lombardi nói: “Các thượng phụ và tổng giám mục chính tòa, các nhà lãnh đạo của tất cả các Giáo Hội Công Giáo Đông sẽ tham dự lễ đăng quang. Các ngài cùng với Đức Giáo Hoàng đi xuống lăng mộ của Thánh Phêrô để tỏ lòng tôn kính và cầu nguyện”.
Một đoàn rước chiếc nhẫn ngư phủ và dây stola, tượng trưng cho vai trò của Đức Giáo Hoàng là mục tử của Giáo hội.
Tại quảng trường, Đức Hồng Y Jean Louis Tauran, trưởng hồng y đẵng phó tế đặt dây stola trên vai ĐGH. Kế đó Đức Hồng Y Godfried Danneels, trưởng hồng y đẵng linh mục dâng một lời cầu nguyện. Và Đức Hồng Y Angelo Sodano, niên trưởng hồng y đoàn trao cho ĐGH chiếc nhẫn ngư phủ mới được làm riêng cho triều đại Đức Phanxicô.
Một số các nhà lãnh đạo tín ngưỡng cũng sẽ có mặt ở đó, nổi bật nhất, Đức Thượng phụ Đại kết Bartholomew I, cũng như các đại biểu đến từ 32 giáo hội Kitô giáo khác và 16 nhóm người Do Thái. Hồi giáo, Phật giáo, đạo Sikh và đạo Giai-na cũng có đại diện tham dự.
Romereports cho biết Vatican hy vọng ít nhất 200.000 tín hữu tham dự lễ này.
PV.VRNs
Lược tin Romereports

 

Mot Minh và cô đơn


Tác giả: 
Trầm Thiên Thu
Một mình và cô đơn

Một mình hoặc đơn độc chưa chắc là cô đơn hoặc cô độc, vì có thể người đó đang suy tư, đang sáng tác, đang cầu nguyện, đang ngắm nhìn cái gì đó,… Và như vậy thì dù một mình nhưng không hề cô đơn. Cô đơn có thể là chỉ một mình, nhưng người ta vẫn có thể cô đơn khi đứng giữa hàng trăm người. Anh ngữ cũng phân biệt “alone” (một mình) khác với “lonely” (cô đơn, cô độc), Pháp ngữ tương đương là “seul” và “solitaire”. Nhưng nếu vừa một mình vừa cô đơn thì thật trĩu nặng – trĩu nặng cả tâm hồn và thể lý!

Cô đơn là cho đi mà không có người nhận, là muốn nhận mà chẳng có ai cho. Cô đơn là mong ước, mà điều mình mong ước chẳng xảy đến. Cô đơn là chờ đợi, mà người mình chờ đợi không đến. Chỉ có ai đã cô đơn mới có thể hiểu thấu nỗi buồn, mới thấy cái hoang dại trong cuộc đời của kẻ cô đơn như ta. Cô đơn là cảm giác khó diễn tả, không thể gọi tên. Cô đơn là một dạng đau khổ!

Cô đơn cũng có thể là khi một mình lang thang trong mưa, một mình lê bước trên đường đời, khi một mình trong phòng, khi không ai hiểu mình, khi bị gièm pha, khi bị chỉ trích, khi bị đố kỵ, khi bị ghét bỏ,…

Nỗi cô đơn khiến người ta u buồn, và ngược lại, nỗi buồn khiến người ta cô đơn!

Chiều tối Thứ Năm Tuần Thánh, sau khi dùng Bữa Tiệc Ly với các môn đệ, Chúa Giêsu đi vào Vườn Dầu một mình cầu nguyện với Chúa Cha. Có 3 môn đệ thân cận nhất đi theo nhưng các ông lăn ra ngủ khò, chả nước non gì!

Cả chương 17 (gồm 26 câu) trong Phúc Âm theo Thánh sử Gioan là lời cầu nguyện của Chúa Giêsu khi Ngài cô đơn đến tột cùng với bao điều trăn trở, như những lời trăng trối dành cho mọi người – trong đó có chính mỗi chúng ta.

Chúa Giêsu là Thiên-Chúa-Làm-Người, thế nên Ngài có hai bản tính: Thần tính và nhân tính. Về nhân tính, Ngài cũng là một con người bình thường – ngoại trừ tội lỗi. Nghĩa là Ngài cũng cảm thấy vui và buồn như chúng ta. Thế nên, khi biết đến giờ phải chịu khổ hình, Ngài cũng muốn tâm sự nỗi lòng với các môn đệ để được cảm thông, vì nói ra cũng nhẹ lòng phần nào: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy” (Mt 26:38; Mc 14:34).

Nỗi buồn của Chúa Giêsu quá lớn, quá nặng, mà không chỉ buồn mà còn sợ, đến nỗi tưởng chừng có thể chết đi được. Chúng ta cũng chỉ có thể cảm nhận phần nào dù chúng ta cũng đã từng mất người thân yêu nhất.

Nỗi cô đơn chồng chất, nỗi u buồn chồng chất. Sức người phải cố gắng hết sức mới có thể vượt qua. Vì không thể vượt qua cú sốc quá lớn nên một số người đã tìm đến cái chết bằng cách này hay cách nọ: Treo cổ, uống thuốc độc, nhảy sông, nhảy lầu, lao vào xe, tự cắt mạch máu hoặc tự đâm mình,… Một số người khác không tự tử thì bị tâm thần, mức độ nặng nhẹ khác nhau. Nói chung, nỗi buồn quá lớn khiến người ta bị nhiều dạng tâm bệnh.

Có lần Chúa Giêsu nói: “Sẽ đến giờ Thầy không còn dùng dụ ngôn mà nói với anh em nữa, nhưng Thầy sẽ nói rõ cho anh em về Chúa Cha, không còn úp mở” (Ga 16:25), các môn đệ khoái chí lắm. Rồi Ngài nói tiếp: “Chính Chúa Cha yêu mến anh em, vì anh em đã yêu mến Thầy, và tin rằng Thầy từ Thiên Chúa mà đến.28 Thầy từ Chúa Cha mà đến và Thầy đã đến thế gian. Thầy lại bỏ thế gian mà đến cùng Chúa Cha” (Ga 16:27-28), thế là các ông nhao nhao giành nhau nói: “Đấy, bây giờ Thầy nói rõ, chứ không còn dùng dụ ngôn nào nữa. Giờ đây, chúng con nhận ra là Thầy biết hết mọi sự, và Thầy không cần phải có ai hỏi Thầy. Vì thế, chúng con tin Thầy từ Thiên Chúa mà đến” (Ga 16:29-30).

Thật may mắn cho các môn đệ còn kịp nhận biết Sư Phụ là ai trước giờ sinh ly tử biệt. Nghe vậy, Đức Giêsu xác định bằng cách nói nghi vấn: “Bây giờ anh em tin à?” (Ga 16:31). Như một lời trách. Ngài buồn lắm, vì các ông ở bên Thầy suốt mấy năm trời, ăn dầm nằm dề với nhau, đi khắp nơi, thế mà bây giờ mới nói được một câu “nghe lọt tai”. Nhưng Ngài biết đám học trò mình chỉ nói miệng thôi, thế nên Ngài nói trước: “Này đến giờ, và giờ ấy đã đến rồi, anh em sẽ bị phân tán mỗi người mỗi ngả và để Thầy cô độc một mình” (Ga 16:32).

Và quả thật, ai cũng “bỏ của chạy lấy người”, chạy như ma đuổi, chạy mất dép, chạy đến rơi cả áo vẫn không dám quay lại nhặt, tất cả đều bỏ rơi Chúa khi Chúa cần họ nhất. Chúng ta cũng là những người đã từng đối xử với Chúa Giêsu như vậy. Do đó mà nỗi buồn của Chúa Giêsu quá lớn, nỗi cô đơn của Chúa Giêsu quá sâu!

Vừa mới thề sống thề chết, nói mạnh và chắc như đinh đóng cột, thế mà chỉ nghe mấy đứa đầy tớ gái bàn tán thôi, giáo hoàng tiên khởi Phêrô đã thẳng thừng chối Chúa (x. Mt 16:26-31; Mt 26:30-35; Lc 22:31-34; Ga 13:36-38). Vì không hề còn chút tình nghĩa nào đọng lại nên Phêrô mới dễ dàng chối leo lẻo như thế, và cũng như vậy nên các môn đệ khác mới trốn chạy. Môn đệ nào có “can đảm” lắm cũng chỉ dám đứng xa xa mà thôi. Không thể biện hộ!

May mà ông Phêrô kịp hối hận khi nhìn thấy ánh mắt sâu thẳm của Chúa Giêsu. Đó là ánh mắt cảm thông, yêu thương và tha thứ, có sức xoáy sâu vào tận đáy lòng Phêrô. Chỉ có mỗi chàng trai trẻ Gioan còn dám dứng gần Thánh Giá với Đức Maria.

Thấy các trò như vậy, thấy những người thân đối xử tệ như thế nên nỗi buồn của Chúa Giêsu càng tăng gấp bội, và nỗi cô đơn của Ngài càng căng phồng như sắp nổ tung vậy.

Phàm nhân quá yếu đuối, đầy tội lụy, quá xấu xa, như người-môn-đệ-Chúa-yêu đã nhận định: “Tất cả thế gian đều nằm dưới ách thống trị của Ác Thần” (1 Ga 5:19). Thời nào cũng có sự giả dối có ở khắp nơi, với hàng giả đã đành, đến cả người cũng có nhiều người giả: “Có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian” (1 Ga 4:1).

Sự giả dối của con người khiến xã hội xáo trộn, làm cho người thật cảm thấy buồn và hóa cô đơn. Tại sao? Người chân thật sẽ khó nói chuyện với người giả dối, bị người giả dối ghét, bị người giả dối khinh miệt, bị người giả dối trù dập, bị người giả dối chơi khăm, bị người giả dối thù hằn, bị người giả dối lừa bịp, bị người giả dối cô lập, bị người giả dối chơi gác,…

Những người giả dối còn vào hùa với nhau để hại người chân thật bằng nhiều thủ đoạn và mánh lới. Vì thế, người chân thật không chỉ có một mình mà còn chịu cảnh cô độc.

Chúa Giêsu đã bị bọn thủ ác cô lập, gài bẫy và bị sát hại đến chết. Những người chân thật theo tinh thần Đức Kitô cũng sẽ luôn bị như vậy: “Tôi tớ không lớn hơn chủ” (Ga 13:16; Ga 15:20). Nhưng ai dám giữ vững lập trường, không a dua, không sợ “lạc bầy”, cứ là chính mình, không sợ một mình, chẳng ngán cô đơn,… đó mới là môn đệ đích thực của Đại Sư Giêsu vậy!

Quả thật, chỉ có ai cùng chết với Đức Kitô thì mới xứng đáng được sống lại với Ngài: Đó chính là niềm tin của chúng ta (Rm 6:8).

TRẦM THIÊN THU
Lễ Đức Thánh Giuse Phu Quân Đức Maria, 19-3-2013

Chúc mừng bổn mạng Thánh Giuse


Chúa chúc lành cho các bạn một ngày mới an lành trong Chúa
Hôm nay kính Thánh Giuse bạn trăm Đức Maria, Xin Chúa chúc lành cho tất cả gia trường, các em, anh trai đã chọn Thánh Giuse là bổn mạng của mình, được giống Ngài nhiều hơn. Amen

18/3/13

Đức Thánh Cha Phanxicô: Lòng Thương Xót Có Sức Biến Đổi Thế Giới

Tác giả: 
Nguyễn Minh Triệu Sj

Đức Thánh Cha Phanxicô: Lòng Thương Xót Có Sức Biến Đổi Thế Giới

VATICAN. Hơn 150 ngàn người đã tham dự buổi đọc kinh Truyền Tin đầu tiên trong triều đại Giáo Hoàng của ĐTC Phanxicô trưa Chúa Nhật ngày 17 tháng 03 năm 2013. Từ sáng sớm rất nhiều tín hữu và khách hành hương đã tuôn về Quảng trường Thánh Phêrô để tham dự buổi đọc Kinh Truyền Tin và gặp gỡ vị Giáo Hoàng thứ 266 của Giáo Hội Công Giáo. Ngài là vị Giáo hoàng đầu tiên đến từ tân thế giới và là người đầu tiên lấy danh hiệu Phanxicô.


Các con đường dẫn vào Roma đều bị phong tỏa, rất nhiều nhân viên an ninh và tình nguyện viên đã được huy động để hướng dẫn và giúp đỡ các tín hữu và khách hành hương. Ngoài ra còn có 300 tình nguyện viên sẵn sàng giúp những người khuyết tật mong muốn gặp gỡ Đức Thánh Cha. Vì số lượng người tham dự quá đông, ban tổ chức đã bố trí 4 màn hình khổng lồ để những người ở xa cũng thấy được ĐTC. Dân chúng đứng tràn ra tới đường Hòa Giải.


Đúng 12 giờ trưa, ĐTC Phanxicô xuất hiện tại cửa sổ phòng làm việc của ngài trông xuống quảng trường, giữa tiếng reo vui mừng của các tín hữu. Trong bài huấn dụ ngắn trước khi đọc kinh, sau lời chào, Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh đến lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho mỗi người chúng ta. ĐTC nói:


“Sau cuộc gặp vào thứ 4 tuần trước, hôm nay một lần nữa tôi lại có cơ hội để gặp gỡ anh chị em. Tôi hạnh phúc vì chúng ta gặp gỡ nhau trong ngày Chúa Nhật, ngày của Thiên Chúa. Điều này thật đẹp và quan trọng đối với mỗi người Kitô hữu chúng ta. Chúa Nhật là ngày chúng ta gặp gỡ, chào hỏi, và chia sẻ cho nhau, điều mà chúng ta đang làm tại quảng trường này.

Trong Chúa Nhật thứ 5 Mùa Chay hôm nay, Lời Chúa trình bày cho chúng ta câu chuyện về người phụ nữ ngoại tình được Chúa cứu khỏi án tử hình. Chiêm ngắm thái độ của Đức Giê-su, chúng ta không nghe thấy những lời trách mắng, những lời kết án, nhưng là lời của tình yêu, lời thương xót mời gọi chúng ta hoán cải.
Anh chị em thân mến, gương mặt của Thiên Chúa là gương mặt của người cha đầy lòng thương xót, Ngài luôn kiên nhẫn với chúng ta. Anh chị em hãy nghĩ về sự kiên nhẫn của Thiên Chúa dành cho chúng ta, không phải Thiên Chúa luôn kiên nhẫn với mỗi người chúng ta sao? Vâng, đây chính là lòng thương xót của Thiên Chúa. Ngài luôn kiên nhẫn để hiểu, chờ đợi và không mệt mỏi tha thứ cho chúng ta nếu chúng ta biết quay lại với Ngài với tất cả con tim. Thánh vịnh viết rằng: “Lòng thương xót của Thiên Chúa vĩ đại dường bao”.

Tiếp đến Đức Thánh Cha nói rằng, trong những ngày này Ngài đã đọc một tác phẩm của thần học gia Kasper. Và chính tác phẩm đã gợi hứng cho ngài về lòng thương xót của Thiên Chúa. Ngài nói:


“Đức Hồng Y Kasper nói về việc lắng nghe lòng thương xót, và lời này có thể biến đổi tất cả. Lòng thương xót có thể làm cho thế giới trở nên ấm áp hơn và công bằng hơn. Do đó, chúng ta cần hiểu lòng thương xót của Thiên Chúa, Ngài là một người cha đầy lòng thương xót đối với mỗi người chúng ta. Hãy nhớ lại lời của ngôn sứ Isaia: “Tội các ngươi dầu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết. có thắm tựa vải điều, cũng hóa trắng như bông” (Is 1,18). Lòng thương xót đẹp biết bao!”

Sau đó ngài kể lại một câu chuyện trong kinh nghiệm mục vụ của ngài. Ngài nói:


“Tôi nhớ, vào năm 1992, khi còn là Giám mục, tôi đi dâng lễ tại một nhà thờ cho các bệnh nhân. Trong thánh lễ này tôi cũng giải tội cho một số người. Cuối thánh lễ, tôi đứng dậy vì tôi phải ban bí tích thêm sức. Lúc đó, có một người phụ nữ lớn tuổi tới gần tôi, bà rất khiêm nhường. Tôi nhìn người phụ này và nói với bà:
“Thưa bà, bà có muốn xưng tội không?”
Bà đáp: “Thưa có.”
“Nhưng nếu bà không có tội…”.
Và bà trả lời tôi rằng: “Tất cả chúng ta đều có tội”.
“Nhưng có lẽ Thiên Chúa sẽ không tha thứ cho chúng ta”, Tôi nói.
Bà đáp lại: “Chắc chắn Thiên Chúa tha thứ tất cả”.
“Nhưng làm sao bà biết, thưa bà?” Tôi hỏi lại.
“Vì nếu Thiên Chúa không tha thứ cho chúng ta, thế giới này sẽ không tồn tại”. Nghe những lời đó, tôi định hỏi bà rằng: “Bà ơi, nói cho tôi biết, phải chăng bà học ở trường đại học Gregoriana.” Bởi vì đây chính là sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần. Một sự khôn ngoan nội tâm về lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúng ta đừng bao giờ quên lời này: Thiên Chúa không bao giờ mệt mỏi tha thứ cho chúng ta, không bào giờ! Và vấn đề của chúng ta là gì? Thưa, vấn đề là chúng ta chán nản, chúng ta không muốn, chúng ta không mong muốn sự tha thứ. Ngài không bao giờ bỏ cuộc, không bao giờ! Thiên Chúa là người cha yêu thương luôn tha thứ. Ngài có một trái tim đầy lòng thương xót dành cho tất cả chúng ta. Và chúng ta cũng cần học và thương xót người khác. Chúng ta hãy cầu xin sự chuyển cầu của Mẹ Chúng ta, vì chính ngang qua mẹ, lòng thương xót của Thiên Chúa đã được thực thi giữa con người.”


Tiếp đến, Đức Thánh Cha cảm ơn mọi người và ngài cũng xin mọi người tiếp tục cầu nguyện cho Ngài. Ngài nói:


“Tôi xin gửi lời chào đến tất cả khách hành hương, cảm ơn các bạn vì đã tiếp đón và cầu nguyện cho tôi. Hãy cầu nguyện cho tôi, tôi xin anh chị em hãy cầu nguyện cho tôi. Tôi cảm ơn các tín hữu tại Roma và toàn thể anh chị em đến từ nhiều nơi trên thế giới cũng như những ai theo dõi qua các phương tiện truyền thông. Tôi chọn Thánh Phanxicô làm Đấng bảo trợ cho triều đại giáo Hoàng của tôi vì ngài là một người Ý. Tôi muốn có một sự gắn bó thiêng liêng với vùng đất này, là nguồn gốc của tôi. Thế nhưng, Đức Giê-su cũng mời gọi chúng ta trở thành thành viên của một gia đình mới, gia đình của Thiên Chúa, để chúng ta cùng bước đi trên con đường Tin Mừng. Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành cho anh chị em, và đừng bao giờ quên rằng, Thiên Chúa không bao giờ mệt mỏi trao ban sự tha thứ.”


Cuối cùng Đức Thánh Cha ban phép lành cho tất cả những người hiện diện.

Radiovatican
Nguyễn Minh Triệu Sj

Nguồn Thanhlinh

17/3/13

CUA LẦM

CƯA LẦM
________________________________________

Một bệnh nhân đến gặp bác sĩ và than thở về cái chân đau của mình.

Bệnh nhân: thưa bác sĩ mặc dù cái chân của tôi đã cưa rồi nhưng cái chân khác của tôi nó cứ đau?

Bác sĩ: Ôn tồn nói; tôi rất hân hạnh được báo cho anh biết hai tin rất quan trọng, là tin BUỒN và tin VUI; anh muốn nghe tin nào trước tùy anh lựa chọn. Tuy rất đau nhức nhưng anh vẫn can đảm đón nghe là tin gì;

Bệnh nhân: xin bác sĩ cho biết tin vui trước ạ.

Bác sĩ: tôi chia vui với anh vì trong tương lai cái chân bị cưa sẽ không còn bị ung nhọt hay làm anh bận tâm về nó nữa.

Tuy cơn đau đã lên nhưng vì tính tò mò nên bệnh nhân cũng ráng chịu đựng để nghe cái tin thứ hai.

Bác sĩ: tôi xin thành thực chia buồn cùng anh vì chúng tôi đã cưa lộn chân anh, và chút xíu nữa chúng tôi sẽ tiến hành cưa nốt cái chân đó.

Anh bệnh nhân nghe tới đây thăng luôn.

Hạnh Nguyễn

NGUỒN: NỤ CƯỜI NHÀ ĐẠO

XƯNG TỘI ... BẰNG E-MAIL

XƯNG TỘI ... BẰNG E-MAIL
________________________________________

Một anh thanh niên e-mail cho cha sở của mình:

- " Thưa cha đã mấy năm nay con chưa xưng tội …. Bởi vì con bận lắm ….cả ngày cứ phải ngồi làm việc trước computer …. hôm nay con muốn xưng tội với cha …. Nói tóm lại, trong mười điều răn Đức Chúa Trời, tội nào con cũng có phạm cả , không ít thì nhiều, khi nào cũng có, kể cả những tội quên tội sót …. Vậy xin cha ban phép tha tội cho con !"

Cha liền e-mail lại cho anh :

- " Những tội thuộc về điều răn 1, 2, 3 thì con phải liệt kê chi tiết tội ra và e-mail đến địa chỉ này : DUCCHUACHA @ THIENDANG. NET

- " Những tội thuộc về điều răn 4, 5 thì con cũng phải liệt kê chi tiết và e-mail về địa chỉ : DUCCHUACON @ THIENDANG.NET

- " Những tội có liên quan đến điều răn thứ 6, 7 , 8, 9, thì con cũng viết rõ chi tiết ra và gửi đến địa chỉ : DUCCHUATT @ THIENDANG.NET

- " Về phần làm việc đền tội thì con hãy làm như sau :

- " Việc đền tội cho các điều răn 1, 2, 3 thì con phải vào trang Giáo Lý Công Giáo và đọc hết những phần trong đó, địa chỉ là: ( www. Thiênđàng. org / thầnhọcvàtôngiáo / giáolýtântòngvàngườilớn/ )

- "Việc đền tội cho các điều răn 4 , 5 thì đọc hết các phần của trang ( www. Thiênđàng . org / đờisốngKitôhữu / vănhóacộnđồng / )

- "Việc đền tội cho các điều răn 7, 8, 10 thì phải đọc hết trang ( www. Thiênđàng . org / hỏiđểsốngđạo / khảocứu / )

- "Việc đền tội cho điều răn 6, 9 thì vào trang ( www. Thiênđàng . org / điểmnóng / )

- Lời khuyên cuối cùng là muốn cho đời vui tươi sáng sủa thăng tiến hơn thì vào trang : ( www. Thiênđàng . org / chuyệncườinhàđạo / )

- Chúc con luôn được bình an !!!

Nguồn: Nụ cười nhà Đạo

Comment

Translate