20/8/12

Chương 4

 

Chương 04

Khôi lắng nghe tiếng chân bước ở ngoài xa hẳn, bốn bề lô-cốt im lặng hoàn toàn mới nhỏm người dậy, tụt xuống đất. Anh bảo Việt :
- Bật đèn lên Việt. Chúng mình bị kẹt trong này thật rồi. Cậu có nghe tiếng khoá cửa đấy chứ ?
- Có. Không hiểu gã đàn ông kia lấy đâu được chìa khoá cửa lô cốt này ?
- Hắn có thể tạo ra một chìa khoá giả…
Việt thở dài lo lắng :
- Thế là chúng mình bị cầm tù ở đây. Làm cách nào ra được bây giờ ?
Giọng nói của Việt rền rĩ như muốn khóc. Khôi cố gắng trấn tĩnh bạn tuy anh cũng lo bấn cả người :
- Tớ không ngờ tụi mình bị mắc kẹt. Đúng ra mình không nên dính líu vào vụ này như khi nãy cậu đã can ngăn. Dù sao phải tìm cách ra khỏi đây nội đêm nay không có thì nguy…!
Suy nghĩ giây lát Khôi tiếp :
- Điều cần nhất là tụi mình phải bình tĩnh… Bây giờ ta hãy ra phòng ngoài xem có cách nào thoát khỏi đây không…
Đôi bạn rọi đèn tiến ra phòng ngoài. Căn phòng vuông vắn, chật hẹp chỉ có một cánh cửa sắt làm lối ra vào duy nhất. Khôi huých người vào cánh cửa thấy không nhúc nhích, anh mở luỡi dao luồn thử vào ổ khoá. Lưỡi dao quằn đi, muốn gãy.
Việt ngăn bạn lại :
- Vô ích, không được đâu ! Cánh cửa sắt này đến lựu đạn cũng không phá nổi. Lưỡi dao nhỏ này ăn thua gì !...
Bỏ cánh cửa, cả hai lùi lại giữa phòng, nơi xảy ra cuộc xung đột đẫm máu của hai con chó, và có lẽ cũng là chỗ người đội thương chánh bị đánh quỵ. Vách tường phía trước có trổ mấy lỗ châu mai. Nhưng không đủ rộng để hai anh em chui ra được. Trở vào trong hầm bọn buôn lậu dùng làm chỗ giấu hàng, Khôi tìm ra được một cửa sổ nhỏ. Cánh cửa bằng sắt đóng phía bên trong. Khôi mừng rỡ bảo bạn :
- Đây rồi, Việt ơi, nếu cậu muốn sớm hít không khí trong mát bên ngoài, thì hãy tấn công vào chỗ này.
Việt chiếu thẳng đèn vào khuôn cửa sổ hình chữ nhật. Cánh cửa có bản lề chôn sâu vào vách tường và được gài chặt bằng hai chốt sắt, lâu ngày đã rỉ sét.
Việt hỏi :
- Liệu có thể phá nổi cánh cửa này không ?...
- Nhất định phải phá… Khôi đáp. Chúng mình bắt tay vào việc đi thôi kẻo đèn sắp hết “pin” rồi ! Làm mò trong tối càng khó thêm nữa.
Khôi mở lưỡi dao, nạo những rỉ sét đóng ở bản lề và chốt cửa. Lưỡi dao mỏng chỉ gại ra được những mảnh vụn của lớp rỉ bên ngoài. Biết rằng lưỡi dao nhỏ của mình không đạt đến kết quả nào, Khôi lắc đầu lẩm bẩm :
- Phải có cái rũa sắt mới có hy vọng…
Việt nhìn bạn ảo não và thất vọng. Anh thấy cả hai đều ngu dại, đang thảnh thơi cắm trại thì tự dưng dấn thân vào đây để lâm phải cái tình thế khó gỡ này.
Khôi bàn :
- Thử dùng sức xem sao. Tụi mình hợp lực lại, may ra…
- Nhưng sợ gây tiếng động.
- Khỏi lo. Gã đàn ông giờ này đã đi xa rồi. Vả lại, đành phải liều chứ biết sao bây giờ.
Khôi trở ra tìm chiếc gậy của gã đàn ông để quên ở phòng ngoài. Anh dùng chiếc gậy ấy làm đòn bẩy, lùa đầu gậy vào khe cửa và thử ấn mạnh. Đầu gậy kêu răng rắc… Một chốt cửa chuyển động…
Thấy có hy vọng, cả hai hùa nhau cố bẩy. Chiếc đèn bấm lúc này chỉ còn phát ra một thứ ánh sáng vàng vọt yếu ớt. Không biết nó còn chiếu sáng được bao lâu nữa ?
Đôi bạn gắng sức thêm, hơi thở hổn hển, mồ hôi ướt đẫm áo. Cánh cửa lỏng dần… và xệ hẳn một đầu xuống…
Khôi bảo :
- Cẩn thận, đứng lui lại kẻo nó rơi vào chân !
Bốn cánh tay gồng lên thu hết sức lực vào cố gắng cuối cùng. Cánh cửa bật khỏi lề, rớt xuống đất… Khôi thở phào, hoan hỉ :
- Thoát rồi !
Nhưng Việt lắc đầu. Vì anh thấy sau cánh cửa, còn một hàng song sắt chôn sâu vào lớp tường dày. Đôi bạn thất vọng nhìn nhau. Từ nãy tới giờ họ đã uổng công vô ích. Bên ngoài đêm trăng lồ lộ… đẹp như chưa từng thấy. Hàng song sắt kiên cố ở khuôn cửa hẹp ngăn chặn, chia cách họ với thế giới phóng khoáng bên ngoài.
Khôi vẫn chưa nản :
- Tụi mình có thể ra được…
Vừa nói anh vừa cởi áo ngoài và nghiêng mình lách đầu qua song. Thái dương của anh bị kẹt cứng giữa hai gióng sắt. Thử lại nhiều cách khôi thấy đều vô hiệu. Đầu anh tê buốt, chân tay bị sây sát mà vẫn không sao lách mình ra được. Khoảng cách giữa hai gióng sắt hẹp quá. Anh bỗng cảm thấy bải hoải, vô cùng chán nản…
Khôi ngồi xệp xuống đất, úp mặt vào hai bàn tay. Việt thẫn thờ nhìn hàng song sắt. Anh hít những hơi dài không khí lạnh mát bên ngoài, muốn nắm lấy hàng song đáng ghét kia mà vặn cho gãy đi. Nhưng anh làm gì có sức khoẻ như Hercule, như Hạng Võ !
Anh buồn rầu hỏi bạn :
- Làm sao bây giờ, khôi ?
Khôi mệt mỏi đáp :
- Chờ xem, tụi mình còn biết làm gì hơn bây giờ !
Việt ngồi xuống cạnh bạn. Cả hai đều im lặng, không còn can đảm để bàn bạc với nhau nữa. Gió lạnh ban đêm lọt qua khuôn cửa sổ thấm nhập vào người họ. Những xúc động vừa qua, cùng với những vất vả trong ngày làm họ mệt nhoài. Mắt họ dính lại, muốn thiếp ngủ. Tuy vậy, họ không ngủ hẳn, tâm trí vẫn chập chờn tìm cách ứng đối với hoàn cảnh.
Cả hai ngồi lơ mơ như thế khá lâu. Khôi ân hận không biết lúc này là mấy giờ ? Chiếc đồng hồ của anh đã được tháo ra cất vào ba-lô để lại trong lều trước khi anh ngủ. Nhưng sao Khôi vẫn nghe như có tiếng kim đồng hồ nhảy… tách… tách… văng vẳng đâu đây. Anh lẩm bẩm :
- Mình mê chăng ?
Và rờ vào cổ tay trái, xem có thật mình không đeo đồng hồ, Khôi thấy cổ tay mình trơn nhẵn… Anh ngồi ngay lại, véo thử vào má. Ồ, Khôi đâu có mê ! Vết véo ở má cảm thấy đau rõ ràng ! Vậy có cái gì đây ?
Khôi khẽ gọi :
- Việt ! Việt !
Việt có lẽ quá mệt đã thiếp hẳn đi. Không nghe bạn trả lời, Khôi để yên cho bạn nghỉ. Hơn nữa anh cũng muốn tự mình dò xét xem tiếng động kia ở đâu mà ra.
Lắng tai, Khôi nhận ra đó là tiếng nước nhỏ giọt đều đều. Anh vùng dậy, bấm đèn. Chiếc đèn loé vàng yếu ớt.
- Lạy trời cho nó sáng thêm ít phút nữa.
Khôi thầm mong như vậy, và anh vội vã rọi đèn chung quanh đống hàng lậu. Không thấy gì, anh lần ra phòng ngoài. Ở đây, hồi nãy gã đàn ông đã hắt một sô nước để rửa sạch vết máu của con chó bị đánh chết. Sàn lô cốt láng bằng xi măng nên không thấm nước. Chỗ còn đọng lại, lan theo chiều dốc thành một đường nước mỏng chảy trở vào trong kho chứa hàng.
Khôi lần theo giòng nước thấy nó mất hút dưới mấy bao hàng. Ngoài bao vẫn còn khô nguyên. Như vậy giòng nước chảy vào đây, nhưng nó đã thoát theo lỗ hổng nào đó. Khôi áp tai nghe. Tiếng nước nhỏ giọt, rơi xuống chiều sâu, nghe tách… tách… rõ rệt, đều đều…
Anh luồn tay sờ dưới bao hàng, đụng nhằm vào một vật gì không phải bằng xi măng. Kéo thử bao hàng ra Khôi thấy một tấm gỗ. Giòng nước đã lọt qua tấm gỗ ghép ấy nhỏ giọt xuống dưới…
- Một cửa hầm ! Mình thoát rồi !
Mừng quá, Khôi reo gọi :
- Việt !
Việt giật mình, hoảng hốt :
- Hả, gì thế ?
- Lại đây mau.
Việt bật dậy đến sát bên bạn. Vẻ hứng khởi của Khôi làm Việt thấy hy vọng trở lại. Anh hỏi lại :
- Gì thế ?
- Tớ vừa tìm ra cái nắp hầm này, nhờ có giòng nước chảy ở ngoài kia vào. Bây giờ chúng mình chỉ cần khiêng mấy bao hàng này ra chỗ khác, giở cái nắp gỗ này lên là tụi mình có lối thoát ra ngoài rồi !
Việt sững người nhìn bạn, rồi lại nhìn tấm ván gỗ có những bao hàng đè phủ lên trên, anh mừng rỡ kêu :
- Hay quá. Cậu giỏi thật đấy Khôi ạ. Thế mà tớ ngủ chẳng giúp cậu được gì cả !
Rồi Việt hăng hái sắn tay áo cùng bạn khiêng những bao hàng rời đi chỗ khác. Công việc khá vất vả, nhưng rồi nắp hầm lộ ra, vuông vức vừa một người xuống lọt. Từ miệng hầm xuống có những nấc bằng sắt gắn sâu vào xi măng dùng làm thang.
Khôi đặt chân xuống nấc thang ấy trước tiên, và mất hút dưới miệng hầm. Việt thỉnh thoảng hú lên để liên lạc với bạn :
- Hú… hú !...
Tiếng hú của anh dội xuống hầm nghe âm âm, kéo dài thành “ú u u ú u u” ghê rợn.
Khá lâu có tiếng của Khôi đáp vọng lên :
- Ê… được rồi ! Có hai mươi bốn bậc tất cả. Tớ tới đất rồi…
Việt thong thả lần xuống từng bậc. Vừa đặt chân trên các gióng sắt anh vừa đếm :
- … Mười… mười lăm… mười bảy… muời chín.
- Cẩn thận đấy nhé, có tớ đứng dưới này…
- Ừ.
- Coi chừng lúc xuống, đất bị trơn đấy.
- Được rồi… Tớ xuống đây.
Hai anh em đứng sát bên nhau, dưới đáy hầm, Khôi nói :
- Cậu thấy cái lỗ sáng ở đầu kia không ? Cửa ra đấy ! Đây chắc là lối rút lui bí mật đã được dự phòng khi lô-cốt bị địch quân áp đảo. Ra tới đó là tụi mình được tự do rồi…
Cả hai cúi gập mình men đi. Chừng năm phút sau họ chui ra, đứng giữa bụi cây rậm. Ánh trăng chiếu chan hoà trên mặt họ, và gió lạnh thổi bung mái tóc.
Đôi bạn ôm chầm lấy nhau mừng rỡ :
- Thoát rồi, chúng mình thoát rồi !
Xa xa phía dưới lòng thung có tiếng gà gáy báo hiệu trời sắp sáng.

Chương 3

Các bài đã đăng:
1.   Chương 1
2.   Chương 2 
4.   Chương 4
5.   Chương 5
6.   Chương 6

Chương 03

Chiếc pháo đài, theo danh từ của các anh chiến sĩ thường gọi là chiếc “lô-cốt” (blockhaus) nằm ẩn trên một địa thế rất kín đáo. Nếu không có ánh đèn bên trong lọt qua lỗ châu mai, Khôi Việt đã tưởng nhầm đó là một khối đá bên sườn núi.
Nấp trong bụi rậm, Khôi Việt im lặng quan sát. Cả hai đều nghĩ : Trong lô-cốt có người ! Nhưng ai làm gì trong ấy, giữa đêm hôm khuya khoắt như thế nầy ? Chắc hẳn chúng đã lợi dụng chiếc lô-cốt bỏ không đã lâu ngày này làm sào huyệt.
Ánh sáng chập chờn bên trong lô-cốt chắc do một ngọn đèn dầu hay nến nên ngọn lửa lay động luôn luôn… Đột nhiên ánh sáng bập bùng ấy phụt tắt.
Cánh cửa sắt của lô-cốt chuyển động, quay ken két trên bản lề rỉ sét. Một bóng đen ở trong bước ra. Khôi cố giương mắt nhìn, nhưng không nhận ra được bóng dáng đích thực của hắn. Bóng đen không giống người thường. Nó có vẻ to lớn, dị hình như một quái vật. Đôi bạn nhìn nhau bủn rủn tưởng như đang trải qua một cơn ác mộng. Một bóng đen nữa lướt trên mặt đất… Khôi nhận ra đó là một bóng chó. Nhưng không phải bóng chó đã dẫn đường cho viên đội thương chánh đã đi qua cửa lều của Khôi Việt trước đây.
Nhận xét ấy làm Khôi quan sát lại bóng dị hình đang đi trước con chó. Quả nhiên bóng đó không phải là viên đội thương chánh vừa rồi.
Chợt một tia sáng thoáng qua trí óc Khôi. Anh bừng tỉnh như vừa đột ngột tìm ra được giải đáp của một bài toán khó. Bóng đen ma quái vừa trong lô-cốt đi ra không phải một người, mà là hai: người nọ vác người kia trên vai ! Nhìn kỹ Khôi thấy điều mình vừa khám phá ra quả không sai. Người thứ nhất lom khom, trên cặp giò ngắn; người thứ hai rũ liệt, hai tay buông thõng, đầu lắc lư, toàn thân đè nặng trên vai người kia.
Khôi còn nhận ra điều này, vì phải vác nặng, người kia không có thì giờ quay lại để đóng cửa sắt nặng nề của lô-cốt. Hắn khệnh khạng bước đi, con chó theo sát bên cạnh và biến dần vào lớp sương trắng đục của đêm khuya. Theo rõi bóng hắn trước khi khuất hẳn, Khôi kịp nhận ra kẻ hắn vác trên vai đã ngất xỉu. Ngang lưng người bị ngất có thắt chiếc dây da to bản, thứ dây lưng đeo bao súng của người đội viên thương chánh, anh đã thấy khi ông ta đi ngang trước cửa lều.
Thôi đúng rồi…Đúng là viên đội thương chánh bị gã kia vác đi ! Nhưng hắn đem ông ta đi đâu ? Và tại sao ông ta lại bị ngất đi như thế ? Khôi tự đặt ra bao nhiêu câu hỏi, và nóng muốn biết gã đàn ông kia là ai. Trong đêm tối, gã chỉ là một bóng đen khó lòng nhận ra được…
Việt không có phản ứng gì. Anh ngồi nấp trong bụi cây, yên lặng chờ đợi…
Khôi nhảy ra khỏi bụi, kéo theo bạn ra. Việt khẽ hỏi :
- Cậu tính thế nào ?
Khôi sẵn sàng lao mình vào cuộc mạo hiểm, thản nhiên bảo bạn :
- Cậu thấy chưa, tớ đã bảo thế nào chúng mình cũng gặp chuyện lạ mà…
Việt gật đầu, không hào hứng mấy :
- Thấy chứ sao không ! Nhưng tớ hỏi cậu định làm gì bây giờ ?
- Đi theo bóng đen vừa rồi !
- Điên ! Tụi mình sẽ bị lộ ngay. Với lại mình có liên can gì vào vụ này…
- Nhưng còn người đội viên thương chánh, như chúng ta vừa thấy đó, ông ta bị tên kia vác đi, không biết là đi đâu… có lẽ tính mạng ông ta sẽ nguy, họ sẽ tra khảo, thủ tiêu ông ấy không chừng…
Việt thở dài :
- Chúng mình chỉ có hai đứa, làm gì được…
- Mình chỉ cần đừng để chúng tóm được thôi. Sợ gì ! Cậu vốn là con người thông minh mà…
Việt cắt ngang :
- Vì thế nên tớ càng không muốn liều mình trong câu chuyện mờ ám này…
Tuy nói thế, song Việt biết không cản nổi ý định của bạn. Khôi dám hành động một mình lắm, nếu Việt thoái thác. Chừng ấy Việt còn bồn chồn áy náy hơn. Nhìn chiếc lô-cốt chợt Việt nảy ra một ý kiến. Anh bảo bạn :
- Hay chúng ta vào dò xét trong lô-cốt ?
- Nhỡ đụng nhầm bọn đồng loã của gã kia ở trong ấy thì tụi mình có chầu ăn đòn !
-Tớ chắc trong ấy kkhông còn ai. Nếu có người, mình đã nghe thấy tiếng động.
- Thử nghe ngóng xem sao đã.
Im lặng. Chỉ nghe có tiếng gió lướt nhẹ trên đám cỏ lau… Khôi Việt thận trọng tiến lại gần chiếc lô-cốt. Cả hai đều hiểu sự quan trọng của việc mình làm. Họ tiến tới cửa sổ lô-cốt. Cánh cửa nặng, dầy, vít toàn bằng đinh “bù loong”. Sờ soạng trên cánh cửa, Việt rỉ tai bạn :
- Cửa sắt, Khôi ạ.
- Ừ. Cẩn thận nhé. Nó kêu đấy…
- Cái gì kêu ?
- Cánh cửa !
Khôi lách tay vào khe cửa, dùng sức đẩy từ từ. Cánh cửa nặng nề hé mở… Một hơi nồng nặc, ngai ngái mùi thuốc lá, mùi rượu, với nhiều hương vị khác nhau thốc vào mặt hai người.
- Đèn đâu Việt ?
- Đây. Bật lên à ?
- Ừ. Trong này không có người.
Việt ấn nút chiếc đèn bấm. Tia sáng từ tay Việt chiếu lên một vách tường sù sì bằng xi-măng trộn sỏi. Dưới sàn cũng đúc bằng xi-măng nhưng đất bụi phủ đầy. Đây là một thứ phòng hẹp, thực kiên cố và trống rỗng. Việt cầm đèn tiến lên trước. Ánh đèn của anh vấp vào một vật nằm dưới đất. Anh lùi lại kinh hoảng…
Cách Việt vài bước, một xác chó bê bết máu nằm co quắp. Việt lia ánh đèn soi tứ phía. Trên sàn những vết máu lẫn lộn với vết chân người.
Xác chó vẫn nằm bất động. Nó chết rồi.
Việt tiến thêm vài bước nữa. Chiếc đèn run rẩy trong tay Việt, làm tia sáng chiếu lằng nhằng trên vách tường trước mặt. Cả hai cúi xuống xem xét xác con chó. Cổ và ngực nó bị rách nát. Nhiều vết thương cào sâu khắp mình, và ngay mõm nó, Khôi còn nhận thấy những vết nanh rất sâu : cuộc xung đột giữa hai con vật, hẳn là khủng khiếp.
Việt lẩm bẩm :
- Ghê quá ! Con chó này gần như bị đối thủ muốn xé xác ăn thịt.
Khôi nói :
- Thôi để nó đấy. Tụi mình ngó quanh một lượt rồi chuồn…
Đôi bạn đưa mắt nhìn. Có chiếc đèn bão dặt ở một góc tường. Chiếc đèn này chắc hẳn vừa được đốt sáng khi nãy trong lô-cốt. Khôi chợt để ý đến một vật dựng gần chiếc đèn. Anh dằng lấy chiếc đèn bấm trên tay Việt chiếu thẳng vào vật ấy. Ánh đèn chiếu sáng một chiếc gậy, thứ gậy bằng cây rắn chắc, nổi cục và nhẵn bóng của những người sơn cước thường dùng. Chiếc gậy này trong tay người miền núi, có thể dùng vào đủ mọi việc : vừa để chống khi leo núi, giết dã thú khi có dịp, hoặc đánh gẫy những bụi cây để dọn quang lối đi v.v…
Việt nhìn theo tay bạn hỏi :
- Cái gì nom như một chiếc gậy…
- Đúng là chiếc gậy… Khôi đáp. Và cậu có biết chiếc gậy này vừa được làm gì không ? Để đánh gục viên đội thương chánh đấy…
- Chắc không ?
- Chắc, vì rất dễ hiểu : Con chó nằm kia – Khôi chỉ xác chết của con vật – đã đánh hơi thấy gì đó và dẫn người đội thương chánh đến cái lô-cốt này. Đúng lúc ấy thì con chó kia, con mà tụi mình thấy ở đây ra khi nãy nhảy vào cắn xé con này. Chủ nó nấp đâu đấy, liền giáng cho viên đội một gậy khiến ông này chỉ kịp rống lên một tiếng là quị.
Khôi nhắc chiếc gậy soi vào ánh đèn. Cả hai đều thấy trên đầu gậy có dính mấy sợi như sợi tóc.
Khôi xanh mặt lẩm bẩm :
- Bị một cú gậy này vào đầu chắc chết quá.
Nhưng Việt nhận xét :
- Theo tớ thì mấy sợi dính ở đầu gậy không phải tóc người. Vì tóc người dài hơn. Với lại bị cú gậy này phang vào đầu ắt phải phun máu , mà ở ngoài cửa ra vào mình không thấy có vết máu nào ngoài những vết chân.
Khôi gật đầu :
- Cậu có lý, không phải tóc người thật…Như vậy có lẽ là lông của con chó…
Trở lại chỗ xác con chó, Khôi nâng đầu nó lên. Trên trán con vật quả có một vết thương lộ rõ xương sọ…
Trong bầu không khí u uất của lô-cốt, đôi bạn nín lặng vì lo sợ. Việt cố gắng cất tiếng :
- Cậu tính sao bây giờ ? Tụi mình đã đoán được phần nào sự việc xảy ra rồi… Vậy còn ở đây làm gì ? Chuồn đi thôi…
- Tớ cũng chưa biết phải làm gì, nhưng còn viên đội thương chánh… tớ sợ ông ta bị chúng đem đi thủ tiêu mất…
- Có thể… Mà hai đứa mình làm sao cứu được ông ta…
- Phải tìm cách chứ !
- Cách nào ? Rủi mình lọt vào tay họ, thì rồi ai cứu mình đây ? Liệu mình có tự thoát được không?
- Dĩ nhiên mình sẽ gặp nhiều bất trắc, nguy hiểm. Nhưng trước một sinh mạng đang lâm nguy mà mình bỏ mặc, thử hỏi lương tâm mình có để yên cho mình không ? Việt ạ, cậu có lý một phần nào khi không muốn liên can vào vụ này, nhưng bây giờ trót rồi, mình đành phải tìm cách nào cứu cho được người bị lâm nạn. Như thế lương tâm mình mới khỏi cắn rứt…
Việt đáp :
- Được rồi, tớ bằng lòng theo cậu…
Khôi hài lòng, thân mật vỗ lên vai bạn. Trước mối nguy hiểm phải đương đầu họ đều sát cánh bên nhau.
Khôi bàn :
- Trước hết, mình hãy xem kỹ ở đây đã…
Ánh đèn quét một vòng lên bốn vách tường… và bỗng mất hút vào một ngách hẹp. Khôi, Việt lần mò tới đó. Cửa ngách rất thấp phải cúi mình mới lách mình vào được. Ngách này thông sang một buồng khác chật hơn. Mùi thuốc lá lẫn những mùi lạ khác hoà thành một mùi nồng nặc khó tả. Khôi chiếu ngược ánh đèn. Sát vách tường, những bao vải, những thùng gỗ chồng chất lên nhau, cao sát tới trần.
Khôi khẽ reo :
- Trời toàn hàng lậu… Kho hàng này chắc bộn của đấy Việt ạ.
Việt sờ vào một bao bằng gai toan tìm cách mở xem. Khôi vôi ngăn lại :
- Đừng ! Mình không nên để lại dấu vết gì ở đây cả. Nếu cậu mở ra rồi buộc lại không đúng như họ đã buộc, tất họ sẽ nghi ngờ và rồi cuộc dò xét của mình sẽ khó khăn hơn.
Việt gật đầu tán thành. Khôi tiếp :
- Với lại, những thứ hàng lậu này sẽ là “món bở” của nha thương chánh. Không rõ họ đã khám phá ra chưa…Chắc là chưa… Nếu không họ đã tịch thu hết rồi…
Chợt Việt reo lên :
- Ồ, coi này Khôi, chiếu đèn lại đây xem…
- Gì thế ?
- Tớ vừa thấy cái này… bỏ dưới đất. Sờ thử hãy còn ẩm.
Dưới ánh đèn bấm, hai anh em thấy một chiếc đai căng phồng hai túi vải. Chất vải gai còn ướt sũng sương đêm.
Khôi nói :
- Tớ ngửi thấy toàn mùi y dược cậu ạ…
- Ừ, mùi thuốc tây. Hai túi này mới đem tới đây tối nay thôi -- Việt vỗ tay vào trán – À, thôi tớ hiểu rồi… con chó… Họ đã buộc cái đai đựng đầy thuốc này ngang lưng con chó, và chính nó chuyển vận vào đây…
- Xuỵt, im…
Khôi bật người lên nghe ngóng :
- Có người đến !
Đôi bạn bỗng cuống cuồng như hai con chuột bị mắc trong rọ.
Khôi thở vào tai bạn :
- Tắt đèn đi.
Việt lúng túng không sao điều khiển được chiếc nút hãm.
Khôi dục :
- Đã bảo tắt đèn đi mà !
Có tiếng động chân nhịp bước ở bên ngoài, đang tiến lại gần lô-cốt.
Việt càng luống cuống hơn :
- Tớ tắt không được. Đây, cậu tắt đi vậy…
Tia đèn bấm vạch lung tung trên trần, xuống đất, nhảy múa điên dại một hồi rồi mới chịu tắt. Căn phòng hẹp tối như bưng.
Trong tối, tiếng động chân nghe càng rõ. Đôi bạn nhận ra được tiếng chân đang lê bước trên con đường mòn, lối đi vào lô-cốt.
Khôi dục bạn :
- Kiếm chỗ nấp mau.
Vừa nói anh vừa nhìn vào khoảng tối mịt mùng. Nhưng bóng tối ở đây không giúp ích gì được, chỉ một đốm lửa loé lên là hai anh em sẽ lộ hình tích. Khôi đặt tay vào những bao hàng chồng chất bên góc tường. Anh thầm reo :
- Thoát rồi.
Và anh bảo Việt :
- Trèo lên ! Trèo lên mau !
Việt bấu chặt tay vào các bao hàng cố gắng dướn người lên. Khôi đẩy phía dưới, chợt nghe Việt kêu :
- Ối !
- Xuỵt, gì thế ?
- Tớ cụng đầu vô trần !
- Nằm xuống đi, và đưa tay kéo tớ lên.
Leo lên được rồi, cả hai nằm nép giữa những bao hàng. Cơn hoảng hốt của họ tan dần, vì nấp sau các bao hàng họ thấy yên tâm được phần nào.
Vừa lúc ấy chiếc cửa sắt rền rĩ trên bản lề, rồi có tiếng chân bước vào… một que diêm được quẹt lên… Tiếp đến những tiếng va chạm lỉnh kỉnh.
Khôi ló đầu nhìn xuống, chiếc đèn bão vừa được người mới vào thắp sáng. Bóng hắn hiện ra trong ánh đèn leo lét. Khôi không thể thấy gì hơn ngoài cái bóng của hắn, của một gã đàn ông. Anh muốn rời chỗ nấp để được thấy rõ hắn hơn nhưng chỉ mới hơi nhổm mình anh đã bị Việt ấn xuống. Gã cúi xuống nắm lấy chân con chó kéo ra cửa. Xác chó chắc cũng khá nặng, nên bóng hắn bật ngửa ra đằng sau và tiếng kéo lê nghe lệt sệt. Mấy phút sau hắn lại trở vào, tay xách một sô nước. Hắn lùi sát vào cuối phòng rồi hắt mạnh sô nước xuống sàn. Nước bắn tung toé cuốn hết những vết lông vết máu ra cửa.
Làm xong công việc ấy hắn có vẻ hài lòng và không buồn nhìn lại chung quanh, hắn xách sô, xách đèn đi ra.
Nằm bên trong, Khôi Việt nghe tiếng chiếc cửa sắt đóng ập lại và tiếng khoá xoay ngoài ổ.
Khôi thở ra nhẹ nhõm. Nhưng Việt, Việt bỗng rên bên tai bạn :
- Chết cha ! Tụi mình bị nhốt trong này rồi ! !...

Chương 2

Các bài đã đăng:
1.   Chương 1
2.   Chương 2 
4.   Chương 4
5.   Chương 5
6.   Chương 6

Chương 02

Vào trong lều, tuy nằm nhưng Việt không ngủ được. Anh nằm ngửa mặt nhìn ra cửa lều. Nền trời đầy sao, lấp lánh như trăm ngàn con mắt đang nhấp nháy từ trên cao nhìn xuống. Không gian vắng lặng, thỉnh thoảng chỉ nghe tiếng lá sào sạc reo vui khi có làn gió thoảng qua.
Xế bên cửa lều, ánh trăng thượng tuần chiếu loáng trên chất kền của hai chiếc xe máy dựa bên thân cây gõ, phản chiếu thành đốm sáng trong khoảng tối mập mờ. Tiếng ngáy của Khôi vang lên đều đều, thỉnh thoảng vấp lại như bị nghẹt. Việt mỉm cười, lần mần tìm một so sánh để ví với tiếng ngáy ngủ của Khôi. Chợt Việt nghe có tiếng lướt nhẹ đâu đây. Tiếng lướt thoảng đến như hơi gió làm khuấy động các ngọn cỏ nghe mỗi lúc một rõ. Dần dần Việt theo dõi được cả hướng tiến của tiếng động đó qua những rung động sào sạc của bụi cây, ngọn cỏ. Việt nổi gai ốc khi nghĩ đến rắn, và rùng mình tưởng tượng một con trăn đang trườn mình bò tới. Việt khẽ nhỏm lên, thò hẳn đầu ra ngoài mép lều quan sát.
Trong bóng tối một bóng đen, nhận định kỹ thì là một bóng chó đang mon men vừa ngửi đất vừa tìm đường. Nó ló ra khỏi bìa rừng và hiện rõ dưới ánh trăng. Hếch mõm lên để tìm phương hướng, bóng chó ngó chiếc lều vải của Khôi, Việt như có ý nghe ngóng động tĩnh, rồi với những bước nhảy rất nhẹ, nó phóng ra bãi cỏ lần vào bụi rậm gần đó. Dưới ánh trăng mờ ảo, Việt thấy con chó khi nó băng qua trước lều. Hai bên sườn nó có đeo hai túi vải đầy bắp buộc chặt vào mình bằng mấy sợi dây da. Tuy mang nặng nhưng nó vẫn nhanh nhẹn lạ thường. Hai túi vải nó đeo bên sườn ép ngã những thân cây mềm yếu, chân nó lướt trên đám cỏ ẩm ướt sương đêm, rồi mất dạng vào bóng tối của rừng cây.
Bóng chó trốn lẩn ấy thoáng vượt mơ hồ qua trước mắt Việt. Anh không tin rằng mình đã nhìn thấy như thế. Tuy nhiên để soát lại xem mình tỉnh thức hay mơ ngủ, Việt lắng tai nghe và đưa mắt nhìn ra khoảng trống mờ mịt. Sát trên mặt cỏ, những con đom đóm chấp chới ánh sáng xanh lét, như để đáp lại những nhấp nháy của các vì sao trên trời. Bên mé rừng, vài bóng chim đêm vỗ cánh chuyền cành, và xa xa vẳng nghe như có tiếng động cơ xe hơi di chuyển trên quãng đường nào đó. Bên cạnh Việt, rõ ràng hơn cả là tiếng ngáy ngủ của Khôi và nhịp thở đều đặn của anh ta. Từng ấy thứ nhận định được trong đêm tối khiến Việt biết chắc mình đang tỉnh.
Chợt Việt giật mình nghe có tiếng súng nổ. Tiếng súng bất thần nổ vang trong đêm khuya thanh vắng vẫn làm cho người nghe xúc động. Tiếng súng tuy xa nhưng cũng khiến cho chim chóc nháo nhác một góc rừng.
Việt nhoài người sát bên Khôi, lay bạn dậy. Khôi càu nhàu :
- Gì thế ? Sao lại đánh thức người ta vào giờ này ? Trời còn tối mà ?
Việt thì thào :
- Im ! Im mà nghe ! Hình như có chuyện đấy !
Chỉ bấy nhiêu đủ để cho Khôi tỉnh hẳn. Anh vùng dậy, theo Việt bò hẳn ra ngoài. Cánh lều và bóng cây gõ gần đấy chìm biến vào đêm. Mảnh trăng thượng tuần đã lặn từ hồi nào.
Khôi nhìn mặt đồng hồ dạ quang đeo ở tay : 12 giờ rưỡi. Như vậy là Khôi đã ngủ được ngót ba tiếng đồng hồ. Thấy Việt lắng tai nghe ngóng, anh cũng bắt chước và nhận ra có tiếng động sột soạt ở mé rừng.
Từ chỗ có tiếng động, một bóng đen nhô ra, một bóng chó đen ngòm, to lớn, hai tai vểnh lên, chiếc đuôi chổng ngược cong như cái dấu hỏi.
Thấy con vật, cả hai anh em đều giật mình, chui vội vào lều, Con chó vừa đi vừa đánh hơi tiến qua lều vải của Khôi Việt không dừng lại. Hình như nó đang mải theo dõi một dấu vết nào. Cả hai thở hắt ra khi nó lặng lẽ đi qua. Nhưng nỗi lo ngại của họ vụt trở lại, không dám tin ở mắt mình khi thấy một bóng người đang âm thầm theo sau con vật. Bóng người đó đi cách con chó chừng mươi thước, ngang hông đeo một khẩu súng lục, đầu hơi cúi về phía trước, để tránh những cành cây thấp.
Đôi bạn đưa mắt nhìn nhau khi bóng người mất dạng sau khoảng tối âm u của rừng cây. Khôi thì thào :
- Một đội viên thương chánh !
Và anh thầm nghĩ : họ đang đi tuần như thường lệ, hay là… Khôi linh cảm như sắp có chuyện gì khác thường xảy ra.
Óc tưởng tượng phong phú của tuổi trẻ, với bản tính ưa mạo hiểm làm Khôi nghĩ ngay đến những cuộc săn đuổi, khám phá, rượt bắt sôi nổi.
Khôi tự hỏi và lưỡng lự với ý định muốn băng mình vào đêm tối với những nguy hiểm bất thần có thể xảy ra.
Việt cũng nghĩ như bạn. Nhưng anh còn nhớ lời căn dặn của cha mẹ trước khi cho phép lên đường : “Phải thận trọng, đừng có làm điều chi dại dột !” nên anh lẩm bẩm tự đặt câu hỏi :
- Có chuyện gì thế nhỉ ?
Khôi nói :
- Một cuộc tuần phòng như thường lệ…
- Nhưng còn con chó. Cậu có thấy nó đánh hơi muốn tìm dấu vết gì đó không ?
- Ồ chắc nó ngửi thấy hơi con cầy, con cáo nào đó…
- Thế còn tiếng súng ?
- Tiếng súng nào ?
- Cậu không nghe tiếng súng nổ à ?
- Không ! Nổ lúc nào ?
- Lúc cậu đang ngủ…
Khôi xốn xang cả người. Anh nắm tay Việt :
- Tụi mình đi chứ ?
Ý kiến của Khôi không làm Việt hân hoan mấy. Anh hỏi :
- Đi đâu chứ ?
- Mình thử rảo quanh một lượt xem.
Nói rồi, Khôi xỏ chân vào giày, bò ra ngoài cửa lều, đứng nhìn quanh.
Đêm vẫn chìm đắm trong vắng lặng. Yên tâm, Khôi tiến lên mấy bước. Việt đã theo sau anh. Dĩ nhiên, không bao giờ Việt để Khôi đi một mình. Anh miễn cưỡng theo bạn, cẩn thận cầm theo cây đèn bấm.
Khôi hít một hơi dài không khí mát lạnh ban đêm, bảo bạn :
- Khỏi cần mang theo đèn đi làm gì. Chúng mình chỉ loanh quanh gần đây thôi.
Và anh tiếp :
- Không khí ở đây “ngon lành” quá ! Cậu có thấy dễ chịu không ?
Mùi thơm của cây cỏ lan toả từ mặt đất, và phảng phất trong các bờ bụi ẩn náu đầy những bông hoa rừng, thoảng ngát một mùi hương lạ.
Việt ngây ngất, có cảm khoái như đang sống trong một bầu không khí thần tiên. Anh không hối tiếc vì đã phải theo bên Khôi, nhưng thận trọng anh lia ánh đèn vào các khoảng bờ bụi tối đen. Những đám cỏ gianh, những lùm cây thấp lần lượt hiện ra dưới ánh đèn. Không có gì khả nghi cả.
Tuy nhiên, sự việc mà cả Khôi lẫn Việt vừa nhìn thấy : con chó đánh hơi dẫn đường cho viên đội thương chánh mò mẫm trong đêm khuya hẳn phải có cái gì bí mật. Nhưng rồi Việt lại nghĩ : đội viên thương chánh ấy nếu có đi rảo vào giờ này thì cũng là bổn phận thường nhật của họ thôi, chưa chắc đã có gì xảy ra. Anh nắm lấy tay Khôi kéo bạn trở về lều viện mọi lý lẽ như anh vừa nghĩ, cộng thêm cớ buồn ngủ khiến Khôi không thể từ chối. Cả hai vừa về tới lều, bỗng nghe có tiếng kêu thất thanh vang động trong đêm. Tiếng kêu của một sinh vật tử thương… tiếp theo là vài ba tiếng chó sủa điên cuồng… Rồi tiếng kêu ngắn của một người thốt lên vì kinh ngạc nhưng kìm hãm lại ngay… Tất cả vẳng lên từ phía đầu con đường mòn đi xuống lòng thung lũng bên chân núi.
Đôi bạn trẻ nhũn người vì sợ. Trong đêm tối họ không nhìn thấy sắc diện của nhau, nhưng chắc phải tái nhợt hẳn đi. Riêng Việt, anh cảm thấy hai hàm răng va vào nhau lập cập, và đôi chân muốn mềm nhũn. Anh phác một cử chỉ hoảng hốt, muốn chui tọt vào lều. Khôi nắm tay bạn ngăn lại :
- Cậu làm gì thế ?
Trong mọi trường hợp, Khôi vẫn chóng lấy lại được bình tĩnh hơn Việt. Anh nghĩ đến tiếng kêu vừa rồi. Có lẽ là tiếng kêu khẩn cấp của một người lâm nạn cần cứu cấp… và Khôi cảm thấy có bổn phận phải hành động ngay.
Tuy sợ, nhưng Khôi vẫn không bỏ qua được tiếng nói của lương tâm thúc dục. Anh thu hết can đảm lại, suy nghĩ một lát, rồi kéo tay Việt, anh nói :
- Tụi mình đi xem !
Cả hai bước rất nhẹ, cố tránh gây tiếng động, lom khom kẻ trước người sau…
Bỗng Khôi ngồi thụp xuống, nói nhỏ vào tai bạn :
- Khoan đã ! Tụi mình chưa biết rõ có chuyện gì xảy ra, nên cần phải đề phòng. Ngay cả con chó với đội viên thương chánh khi nãy. Họ có thể lầm mình với kẻ gian phi và tấn công mình được…
Việt thấy không yên tâm chút nào cả. Anh bàn :
- Hay chúng mình trở về lều ?
- Không ! Mình chỉ cần đi ngược chiều gió là con chó không thể đánh hơi thấy mình được.
Nói đoạn, Khôi nhấm nước bọt cho ướt ngón tay cái. Anh giơ ngón tay ấy lên cao, xem chiều gió. Một phía ngón tay xe lại. Khôi kéo bạn đi về phía ấy.
- Được rồi. Tụi mình đi về hướng này.
Đôi bạn lại im lặng tiến bước, tim đập hồi hộp. Khá lâu, cả hai vướng mắc trong các bụi cây rậm rạp. gai nhọn và cỏ sắc làm sước cả chân tay.
Việt càu nhàu :
- Khéo tụi mình lạc đường rồi !
Có lúc Khôi cũng nghĩ như thế. Làm sao biết được lối đi trong đêm tối, giữa khoảng núi đồi xa lạ? Và làm sao định rõ được nơi có tiếng kêu hồi nãy vọng lên ? Tuy vậy Khôi vẫn cả quyết tiến. Anh nói :
- Thế nào tụi mình cũng tìm ra được cái gì !
Đi thêm quãng nữa, Khôi bỗng lại nằm rạp xuống đất. Việt vội bắt chước bạn.
Trước mặt họ, trên một sườn núi, nổi rõ hình thù vuông vắn của một pháo đài. Trong pháo đài, lọt qua lỗ châu mai thấy có ánh đèn yếu ớt chập chờn…

19/8/12

Chương 1 Bên Đường Biên Giới

Các bài đã đăng:
1.   Chương 1
2.   Chương 2 
4.   Chương 4
5.   Chương 5
6.   Chương 6

 

Chương 01

Nghe tiếng chó sủa dữ dội, Khôi, Việt ngưng lại nhìn. Tiếng sủa rộ lên từ bên sau hàng rào ken bằng dây kẽm gai, vây quanh một căn nhà lụp xụp. Nếu không có bóng hai con chó lực lưỡng, cao lớn đang lồng lộn sau hàng dây kẽm gai và sủa vóng ra khi thấy bóng người lạ, Khôi, Việt đã tưởng căn nhà ấy bỏ hoang, không người ở. Nằm chênh vênh, hẻo lánh trên một ngọn đồi, căn nhà có vẻ như một ngôi cổ miếu, vách tường rạn nứt, long lở cả vôi vữa và mái ngói mọc rêu sô lệch từng mảng, có chỗ để lộ cả sườn nhà.
Thấy Khôi, Việt đi ngang dưới đường, nặng bước đẩy hai xe máy chở đầy hành lý, hai con chó càng có vẻ hục hặc, đua nhau sủa rộ từng hồi.
Khôi lẩm bẩm :
- Hai con chó dữ quá. Giống chó “lài” có khác.
Việt hỏi :
- Chó lài là giống chó gì ?
- À, hồi xưa, ông ngoại tớ có nuôi và gọi thế. Hình như thuộc giống chó lai sói thì phải. Giống này khoẻ mạnh, dữ tợn, và cũng rất khôn lanh…
- Hèn chi chúng không có vẻ thuần thục chút nào…
Hai con chó đôi mắt đỏ ngầu, mép nhe ra để lộ những chiếc nanh nhọn hoắt, vừa sủa vừa chồm lên như muốn vượt qua hàng rào. Nhưng hàng rào khá cao nên chúng rớt xuống, thở hổn hển, và chu lên đau đớn.
Việt nói :
- Hình như chúng bị đói đấy Khôi ạ. Tớ tự hỏi : người chủ nhà này nuôi làm gì tới hai con chó to lớn như thế ? Lấy gì cho chúng ăn ! Và dùng chúng vào việc gì ? Không lẽ chỉ để chúng canh gác ngôi nhà tồi tàn này…
Hai con chó lại vùng lên bám xiêu một quãng rào.
Khôi nói :
- Mong chúng không xổ ra được. Chúng mà ra thì tụi mình có chầu tan xác.
Việt lo ngại :
- Hay mình gọi chủ nhà ra kêu chúng vào ?...
Vừa lúc ấy cánh cửa căn nhà vụt mở. Một cô gái, dáng điệu chểnh mảng, quần áo có vẻ lôi thôi bước ra khỏi nhà, đi men theo vách tường, không để ý đến Khôi, Việt đang ở ngoài hàng rào.
Cô gái vòng ra phía sau, cửa trước nhà vẫn để ngỏ.
Tò mò, đôi bạn liếc nhìn vào. Giữa khoảng tranh tối tranh sáng bên trong, đôi bạn thấy một người đàn ông ngồi trên ghế chống hai khuỷu tay lên mặt bàn. Trên bàn có chai rượu. Gã đàn ông cầm một chiếc ly trên tay. Khi uống, gã ngửa đầu ra sau, dốc ngược chiếc ly trút chất rượu vào cổ họng.
Chợt thấy Khôi, Việt đang đẩy xe đi dưới đường, gã nặng nhọc đứng lên, ra tựa người bên khung cửa, phóng tia mắt đầy nghi ngờ, hằn học nhìn theo.
Khôi, Việt e ngại, vội dấn bước không dám quay cổ lại.
Vượt qua khỏi tầm mắt của gã đàn ông, Khôi Việt đều nói chung lên ý nghĩ :
- Gã đàn ông thật là kỳ cục !
- Hình như hắn muốn doạ nạt mình…
- Chắc hắn là một thợ săn ở vùng này…
- Hoặc một tên khùng bị hàng xóm ruồng bỏ…
- Nhưng còn cô gái ? Phải sống với một người như thế, một bợm nhậu, chắc cuộc đời cô ta đen tối lắm…
- Hay là, ừ, có thể hắn là… một phạm nhân bị biệt xứ, nên đến ẩn náu sát nơi ranh giới, phòng khi thấy bóng cảnh sát thì chuồn lẹ sang bên kia…
- Sao vậy ?
- Thì… nghĩa là… cậu không thấy đây là biên giới Việt Mên đó sao. Dãy núi trước mặt chúng ta có ngôi chùa ẩn hiện sau rặng cây kia là một thắng cảnh thuộc về phần đất của Việt Nam ta. Dãy núi bên kia, phía tay phải, lác đác có những ngôi nhà mái cong, thuộc về đất Cao Mên. Đường ranh giới giữa hai nước có lẽ là lòng thung lũng, khoảng tiếp giáp giữa hai dãy núi, mà đứng đây bị che khuất ta không nom thấy được…
- Thế sao gã đàn ông kỳ dị kia lại không sang tá túc hẳn bên đất Mên có phải ổn chuyện cho gã không ?
- Dĩ nhiên ! Nhưng còn lý do riêng của hắn chứ. Chẳng hạn như hắn là một con người nhiều tình cảm, không muốn rời hẳn quê hương để sang sống nhờ bên đất nước ngoài…
Việt bĩu môi :
- Cậu chỉ hay bày đặt, con người như hắn mà có nhiều tình cảm cái nỗi gì !
Khôi cười :
- Ừ, thì tớ cũng… tưởng ra thế. Bởi tớ nghĩ : con người ta dù ở hoàn cảnh nào làm sao có thể thờ ơ với đất nước của mình được.
- Xì, bây giờ cậu lại triết lý nữa. Thôi hãy dẹp đi để nghĩ đến cuộc cắm trại của mình đêm nay đã. Nếu phải nghỉ lại ở đây, gần căn nhà của gã đàn ông kỳ dị kia với lũ chó dữ tợn của gã, tớ thấy không yên tâm chút nào…
- Tại sao ? Cậu sợ gì ?
- Tớ đâu có sợ, nhưng mà…
- Dù sao, để đề phòng chúng mình cứ thủ sẵn mỗi đứa một cái gậy. Như vậy yên trí hơn…
- Cũng chưa lấy gì làm chắc đâu. Đối với giống chó ấy, khi tấn công nó lanh hơn mình nhiều. Bất thần nó hãy “đợp” cho mình một cú đã.
Khôi không trả lời bạn, lặng lẽ vượt lên tiến vào con đường mòn lởm chởm những sỏi đá, bò theo triền núi Việt khó nhọc theo sau, chân bước chập choạng, hơi thở hổn hển và mồ hôi ướt đẫm áo.
Cả hai lọt vào một cánh rừng âm u rậm rạp.
Đôi bạn kẻ trước người sau, có cảm tưởng như đang tiến sâu vào một đường hầm. Không khí ẩm thấp, nồng nặc mùi cây, cỏ.
Việt vừa thở vừa hỏi :
- Tụi mình dựng lều ở đâu đây, Khôi ?
- Cố gắng lên chút nữa ! Trời mới về chiều, chúng mình còn đủ thì giờ kiếm chỗ dựng lều trước khi trời tối.
Khôi chợt reo lên mừng rỡ :
- Ồ, đây rồi, tụi mình có thể nghỉ lại chỗ này được.
Quả nhiên, con đường mòn đưa đôi bạn ra một khoảng rừng trống. Việt thở phào nhẹ nhõm khi thấy lại nền trời xanh thẫm đang ngả dần sang màu tím của hoàng hôn.
Chỗ này cây cối thưa thớt vì là bìa rừng; một thảm cỏ mịn thoai thoải giữa hai cây gõ mọc cách nhau chừng mươi thước. Đứng đây nhìn xuống thấy rõ lòng thung lũng của dãy núi phía trước, vài làn khói lam vương nhẹ trên mái nhà của thôn xóm phía xa xa, và ngôi chùa đứng biệt lập nơi sườn núi, ngọn bảo tháp vươn mình khỏi lùm cây, vẳng đưa tiếng chuông ngân nga lan nhẹ trong gió chiều.
Khôi đưa mắt nhìn bức tranh tuyệt tác của thiên nhiên xoa tay mãn nguyện :
- Đẹp quá ! Chúng mình cắm trại ở đây thôi…


* * *
Chiếc lều vải được căng lên, ở vị trí Khôi đã lựa chọn. Bữa cơm ngoài trời do hai anh em tự tay nấu nướng không kém phần thịnh soạn. Ăn xong, họ thấy khỏe khoắn trở lại. Cả ngày hôm ấy họ đã vượt sáu mươi cây số bằng xe máy và leo bộ khá vất vả kèm theo cả chục ký hành trang đeo trên vai.
Việt ngả lưng vào thân cây, lôi chiếc kèn Harmonica trong túi áo ra, và nhìn vòm trời lấp lánh ánh sao, thổi một nhịp điệu êm dịu.
Việt vẫn nhỏ thó như vài năm về trước, tuy có cao hơn đôi chút. Cặp mắt đen lay láy với bộ tóc húi ngắn của Việt làm cho gương mặt của anh có vẻ ranh mãnh nghịch ngợm.
Âm điệu của tiếng kèn do Việt thổi lên như lẩn biến vào màn đêm đang buông xuống.
Khôi, đứng trước cửa lều cặm cụi đóng lại chiếc cọc néo cho chắc. Thân hình Khôi rắn rỏi vạm vỡ hơn Việt nhiều. Nhìn Khôi người ta thấy cái sinh lực tràn đầy của tuổi trẻ. Khôi vẫn luôn luôn là một thiếu niên ham hoạt động, gan dạ, ưa xê dịch, thích khám phá, và mạo hiểm.
Tình bạn của Khôi, Việt mỗi ngày một thêm bền chặt. Ở hai người, tuy thân hình đến tính nết đều khác nhau nhưng lại vẫn bổ khuyết cho nhau được. Cái khôn lanh của Việt vẫn đi đôi với cái gan dạ của Khôi, và cái cứng cỏi liều lĩnh của Khôi thường có cái dè dặt suy tính của Việt ngăn bớt lại. Nhưng cả hai hợp nhau ở chỗ thích du ngoạn, ưa khám phá những mới lạ nên hễ có dịp là rủ nhau cùng đi.
Đôi bạn thường rong xe trên các nẻo đường quê hương, mang theo đủ dụng cụ cho một cuộc cắm trại. Chiều đến, họ nghỉ lại bên một giòng suối, hoặc tại một bìa rừng, hay trên một cánh đồng cỏ nào đó. Rồi sáng hôm sau họ lại nhổ trại ra đi trong buổi rạng đông mát mẻ, lòng thảnh thơi, sảng khoái trước cảnh đẹp thiên nhiên.
Mỗi lần có dịp là đôi bạn trẻ xa lánh ngay cái không khí đầy bụi bậm oi nồng của đô thị. Lần này, họ đi về miền tây, ngắm cảnh núi đồi tiếp giáp bên đường biên giới.
Trong mọi cuộc đi, Khôi vẫn thường đóng vai điều khiển. Anh nói như phân giải với bạn :
- Mình cắm lều ở đây, gần hai biên trấn, giữa đồn thương chánh của cả Việt lẫn Mên. Biết đâu chúng mình lại chẳng được dịp chứng kiến một chuyện buôn lậu nào đó không chừng !
Việt nhún vai :
- Lúc nào cậu cũng mơ tưởng có thế ! Chỉ thích những chuyện rắc rối ! Ở đây ngày đêm đều có canh gác cẩn mật. Tháp canh của hai bên đều có ở mọi ngả đường, làm sao còn xảy ra những chuyện “lạ” như cậu tưởng tượng được ?
- Thế cậu xem báo, không thấy thỉnh thoảng có những vụ bắt được những tay “bờ lờ” mang hàng lậu thuế vượt biên giới là gì ?
- Ồ các ông phóng viên nhà báo nhiều khi các ông ấy cũng phóng đại ra cho bài báo có vẻ hấp dẫn vậy thôi.
Tuy nói thế nhưng với bóng đêm mỗi lúc một dầy đặc bao trùm cảnh vật cùng muôn ngàn tiếng côn trùng rỉ rả nổi lên, Việt cảm thấy câu chuyện buôn lậu, giữa cảnh núi rừng trùng điệp này rất có thể xảy ra được…
Cảm nghĩ của Việt chợt bị tiếng nói của Khôi cắt đứt :
- Cậu nghĩ gì mà thừ người ra thế, Việt ?
- À, tớ đang nghĩ vẩn vơ… Như hiện thời thì tớ nghĩ rằng : con đường biên giới này thật là mông lung, huyền hoặc; đó chỉ là một đường do các nhà ngoại giao ấn định và các nhà địa dư vạch trên bản đồ ! Suốt buổi chiều nay chúng ta đã đi dọc theo biên giới. Ngoài những trạm canh rải rác đó đây, cậu có nhận rõ được chỗ nào là của bên này , chỗ nào của bên kia không ?
Khôi tiến lại gần bạn đáp :
- Tất nhiên là khó mà nhận ra được !
Việt tiếp :
- Bên này và bên kia biên giới cũng là một cánh đồng. Bụi cây mọc bên này cũng giống bụi cây bên kia. Hoa màu đều tương tự. Ruộng lúa, con đường đất đỏ với những gò đống, rạch nước v.v… nói đúng ra đều không có quốc tịch. Ngay cả những ngôi nhà mái lá thấp lè tè, hoặc mái ngói mốc rêu đều chẳng có gì phân biệt cả…
Khôi không hiểu rõ bạn định đi tới kết luận nào, sốt ruột hỏi :
- Rồi sao nữa ?
Việt ấp úng :
- À, rồi thôi ! Không sao cả…
Khôi đặt tay lên vai bạn :
- Việt, cậu định giấu tớ điều gì ! Tớ thấy cậu… làm sao ấy !
Việt lắc đầu :
- Không tớ chẳng sao cả… chiều nay tớ chỉ không được sung sức thôi !
- Cậu phải nói thật đi ! Tớ biết cậu chưa nói hết ý nghĩ của cậu…
- Tớ nói thật mà… Nhưng nếu cậu muốn biết rõ hơn thì thú thật với cậu là chiều nay, chẳng hiểu vì sao, tớ cảm thấy không được yên tâm. Có lẽ tại tớ mệt, hoặc vì tại cái… biên giới mập mờ và khó hiểu này…
- Hay tại cậu đã thấy những con chó ?
- Cũng có thể ! Mà thôi đừng nghĩ vẩn vơ nữa hay hơn.
- Phải đấy, theo tớ thì ở đây chẳng có điều gì đáng cho ta lo ngại cả. Đây không phải là lần đầu mà chúng ta cắm lều ở một nơi hẻo lánh. Ngôi nhà có những con chó dữ cũng cách chúng ta khá xa… Tốt hơn chúng ta nên đi ngủ. Cậu sẽ khỏi bị những ý nghĩ viễn vông ám ảnh.
Việt gật đầu, mỉm cười với những ngôi sao trên trời và khoác tay Khôi cùng trở về lều, anh thổi mạnh chiếc kèn cho trổi lên những âm thanh vang vọng vào đêm.

Bên kia Chiếc Cầu

* LOẠI HOA ĐỎ : truyện phiêu lưu, mạo hiểm, trinh thám
* Tác giả : CAM LI NGUYỄN THỊ MỸ THANH
* Nhà xuất bản Tuổi Hoa -1974
* Nguồn : Một Góc Phố (truyện do chính tác giả gửi tặng)

Mọi trích dẫn hoặc đăng lại từ trang này phải chắc chắn nhằm phục vụ hoàn toàn phi lợi nhuận, và ghi rõ "Trích từ nguồn tuoihoa.hatnang "
Tonghopplus giữ bản quyền.

Chương 10

 Các bài đã đăng:

Chương 10 (hết)

Chúng ta không còn là trẻ nhỏ, mà là hai người đã lớn. Phải không Thảo Giang? Đã lớn mới dám yêu nước bằng máu trong tim, bằng cả linh hồn và thể xác. Sơn đã lớn, ở xóm làng này, bên cạnh con rạch nhỏ. Cũng nơi đây, Thảo Giang đã lớn. Con rạch nhỏ chưa có tên. Sơn vẫn còn muốn gọi nó là “dòng sông”. Con rạch nhỏ chảy ra dòng sông lớn, sẽ mang cùng một tên : Sông Vàm Cỏ! Là gì Thảo Giang biết không? Là… Thảo Giang đó! Chỉ một câu giản dị như thế thôi, sao cũng khiến Thảo Giang cảm động?
Buổi sáng đã thức dậy bên dòng sông. Mặt trời mở mắt nhìn lau lách. Thảo Giang nhỉ, ở đây buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều, buổi tối đều dễ thương cả. Dễ thương như gương mặt Thảo Giang trưa nào ngồi trên cỏ xanh, xõa tóc đầy lưng, chiều nào đi ngang cầu phất phơ khăn xanh trên cổ. Sơn tưởng làm dân đen, cuộc đời chỉ có màu nâu, màu đen như áo. Nhưng đến lúc tưởng nhớ, mới thấy thời thơ ấu của ta toàn một màu xanh. Màu xanh của dòng sông, của mắt Thảo Giang, của cỏ, của lúa, của giải khăn trên cổ Thảo Giang, và trên cây dùi sắt oan nghiệt của chúng ta.
Cây dùi sắt! Sơn đã mài nó từ ngày biết thương Thảo Giang. Đáng lẽ Sơn phải dùng nó để hạ cái tên nham nhở trong vườn, nó trở thành khí giới của Sơn mang trong người chờ ngày theo nghĩa quân. Đáng lẽ Sơn phải dùng nó để moi tim giặc, nó trở thành khí giới cho Thảo Giang bày tỏ tình người. Sơn thù ghét nó, nhưng cũng thương nó biết bao! Sơn đã chôn theo cùng với Thảo Giang và cây sáo trúc. Sơn đã thấy, đời vẫy vùng có khi cũng đồng nghĩa với cảnh quạnh hiu. Thảo Giang hiểu gì không? Nghe gì không? Cái hình hài nằm dưới nấm đất nhỏ nhắn kia, bên dòng sông của chúng ta, cạnh cây cầu đã gãy?
Nắng lên đầy xóm thôn tiêu điều. Ở trên mặt nước, nắng làm hiện rõ bóng của chiếc cầu nám đen, cô độc. Ở đây, mỗi một cảnh vật đối với Sơn đã trở thành một di tích nát lòng. Thảo Giang nghe gì không? Tiếng nước! Tiếng nước dưới con rạch, bên chiếc cầu. Tiếng nước kêu gọi Sơn, như đã kêu gọi Thảo Giang đó! Từ khi thầy đồ mất, Sơn bỏ lỡ nhiếu dịp để làm nghĩa quân – Đêm bác Chiêu rời sông, Đại một mình bơi xuồng khua nước ra đi – Buổi chiều sáu người vượt qua vườn Bá Huê – Buổi sáng anh Chương dẫn bạn bè qua cầu, Sơn rắc thuốc súng phá cầu cho giặc khỏi đuổi theo… Đã ba lần không đi theo được. Cái gì đã giữ Sơn lại? Phải là Thảo Giang không? Không phải đâu! Tình làng nước. Tình ruộng vườn. Tình người trong một xóm. Có ai vui sướng khi rời khỏi lũy tre xanh của mình hở Thảo Giang? Sự ra đi là sự lưu đày – đúng như vậy! Cái đoàn người chập chùng, tơi tả, trong đó có mẹ của Sơn, có bà con mình, phải bỏ làng mà đi, đúng là bị lưu đày. Nhưng Thảo Giang ơi! Ta có thể bị lưu đày khỏi quê hương ta, còn tình yêu nước vẫn không thể rời khỏi tâm hồn ta được. Thảo Giang chắc đã nghĩ đến điều đó trước Sơn. Nghĩ như thế nên Thảo Giang mới làm cho bọn phản quốc kinh hãi, làm cho bọn xâm lăng rởn óc, làm cho anh Chương tuôn lệ.
Và riêng Sơn, cho đến sáng nay, khi nấm đất đã lấp đầy cho Thảo Giang, đã nhận ra một điều rõ rệt. Điều đó đã có trong lòng Sơn rồi – từ lâu – nhưng nó bàng bạc lắm, mông lung lắm. Từ lúc Sơn còn là tên mục đồng, cho đến ngày tập tễnh làm thơ phú ở nhà thầy đồ, cho đến ngày vừa làm tên học trò vừa làm người nông dân cầy cấy ngoài đồng… Mà Sơn không nói ra. Cũng không biết gì để nói ra. Đến nay đã biết rõ. Là tình yêu! Sơn yêu Thảo Giang! Sơn dám nói như thế. Không sợ ai nghe. Mà nói với người dưới mộ cũng không sợ lúng túng, không sợ phải ái ngại như khi nhìn Thảo Giang bâng khuâng cắn đứt cọng lúa non. Sơn nói bằng ý nghĩ, không nói bằng lời. Ý nghĩ đó bay quyện vào gió, hòa với linh hồn Thảo Giang phảng phất đâu đây, nhưng cũng đâm vào mắt Sơn, làm Sơn đau nhói. Nỗi buồn lấp đầy mắt, tràn đầy tim. Thảo Giang nằm đó, gần gũi lắm nhưng sẽ xa xôi lắm. Tình yêu! Sơn muốn lặp lại ngàn lần cho Thảo Giang nghe thấy. Nhưng Thảo Giang ơi! Tình yêu đã bắt đầu và đã chấm dứt. Bắt đầu thật dễ thương. Như Thảo Giang ngàn đời dễ thương nằm dưới nấm đất nhỏ. Ở đây nhìn giùm Sơn buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều, buổi tối; ngửi giùm Sơn hương lúa, nghe giùm Sơn tiếng chim. Quê hương đẹp và thơm không đâu bằng.
Khi đứng bên này con rạch, khu vườn Bá Huê bên kia là một màu xanh bí ẩn. Sơn biết khi qua phía bên kia cầu, thì làng xóm bên này trở nên xa lắc lơ và mịt mờ như thời thơ ấu. Sơn sắp qua bên đó, Thảo Giang ạ! Đứng ở đây nhìn qua đó là tương lai. Ở bên kia trông lại bên này là quá khứ. Điều gì đau xót quá! Nhưng cám ơn Thảo Giang, đã cho Sơn một thời lãng mạn.
Buổi sáng thức dậy đã lâu. Nắng đã đi ra đồng. Người thủ lãnh bước xuống giòng nước. Anh Chương đó! Thần tượng Trương Công Định của chúng ta đó! Anh Chương sẽ về vùng “đám lá tối trời” để lập cơ nghiệp, nối tiếp ước mơ. Đoàn người lội qua con rạch. Sơn lội qua theo. Nghe như nước ngấm sâu vào da thịt, vào đến trái tim. Nghe êm ái như đang đi trong đôi mắt dòng sông của Thảo Giang. Nghe nhức xót tê dại như những lằn roi kỷ niệm quất vào người. Sơn nhìn lui. Thảo Giang dễ thương ngóng mắt trông theo bằng giải khăn xanh phất phơ trên mộ cỏ.

Tân Định – Sài Gòn
Tháng Chín 1974
Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Chương 9

 

Các bài đã đăng:


Chương 09

Nắng quái đổ đầy mặt, đâm vào đôi mắt. Sơn tỉnh dậy, nghe cơ thể tê dại. Chiều rực lửa trên cây cỏ, trên đường đất. Ở đàng kia, vẫn còn thấy rõ lắm, cây cầu quỵ xuống dòng sông. Kẻ chiến thắng đang nằm chờ chết. Không gian ngăn cách ở dòng nước kia. Thời gian đằng đẵng như một đời người. Buổi chiều khói lửa thiêu đốt xóm nhà, chỉ cách buổi chiều nay bằng một ngày ngắn, nhưng sao lê thê quá!
− Cho tôi đến gần anh tôi đi! Anh tôi sắp chết rồi sao?
Giọng nói u uất ở trong cõi nào? Dưới lùm cây? Bên rạch nước? Hay ngoài đồng thơm lúa? Sơn nhướng mắt nhìn lại. Cái bóng Thảo Giang xơ xác, vật vờ. Mái tóc xổ ra, lòa xòa trên trán, trên vai, trên lưng. Thảo Giang ngồi xuống trước mặt Sơn. Đôi mắt đỏ hoe nhòa nhạt lệ.
− Anh Sơn ơi! Anh có tỉnh không?
Nước mắt Thảo Giang rớt xuống mặt Sơn. Sơn lắp bắp:
− Thảo Giang đó phải không? Thảo Giang đã khai với chúng nó hết rồi… phải không?
Thảo Giang lắc đầu. Sơn thở phào. Nhưng trong đôi mắt dòng sông kia đang dạt dào sóng. Sơn nhìn kỹ Thảo Giang. Cô bé vẫn còn hiện diện bên ta đây mà! Trong cơn mê vừa rồi Sơn thấy rõ ràng Thảo Giang đã chết. Thảo Giang bị đánh đập, cô bé khai hết những điều bí mật. Nghĩa quân qua cầu, vượt khu vườn của Bá Huê, ra cánh ruộng phèn, tới sông Vàm Cỏ, đi thuyền qua Tân An rồi về Gia Định. Nghĩa quân có khoảng hai chục người, một số khác đã trốn đi trước. Dẫn đầu nghĩa quân có anh Chương, anh Nam, anh Biên và anh Phô. Mấy người kia tên gì không biết. Họ đã đi sáng nay, qua chiếc cầu đó, rạch nước cạn, và anh Sơn rải thuốc súng làm sập cầu. Cho tôi sống! Cho anh Sơn tôi sống! Chúng tôi thương nhau. Chúng tôi quen nhau từ thuở nhỏ. Đuổi theo nghĩa quân đi! Họ đã vượt sông lớn. Để cho chúng tôi ở lại làng. Để cho chúng tôi được sống. Chúng tôi đặt tên cho rạch, sửa tên cho làng. Chúng tôi bắc lại cầu, xây lại nhà, sinh con đẻ cái, sống đời dân quê hiền lành… Thảo Giang nói nhiều lắm! Tiếng nói như kim nhọn xóc vào tai, đâm vào óc. Quân giặc khoái trá đuổi theo nghĩa quân. Sơn uất ức rút cây dùi ra đâm vào tim Thảo Giang, Thảo Giang chết. Mắt nhắm kín gói chặt ước mơ…
Thảo Giang khóc sụt sùi khi nhìn những vết bầm trên mặt Sơn, những chỗ da thịt rướm máu trên tay, trên chân Sơn. Tiếng khóc làm se lòng người. Sơn nói:
− Đừng khóc Thảo Giang! Đừng khai gì hết. Chúng ta sẽ chết ở đây. Thảo Giang chịu không?
Thảo Giang gật đầu. Sơn lại thều thào:
− Thảo Giang sợ chết không?
Thảo Giang lắc đầu, nước mắt chảy như mưa. Sơn thở dài:
− Nói gì đi, Thảo Giang! Sao cứ gật đầu, lắc đầu? Chúng ta sẽ chết ở đây mà!...
Thảo Giang đưa tay gạt nước mắt:
− Giang phải nói gì?
− Thì… thì Thảo Giang nói là…
Đàng kia gã chỉ huy người Pháp đang nói một tràng dài với Tư, Tư bước đến gần Sơn và Thảo Giang, kéo Thảo Giang đứng dậy, nói dõng dạc:
− Một lần chót, tôi hỏi cô bé có khai hay không? Hay là đợi thằng nhãi kia phải chết?
Thảo Giang nghẹn ngào:
− Tôi biết khai gì bây giờ?
Hộ đến bên cạnh, cười gằn:
− Khai đi Thảo Giang. Tụi nghĩa quân đi ngả nào, về đâu?
− Nếu tôi khai, các ông có tha anh tôi không?
− Có! Tha cả nó và Thảo Giang. Hai người sẽ được đi theo chúng tôi, đuổi theo nghĩa quân. Khi chiến thắng, muốn gì cũng có. Muốn về làng cũng được, mà muốn qua Tây khai mỏ cũng được, tha hồ sướng cái thân.
Thảo Giang quay mặt đi như không muốn để những lời xuẩn ngốc kia lọt vào tai. Hộ nói tiếp:
− Còn nếu khai bậy, tìm không được dấu nghĩa quân, cô và nó sẽ bị giết chết.
Thảo Giang đứng thẳng người lên, nói:
− Tôi sẽ khai đúng sự thật.
Hộ cười khoái trá:
− Có thế chứ! Thảo Giang vẽ lại cái bản đồ cho chúng tôi nghen!
− Khỏi cần vẽ, anh tôi còn một tấm bản đồ nữa.
Hai tên phản quốc trố mắt:
− Ở đâu?
Thảo Giang quỳ xuống bên Sơn. Sơn cũng ngạc nhiên vô cùng. Nhưng Sơn chưa kịp nói gì, thì Thảo Giang rút ống sáo trúc trong thắt lưng của Sơn ra. Giọng cô bé xúc động:
− Trong này, tấm bản đồ chỉ đường đi của nghĩa quân đây!...
Bàn tay nhỏ nhắn run rẩy mở dải nơ xanh. Sơn kinh ngạc, nín thở. Trước những đôi mắt vui mừng của đám người trước mặt, Thảo Giang rút cây dùi ra khỏi vỏ sáo trúc. Tia nắng quái cuối cùng biến mất sau rặng tre! Cây dùi giơ lên cao, và đâm mạnh vào bụng Thảo Giang.
Sơn há hốc miệng, không thốt lên được một lời. Tên Hộ, tên Tư lùi lại, kinh hãi. Đám lính đàng sau xôn xao. Gã chỉ huy người Pháp sững người bàng hoàng.
Thân hình mảnh khảnh của Thảo Giang quỵ xuống trước mặt Sơn. Cánh tay đưa ra, chới với như muốn nắm lấy hai tay Sơn đang bị trói quặt phía sau lưng. Sơn nghẹn cả hơi thở. Sơn cứng miệng như người câm. Sơn ù cả hai tai. Sơn không còn cảm giác đau đớn. Chỉ còn thấy trên má Thảo Giang, giòng lệ đã khô lại. Hai mi mở lớn. Giòng sông in bóng xanh ngắt như một thời thơ ấu, rồi đổi thành màu trắng tang thương. Cọng cỏ chỉ đã trôi theo giòng nước.

***
Trước mắt Sơn, những đôi chân bước lại. Hộ cúi xuống, nắm cổ tay Thảo Giang lên. Sau mấy giây im lặng, hắn quay lại nói với Tư:
− Chết rồi!
Và đứng lên nói một câu ngắn với gã lính chỉ huy. Gã này ra lệnh cho đám lính lui ra, tụ tập trước sân nhà. Sơn bị bỏ mặc dưới đất, mở mắt lớn nhìn thi thể Thảo Giang im lìm. Thảo Giang vẫn còn hiện diện bên Sơn đây mà! Có gì khác với Thảo Giang chiều nào đi lên xóm trên, khăn xanh phất phơ trên cổ? Thảo Giang vẫn còn đó bằng mái tóc, bằng đôi mắt, bằng đôi môi ngây thơ. Sơn đâu có giết Thảo Giang như trong giấc mơ ban chiều! Nhưng cũng cái dùi ấy, nó đã làm linh hồn Thảo Giang bay đi mất rồi! Sao ta vẫn chưa chết? Sao ta không ngất đi để được thấy Thảo Giang trong mơ, hát hò trên đồng lúa? Sao ta không khóc được như khi nhìn thấy hình hài của thầy đồ? Cái chết là cái gì, đau đớn hay tuyệt vời? Cái chết là chấm dứt hay là một bắt đầu? Có ai đang trả lời ta đó? Tiếng của bóng đêm đang đổ xuống hay tiếng của giòng sông chuyển mình? Đêm nay nước sẽ lên, đẩy cây cầu đứng dậy. Rùng rợn quá!... Nhưng bây giờ thì nước đã cạn, như nước mắt của ta. Ta nghe lau lách kêu rêu, nghe bìm bịp than thở. Ta sẽ chết đêm nay? Một cái cắn lưỡi, một cái dập đầu…? Sơn quay lại nhìn về phía con rạch. Tiếng động phía đó không phải là ảo giác, mà là sự thật. Đêm đã xuống thật bình yên. Có mấy bóng người nhấp nhô bên vệ đường, nấp sau cây cỏ. Mấy cái bóng đó di động thật nhẹ nhàng, từ phía cầu tới trước ngôi nhà có đám lính Pháp đang tụ tập. Họ đang làm gì? Chỉ có đêm tối biết được. Nhưng họ đang lui lại. Sau một tiếng hô nhỏ, một vùng đã lóe sáng ánh lửa. Khói tỏa mù mịt. Sơn ngửi được mùi thuốc súng, vội vã lăn xuống hố cỏ. Đám lính đàng kia xôn xao, nhưng họ chưa kịp nhận định điều gì, mấy mũi tên lửa đã bắn vùn vụt vào nhà. Căn nhà tranh bốc cháy ngùn ngụt.
Gã chỉ huy chạy được ra ngoài, miệng gào to những lời truyền lệnh. Một bóng người ở bên vệ đường chạy lên, dùng ngọn mác đâm gã nọ ngã gục. Rồi những người khác xáp vào đánh cận chiến với đám lính Pháp. Trong lửa cháy ngùn ngụt, Sơn chỉ còn nghe tiếng hò reo, tiếng la hét rợn óc…
Lửa tàn dần. Căn nhà bị thiêu rụi. Trên mặt đất la liệt những xác người. Đêm trở lại đen tối, yên lặng như không biết những tàn khốc nơi đây. Một bóng đen bước lại gần Sơn. Gương mặt rắn rỏi cúi xuống. Bàn tay tháo gỡ sợi dây trói cho Sơn, nâng Sơn ngồi dậy. Đêm tối làm mờ nét mặt. Nhưng giọng nói quen thuộc cất lên:
− Sơn! Em tỉnh chưa?
Sơn reo to:
− Anh Chương!
− Chương đây!
Sơn đưa tay sờ thấy áo quần Chương ướt sũng. Sơn bùi ngùi:
− Anh đã lội qua rạch?
− Phải. Bọn anh chỉ có mấy người.
− Tại sao anh trở lại?
− Đến sông Vàm Cỏ, anh nôn nao không yên. Toán nghĩa quân hôm trước trở lại, cho hay là họ đã mở đường về Biên Hòa an toàn. Anh cảm thấy bỏ các em ở đây là không phải, nên anh trở lại làng.
Sơn mở to đôi mắt nhìn người nghĩa quân đáng mến:
− Anh tốt với chúng em quá! Nhưng Thảo Giang đi theo chỉ làm bận chân…
− Thảo Giang đâu?
− Thảo Giang bây giờ chỉ muốn ở lại làng. Nó không đòi theo nghĩa quân nữa. Nhưng xin anh, cho linh hồn Thảo Giang theo với.
Chương hoảng hốt:
- Sơn! Em còn bình tĩnh không?
Sơn nói say sưa:
- Cái cọng sắt, em mài thành cái dùi, chờ ngày theo ông Trương Công Định. Cái dùi lận trong lưng, đợi lúc đâm vào tim giặc, lấy lại đất đai. Nhưng em chưa làm gì được, cái dùi đã đâm vào người Thảo Giang… Vì Thảo Giang không muốn cho giặc qua bên kia cầu, đuổi theo các anh. Em đã hiểu lời của anh rồi, anh Chương ơi! Người yêu nước tật nguyền có cái khí giới riêng của họ. Thì Thảo Giang, con gái yếu đuối cũng có khí giới của Thảo Giang.
Sơn lê bước tới bên xác Thảo Giang. Trong đêm tối, chỉ có cây dùi sắt và đôi mắt màu trắng dã sáng lên. Sơn nói:
− Đây nè! Anh Chương! Thảo Giang đây! Không phải là em gái của Sơn. Nhưng chúng em thương nhau hơn cả anh em ruột.
Chương xúc động, bước tới. Đôi mắt Sơn khô khan, giương to nhìn bóng đêm. Nhưng đôi mắt của Chương nhòa lệ. Chương nắm lấy bàn tay lạnh giá của Thảo Giang, tưởng như trong đời chưa có lần chứng kiến cảnh đau lòng như vậy. Sơn nói xa xăm:
− Chúng em chỉ là hai đứa bé còn sót lại của làng. Từ khi thầy đồ mất, chúng em mơ được thấy ông Trương Công Định. Nhưng Thảo Giang đã bỏ mơ ước mà đi.
Chương siết chặt tay Sơn, nói:
− Không! Các em không phải là trẻ nhỏ, mà là hai người đã lớn. Anh khâm phục các em. Anh là người… mà em muốn gặp đây, Sơn!
Trong đêm tối, Chương đứng lên, sừng sững. Con người quen thuộc! Mà cũng là con người thần tượng của Sơn, của Thảo Giang! Không có hào quang vây quanh, không có cẩm bào, không có kiếm báu. Chỉ có ngọn tầm vông, chỉ có tre nhọn làm giáo mác. Và có con tim yêu nước chứa trong manh áo vải thường dân.

Chương 8

Các bài đã đăng:

Chương 08

− Có thật chúng mày ở đây một mình không?
− Nếu các ông không tin, các ông cứ lục soát. Cha mẹ chúng tôi đã chết. Chúng tôi mồ côi.
Tên lính người Việt quay lại nói với bọn người đàng sau một tràng tiếng Pháp. Gã chỉ huy gật đầu. Tên người Việt duy nhất lại hỏi:
− Sao chúng mày không chạy đi?
Sơn lắc đầu:
− Đêm hôm qua, cầu bị quân Pháp phá sập, chúng tôi hết đường chạy. Chúng tôi cũng không biết phải chạy đi đâu.
Gã người Việt đến gần Sơn, vuốt ve:
− Em có thấy nghĩa quân chạy đường nào không?
Sơn ngơ ngác:
− Nghĩa quân … là ai?
− Là mấy thằng mặc áo đen, chống lại quân Pháp và chống lại vua đó!
Sơn lắc đầu khờ khạo:
− Tôi không biết.
Gã người Việt xô Sơn xuống ghế, gằn giọng:
− Không biết. Vậy lúc đánh nhau, chú mày làm gì?
Sơn chỉ tay vào buồng, nói:
− Em gái của tôi bệnh cả tuần nay, tôi mải lo nấu thuốc cho nó.
Gã nọ chỉ tay vào khung cửi, hỏi:
− Cái này của ai?
− Dạ của em tôi. Nó dệt vải…
Gã người Việt quay lại dịch những lời của Sơn cho bọn lính Pháp. Họ gật gù với nhau, ra vẻ tin lời Sơn. Sơn ngồi im, cố gắng tạo nét mặt đần độn. Một tên lính Pháp đến lục soát khắp người Sơn. Hắn cầm ống sáo trúc có cột dây nơ xanh lên, cười khẩy rồi trả lại Sơn. Không có một cái gì khả nghi ở đây. Ngôi làng nhỏ chỉ còn hai đứa bé. Bọn họ từ từ tản mát ra, ngồi nghỉ. Sơn được tự do vào buồng thăm Thảo Giang. Thảo Giang đã thức dậy và ngơ ngác nhìn những bóng người đồ sộ đi qua đi lại trong nhà. Sơn cúi xuống, nói khẽ:
− Lính Pháp đó! Đừng nói nhảm nữa nghen!
Thảo Giang kinh ngạc, lắp bắp:
− Ai? Lính Pháp à? Chúng đã giết mẹ tôi.
Sơn bụm miệng Thảo Giang lại:
− Ngủ đi, Thảo Giang! Đừng để chúng nghi ngờ. Ta vẫn là anh em nhé!
Rồi đắp chăn lên tận ngực Thảo Giang, Sơn đi ra, nói với gã người Việt:
− Bếp ở phía sau, mấy ông cứ tự tiện nấu ăn.
Gã nọ nói líu lo với mấy tên lính da trắng. Bọn họ soạn đồ đạc ra, và theo Sơn đi vào bếp. Sơn chỉ cho họ đống rơm, ra dấu cho họ biết cách đun bếp. Khi rơm đã cháy lớn, khói bốc lên làm ai cũng ràn rụa nước mắt, Sơn đứng im trên nền đất, tay mân mê ống sáo trúc. Sơn thật sự là kẻ bại trận rồi! Khí giới trong tay nhưng chẳng làm gì được. Anh Chương, anh Nam ơi! Anh Biên, anh Phô ơi! Nếu không vướng bận Thảo Giang, Sơn đã theo các anh đi đến tận đâu rồi! Bọn người này sẽ ở lại đây bao lâu? Những ngày sắp tới sẽ nặng nề biết bao!
Sơn trót đóng vai ngu muội, đành ở trong nhà bếp giúp lính nấu bữa cơm trưa. Loay hoay mãi, bữa cơm cũng xong. Một tên lính ở lại canh nồi cơm, còn mấy tên kia kéo ra vườn hái hết cây trái. Sơn thản nhiên làm dấu hiệu để nói chuyện với tên lính Pháp. Lúc Sơn cởi áo ra để lau mồ hôi trên mình, bất chợt một mảnh giấy trong thắt lưng rơi xuống. Sơn giật mình. Đó là tấm bản đồ người nghĩa quân đã cho. Sơn lẹ làng đưa chân hất mảnh giấy vào đống rơm, rồi cúi xuống lượm bó rơm đó đun vào bếp lửa sắp tàn.
Tên lính Pháp đưa tay toan ngăn lại, nhưng không kịp. Lửa đã bén vào rơm, vào mảnh giấy, cháy bùng lên rồi tắt thật mau. Tất cả đã thành tro. Sơn nghe tim đập mạnh. Và khi nhìn sang, thấy đôi mắt của tên lính Pháp xanh rực như hai hòn bi.
Gã chỉ huy được báo cáo tin ấy. Tin được chuyển xuống tên người Việt. Hắn gọi Sơn vào ngay, chất vấn:
− Chú mày đốt miếng giấy gì đó?
Sơn chối:
− Miếng giấy nào? Tôi có biết gì đâu!
Tên lính Pháp líu lo với gã người Việt. Gã này nổi nóng nắm chặt cánh tay Sơn, quát:
− Ranh con, nói thật đi! Mày có bản đồ phải không?
− Bản đồ là gì?
− Giả dại với tao không được đâu. Mày là do thám của tụi nghĩa quân phải không?
− Không! Không! Tôi có biết gì đâu!... Tôi là dân làng này, sống với em gái tôi. Tôi không biết nghĩa quân, không biết bản đồ là cái gì hết.
Có tiếng xôn xao trước cửa. Một người Việt khác xuất hiện, mặc quân phục giống như lính Tây. Gã bên trong lên tiếng:
− Vô trong này, anh Hộ! Có chuyện nhờ anh rồi.
Sơn sững người nhìn kẻ mới bước vào. Đúng là tên Hộ, tên lính “mã tà” của giặc. Hộ oang oang giọng:
− Chuyện gì? Chuyện gì? Nghĩa quân hả?
− Anh nhìn giùm tôi tên này, có đúng là dân làng này không?
Hộ nhìn mặt Sơn, hơi ngờ ngợ, rồi gật đầu. Tên kia hơi dịu giọng:
− Nó ở nhà này một mình với em gái. Nhưng tôi nghi nó là tay trong của tụi nghĩa quân. Mới hồi nãy nó liệng một tấm bản đồ vào lửa để phi tang.
Hộ cười hề hề:
− Có em gái nó à? Em gái đâu?
Hộ bước vào buồng, và gặp ngay Thảo Giang. Hắn lùi lại, rồi quay ra chỉ vào mặt Sơn:
− Nó nói láo! Không phải em gái nó đâu! Cô nhỏ này là Thảo Giang, là…
Sơn la lên:
− Nó là em tôi mà!
Hộ gằn giọng:
− Tao nhận ra mày rồi! Mày là cái thằng nhãi đã đánh tao trong vườn, rồi bỏ chạy, lặn xuống nước. Tao thù mày từ đó tới nay. Mày là cái gì của Thảo Giang?
Sơn cúi gầm mặt, tức tối. Hộ cười khẩy:
− Không cần mày trả lời, tao cũng biết rồi. Tao thương Thảo Giang, nhưng cha nó theo nghĩa quân. Cả mày nữa, để mày sống mày cũng theo tụi nó nốt.
Gã kia ngăn lại:
− Khoan! Đừng nóng, anh Hộ. Nếu nó là người của nghĩa quân, chúng ta phải khai thác nó để biết bọn kia chạy đi đâu, làm cái gì?
− Tôi muốn giết nó.
− Thù riêng của anh sẽ tính sau. Bây giờ tôi muốn biết có cái gì trong tấm bản đồ của nó.
Sơn lắc đầu:
− Tôi đã nói không có bản đồ gì hết.
Gã nọ cười nham hiểm:
− Có hay không, đánh cho đau rồi mày sẽ khai.

Những cái đá liên tiếp quật Sơn ngã xuống nền nhà. Sơn choáng váng. Gót giầy cứng của tên Hộ giáng lên đầu Sơn những cú đau điếng. Sơn cắn răng chịu trận. Con hổ đã sa lưới, cựa quậy càng thêm đau. Sơn nhắm mắt lại. Trong trận vũ bão đổ lên mình, Sơn tưởng tượng có đoàn nghĩa quân chạy qua làng. Họ đứng lại trước cửa, và xông vào giải cứu Sơn bằng những giáo mác của họ. Nước non thênh thang, mịt mù quá! Họ đã qua rồi, không trở lại đâu! Sơn mím chặt đôi môi, tự nhủ mình sẽ không tiết lộ điều gì hết. Đã không theo chân được đoàn nghĩa quân, thì cũng không bắc cầu cho giặc qua sông đuổi họ. Sau một cái đá làm tối tăm mặt mày, Sơn nghe tiếng Thảo Giang rú lên trong buồng:
− Làm gì vậy? Ai đã giết mẹ tôi? Cho tôi theo với, gặp cha tôi với! Mấy anh nghĩa quân ơi!...
Tiếng kêu mịt mờ, xa xăm, nhưng đã làm cho trận vũ bão dừng lại. Gã người Việt nhìn vào buồng, thắc mắc:
− Con bé nói cái gì?
Hộ sáng đôi mắt lên:
− Nó nói mẹ nó chết, cha nó theo nghĩa quân. Anh Tư, chắc nó biết đường đi của nghĩa quân.
Gã tên Tư, quay lại thông dịch với đám lính Pháp. Họ trao đổi với nhau những câu líu lo. Sơn nằm gục dưới đất, đầu vẫn còn tỉnh táo nhưng linh cảm cho thấy con đường đang đi đã tới một ngõ cụt.
Sau một câu nói dõng dạc của gã chỉ huy, tên Tư bảo tên Hộ:
− Ổng ra lệnh đem con bé Giang ra tra hỏi.
Sơn giật mình nhìn lên. Trong đôi mắt hoa mờ vì mấy cú đá, Sơn thấy tên Hộ lôi Thảo Giang từ trong buồng ra.
Thảo Giang bị đặt ngồi trên ghế. Tên Tư ngon ngọt hỏi:
− Nè, cô bé, biết nghĩa quân đi trốn bằng ngõ nào không? Nói đi, tôi thưởng cho!
Thảo Giang mở to đôi mắt lên, nói xa xăm:
− Cái gì? Ai hỏi gì vậy? Mệt quá!
Tên Tư cúi xuống gần:
− Nghĩa quân đi đường nào? Nói đi!
− Hở? Nghĩa quân gì?
− Cha của cô đó!
− Cha tôi hả? Cha đi xuồng ra biển đông, đem súng về giết mẹ… Mẹ chết, máu trong đầu chảy ra. Anh Sơn ơi! Sợ quá!...
Hộ nhăn mặt:
− Nó điên chắc?
Tên Tư giơ tay tát mạnh Thảo Giang. Chiếc thân yếu ớt ngã xuống.
Sơn kêu lên:
− Em tôi bệnh, nó nói sảng. Các ông đừng làm nó sợ.
Hộ nói:
− Con bé nóng lắm, anh Tư!
− Nhưng ít ra nó cũng còn trí óc để khai sự thật. Tôi có cách bắt tụi nó phải khai. Anh Hộ, anh biết tụi nó không phải anh em ruột?
− Con bé Giang không có anh em gì hết. Còn thằng nhãi này là người yêu của nó.
Tên Tư gật đầu, rồi quay qua nói một tràng với đám lính phía sau. Hai tên lính to lớn tiến đến, lôi Sơn ra đường. Tên Tư và tên Hộ xốc Thảo Giang dậy, đi theo.
Dưới ánh nắng chói rực của buổi trưa, Sơn bị trói gọn bỏ nằm trên đường đất. Thảo Giang bị bắt ngồi dưới một gốc cây. Gã chỉ huy người Pháp cho Thảo Giang uống một viên thuốc giải nhiệt, rồi ngồi ở đó, ra lệnh cho Tư và Hộ đánh đập Sơn. Thảo Giang kinh hoàng nhắm mắt lại, rên rỉ:
− Sao đánh anh tôi? Ác độc quá!...
Hộ nói:
− Thì Thảo Giang nói đi, nghĩa quân đi ngõ nào? Có bao nhiêu đứa? Chúng nó sẽ về đâu?
Thảo Giang ứa nước mắt:
− Tôi là dân quê dốt nát, làm sao biết được chuyện ấy?
− Đừng có cứng đầu nghen cô bé! Nói đi, rồi ta cho thằng Sơn được yên thân.
Sau tiếng rú thảm thiết của Sơn. Thảo Giang bật khóc:
− Trời ơi! Đừng đánh nữa! Nghĩa quân đi theo… ngả…
Tiếng nói yếu ớt im bặt. Tên Hộ trố mắt nhìn, rồi nói:
− Nó ngất xỉu rồi!
Ở đàng kia, Sơn cũng rũ mềm người.

 

Chương 7

Các bài đã đăng:

Chương 07

Một nắm rơm được đùn thêm vào lò. Khói tỏa lên làm nước mắt Sơn chảy ra. Trên bếp lửa, nước bắt đầu sôi, lôi cuốn những hạt gạo rang vàng chạy theo đường vòng tròn.
Tiếng nói cất lên sau lưng Sơn:
− Em dậy sớm vậy Sơn?
Sơn đưa tay quẹt nước mắt, cười với người mới có mặt:
− Dạ, em dậy đã lâu. Em rang gạo nấu nước cho Giang nó uống.
− Cô Giang sao thế?
− Thưa anh, suốt đêm nó bị nóng sốt, nói sảng luôn. Em không ngủ được, phải ngồi dưới chân giường.
Người đàn ông tên Chương ái ngại:
− Cô ấy bệnh à?
− Dạ. Chắc là hôm qua thấy cảnh loạn lạc nó sợ hãi đó anh!
Chương ngồi xuống bên Sơn. Một lát, người ấy cũng dụi mắt, nói:
− Đun lửa bằng rơm là phải khóc suốt cả buổi Sơn nhỉ?
− Dạ. Em con trai, nên mẹ em ít cho nấu nướng. Mẹ em “khóc” thay cho em.
− Thế còn cô bé Giang?
Sơn cười:
− Nó còn dại lắm, chỉ biết thêu thùa. Mẹ em cưng nó hết sức.
− Con gái dễ xúc động. Chắc bà chạy đi, cô ấy nhớ nên sinh bệnh.
Sơn nhắm mắt lại, tưởng như trước mắt còn rõ rệt cái cảnh mẹ Thảo Giang nằm in lìm trên vũng máu. Hai má Sơn ướt đẫm lệ. Sơn đưa tay chùi ngang. Rơm rạ cháy lùng bùng trong lò, khói vẫn xông lên…
− Sao hôm qua hai em không chạy theo mẹ?
− Hai đứa em còn ở ngoài ruộng, lúc về đã thấy đoàn người tị nạn chạy xa. Chúng em tìm mẹ không thấy. Chắc mẹ đã qua sông.
Chương lắc đầu:
− Thật tội nghiệp. Anh đã đi qua nhiều nơi, thấy ở đâu cũng một lòng như vậy. Dân chúng hễ thấy có giặc Tây đến, là bỏ làng mà đi theo nghĩa quân. Có nơi quyết không để cho giặc có gạo mà ăn, nổi lửa đốt rụi cả cánh đồng.
Sơn đứng lên, nói:
− Anh ra ngoài vườn cho khỏe. Nước sôi lâu rồi.
Hai người ra khỏi nhà bếp. Sơn vươn vai cho những khớp xương kêu răng rắc, nói:
− Cái làng nhỏ bé của em cũng một lòng như vậy.
Chương cười trầm ấm:
− Em còn nhỏ, mà nói nhiều câu thật cương quyết.
− Chúng em biết chuyện dân ta kháng chiến từ sau khi thầy đồ của chúng em mất. Hình như thầy em có biết ông Trương Công Định. Nhưng em chưa kịp nghe thầy em tả ông ấy…
Chương có vẻ chú tâm vào câu chuyện lắm. Sơn bùi ngùi:
− … thì thầy em qua đời.
Chương thở dài, giọng cảm động:
− Thầy đồ của em tên gì?
− Cả làng chỉ một mình thầy là có học. Ai cũng gọi thầy là thầy đồ Hưng.
Chương lẩm bẩm:
− Thầy đồ Hưng…
− Anh có quen thầy đồ Hưng không? Thầy em già lắm, khi chết thọ bảy mươi tuổi.
Chương lắc đầu:
− Không. Anh chỉ quen với thầy Đồ Chiểu. Hai người là bạn thân. Nhưng anh theo nghĩa quân, còn bạn anh vì mù mắt nên không xông pha như anh được. Nghe em nhắc thầy em, anh lại nhớ bạn mình. Người tật nguyền yêu nước có cái khí giới riêng của họ.
Rồi Chương cúi xuống, lẩm bẩm một mình:
− “Ngoài cật một manh áo vải, trong tay một ngọn tầm vông. Gươm đeo bằng lưỡi dao phay, hỏa mai bằng rơm con cúi…”
Sơn lạ lùng hỏi:
− Anh nói gì vậy?
− Không. Anh đang nhớ những lời thơ mà bạn anh thường đọc.
Sơn thở dài, quay vào bếp, trút nước gạo ra chén. Khi trở ra, thấy Chương đang vịn tay trên cành cây, mắt nhìn đăm chiêu qua những kẽ lá. Sơn khe khẽ bước lên nhà, vào bên giường Thảo Giang. Cô bé nằm ngủ thiêm thiếp, thở mệt nhọc như người bệnh đã lâu ngày. Sơn đặt chén nước xuống, gọi nhỏ:
− Thảo Giang! Dậy đi Thảo Giang!
Đôi mắt đầy kinh hoàng he hé mở ra. Cái tròng trắng đã đỏ ngầu. Trán Thảo Giang nóng như lửa đốt. Thảo Giang mấp máy môi:
− Mẹ! Mẹ đâu rồi?
Sơn trấn tĩnh cô bé:
− Mẹ đã chạy theo dân làng, yên ổn rồi!
− Không! Mẹ đã chết rồi sao? Con thấy rõ mẹ nằm trên đất. Phải người ta bắn mẹ bằng súng không?... Đầu mẹ tan nát… Mẹ ơi!...
Thảo Giang bật khóc nức nở. Sơn tê tái quỳ sững ở chân giường. Nam đứng ở cửa buồng hỏi:
− Cô ấy nói gì lạ vậy Sơn?
Sơn trót đã nói dối, phải nói dối luôn để khỏi mất lòng tin ở những người nghĩa quân, nên cố gắng giải thích:
− Em gái em nó bệnh, nói sảng anh à.
Rồi quay qua Thảo Giang, Sơn bảo:
− Giang! Uống miếng nước gạo nè em. Đêm qua em mơ thấy gì mà nói kỳ lạ vậy?
Thảo Giang giương đôi mắt lờ đờ mệt mỏi, nói líu ríu:
− Mẹ có chạy thoát không? Sao tôi thấy mẹ nằm sóng soài trên đất? Lửa đỏ ngụt trời, ghê rợn quá! Cho em qua sông, theo nghĩa quân với! Em muốn gặp cha… Cha em đã bỏ làng mà đi. Chắc cha em đã chiếm lại được nhiều đất. Nhưng mẹ chết rồi cha ơi!... Cha chưa có con trai…
Sơn hoảng hốt:
− Giang! Nói bậy không thôi! Uống nước gạo đi, cho hạ bớt nhiệt.
Cô bé vẫn thều thào:
− Cha chưa có con trai… Con rạch cũng chưa có tên… Cái làng này sẽ tiêu tan. Em muốn đi qua cầu, vào vườn Bá Huê, qua đồng phèn thiếu nước…
Sơn nâng đầu Thảo Giang lên, cố gắng đút cho Thảo Giang từng ngụm nước gạo. Nam đến gần, hỏi nhỏ:
− Sao cô Giang biết những nơi đó?
Sơn đáp:
− Chúng em đã có qua một lần, nhưng chỉ đến ruộng phèn, rồi phải quay trở lại.
Sơn lấy tấm bản đồ ra, nói:
− Mấy người nghĩa quân cho em mảnh giấy này.
Nam nhìn chăm chú, rồi reo lên:
− Bọn anh cũng có.
Sơn chỉ tay vào tấm bản đồ:
− Em biết rồi! Qua khỏi làng em bằng ngõ vườn Bá Huê, các anh sẽ tới sông Vàm Cỏ mau nhất. Rồi các anh đi Tân An, phải không?
Nam gật đầu:
− Sáng nay bọn anh sẽ đi.
Sơn giật mình:
− Ngay sáng nay?
− Không chần chờ gì được. Quân Pháp đã đến đây, chắc chúng chưa đi đâu xa.
− Các anh đi bằng ngã cầu?
− Phải.
Sơn bàng hoàng, nhìn lại Thảo Giang. Đôi mi mắt đang khép kín dòng sông. Sơn vụt chạy ra vườn sau, gọi:
− Anh Chương! Anh Chương! Phải sáng nay anh bỏ làng này mà đi không?
Chương quay lại:
− Ai nói với em thế?
− Anh Nam.
− Không phải bọn anh bỏ làng, mà là rút đi để kiểm điểm quân số, tu bổ lại binh đội, để tiếp tục chống Pháp. Sơn muốn theo bọn anh không?
Sơn ngơ ngác:
− Theo các anh?...
Chương cười:
− Thì em đã nói em sẽ theo nghĩa quân?
− Dạ, nhưng mà…
Sơn ấp úng:
− … Thảo Giang đang bệnh, làm sao đi?
Sơn buồn bã sờ lên cọng sắt giắt nơi lưng. Ta yêu cái dùi này lắm! Bao ngày qua ta đã mài cho nhọn, đợi dịp làm quân thù vỡ mật. Nhưng ta cũng yêu quý Thảo Giang vậy. Thảo Giang đã ở lại xóm làng này với ta, thì tại sao ta muốn bỏ Thảo Giang mà đi?
Thấy Sơn im lặng, Chương hỏi:
− Nghĩ gì đó, Sơn? Em có đi theo bọn anh không? Còn cô bé Giang?
Sơn cúi đầu:
− Chắc em phải ở lại. Thảo Giang như thế làm sao đi được? Theo các anh nó sẽ làm vướng chân.
− Rồi lỡ quân Pháp đến?
− Em sẽ giả làm kẻ ngu đần.
Chương ái ngại nói:
− Anh thấy không yên lòng chút nào.
− Các anh cứ đi. Em lỡ dịp này, sẽ còn dịp khác theo nghĩa quân, miễn là… em không xa Thảo Giang.
Nói xong câu ấy, Sơn cảm thấy bồi hồi. Chương vô tình, đâu biết được sự liên hệ xa xôi mà rất đỗi khắng khít của Sơn với Thảo Giang, chỉ ngỡ đó là tình máu mủ. Sơn nói cương quyết hơn:
− Xin anh đừng lo cho chúng em. Vườn nhà còn cây trái, hũ gạo còn đầy, chúng em sống chờ dân làng về. Biết đâu… có ngày em sẽ gặp ông Trương Công Định…
Chương siết vai Sơn trong cánh tay rắn chắc của mình, nói:
− Căn cứ Gò Công vỡ, ông ấy chỉ còn đám tàn binh. Nhưng… chắc ông ấy sẽ qua đây.

Đám người bên trong đã sửa soạn xong khí giới và hành trang. Chương trở vào, kiểm điểm mọi thứ. Bọn họ sắp lên đường! Sơn đứng lặng trước những người nghĩa quân oai dũng. Cái hình ảnh mà ta mơ ước là đây. Ta cũng dễ dàng trở thành như họ. Nhưng tại sao, ta đã lỡ mất nhiều dịp để làm nghĩa quân? Đêm bác Chiêu rời sông nhỏ, Đại bơi xuồng một mình đi lập cuộc đời mới – Buổi chiều sáu người nghĩa quân vượt qua vườn Bá Huê – Đến nay, buổi sáng các anh Chương, Nam… dẫn bạn bè ra đi. Đã ba lần không đi theo được. Cái gì đã giữ ta lại? Người mẹ góa? Mảnh vườn xác xơ? Cánh đồng lúa thơm ngát? Cô bé yêu thương mà ta đã tưởng như hai cuộc đời gắn chặt? Hay vì sự ra đi khỏi nơi chôn nhau cắt rốn là đồng nghĩa với sự lưu đày?...
… Sơn cũng đứng lặng như thế, khi theo chân đoàn nghĩa quân ra bờ rạch. Đoàn người dừng chân lại. Một khoảng thời gian bùi ngùi khiến người ta nghe rõ tiếng lau lách khua động dưới chân. Chương cảm động đặt tay lên vai Sơn, nói:
- Cám ơn hai em đã cho bọn anh tá túc một đêm. Anh mong sẽ gặp em một ngày không xa, trong đoàn nghĩa quân của anh…
Nam tiếp lời:
− Và của anh.
Biên cố gắng vui vẻ:
− Của anh nữa.
Sơn cúi đầu, chỉ biết dạ nhỏ. Chương ra hiệu cho bạn bè lên cầu. Bỗng Sơn vừa nghĩ ra một điều gì. Sơn nhanh gót bước theo, kêu:
− Anh Chương! Khoan đi!
Chương dừng lại, ngạc nhiên:
− Chuyện gì vậy, Sơn?
− Anh… anh làm ơn cho em xin một ít… thuốc súng.
Chương trố mắt:
− Sao em biết?
Sơn ấp úng:
− Xin lỗi anh… vì đêm hôm qua em thức coi chừng Thảo Giang, tình cờ nghe anh nhắc đến bao thuốc súng. Xin anh cho em một ít để phòng khi cần dùng.
Chương bảo một người bạn đưa bao thuốc súng cho Sơn, rồi nói:
− Cẩn thận nghe Sơn! Cái này bọn anh cướp được của Pháp đó!
− Cám ơn anh.
Đoàn người rầm rập bước qua cầu. Khu vườn bên kia không còn ai canh giữ nữa, đã trở thành một ngõ vườn hoang. Sơn đứng đó, nhìn mãi… cho đến khi người cuối cùng lẩn màu áo vào màu cây xanh, Sơn quay lưng trở về. Ở đầu cầu, Sơn dừng lại, mở bao thuốc súng, rắc đầy những tấm ván, rắc xuống chân cầu, rồi chạy đi tìm hai mẩu đá lửa. Sơn quẹt lửa châm vào một nùi cỏ khô đã bó chặt. Nằm bên kia con đường đất, Sơn quăng mạnh nùi cỏ khô vào. Thuốc súng gặp lửa nổ bùng, lóe sáng ngời. Sơn nhắm mắt lại, nghe những tiếng kỳ lạ như sấm chớp, như mưa rơi, như tiếng kêu than của chiều loạn lạc chưa quên… Khi những tiếng ấy không còn, Sơn mở mắt ra, nhìn qua chiếc cầu. Chiếc cầu đã cháy nám đen phân nửa, và quỵ xuống con rạch. Sơn thở phào, nhìn dòng nước vẫn lặng lờ xuôi chảy sau phút dao động, không biết lòng mình buồn hay vui.
Sơn thất thểu bước về. Đường đất mới hôm nào vui rộn tiếng chân, bây giờ như ôm chặt nỗi buồn. Làng xóm vắng ngắt không còn một ai. Ai sẽ trở về? Hay giặc sẽ tới? Đoàn người di chuyển bằng chân, khỏi lo bị rượt đuổi. Cây cầu đã gãy. Trên bến sông, thuyền cũng không còn một chiếc. Sơn mỉm cười một mình, nụ cười giống như cái khóc mếu. Từ phút này, Sơn vừa là kẻ chiến thắng, vừa là kẻ bại trận, vừa là một kẻ cô đơn.
Sơn bước vào nhà, càng mủi lòng thêm khi nhìn thấy khung cửi của mẹ. Trong buồng, Thảo Giang vẫn ngủ thiêm thiếp. Sơn ngồi bệt xuống đất, rút cái dùi và ống sáo trúc ra. Tẩn mẩn, Sơn đặt hai vật đó cạnh nhau. Ống sáo dài hơn cái dùi một khúc. Nghĩ đến bài sáo chiều nào xa lắc nghe Đại thổi buồn não ruột, Sơn ngậm ngùi thương cho mình đang ở lại một khung cảnh quạnh hiu. Cái dùi! Chí vẫy vùng - Ống sáo! Đời ủy mị. Sơn cúi xuống ôm đầu, nghe trí óc rỗng tuếch.
− Anh Sơn!
Tiếng Thảo Giang yếu ớt, loãng như nước. Sơn chưa ngẩng lên, Thảo Giang gọi nữa:
− Anh Sơn! Anh khóc đó phải không?
Sơn nhìn gương mặt Thảo Giang bằng đôi mắt khô, lắc đầu:
− Anh đâu có khóc.
− Họ đi rồi phải không?
Sơn gật đầu:
− Ừ, họ đi rồi… Thảo Giang ngủ đi!
Cô bé giương đôi mắt đỏ hoe:
− Sao anh Sơn không đi theo họ?
− Anh đi theo họ, bỏ Thảo Giang ở lại sao?
Thảo Giang nhắm mắt lại, lẩm bẩm:
− Hai đứa mình đâu phải là anh em thật.
Sơn đưa tay sờ lên trán Thảo Giang nóng hực, nói nhỏ:
− Nhưng anh thương Thảo Giang hơn cả tình anh em.
Đôi mắt mở ra, long lanh giọt lệ. Màu mắt đã thành màu chiều tắt nắng.
− Anh Sơn lại ngắm cái dùi, phải không?
− Ừ, anh đang suy nghĩ làm sao để giấu cái dùi này, rủi giặc đến chúng vẫn không biết được là mình thủ khí giới.
− Dễ quá! Cái ống tre kia, anh bỏ cái dùi vào.
Sơn cầm ống sáo trúc lên, gật gù. Rồi Sơn nhét cái dùi vào ống sáo. Thảo Giang rút trong lưng ra một chiếc khăn xanh, nói:
− Cái khăn này, từ ngày để chế bác Đồ, Giang không quàng cổ nữa. Anh cột vào đầu dùi đi!
Sơn xé nửa chiếc khăn theo chiều dọc, rồi cột một đầu dùi thật chặt. Sơn cho đầu nhọn vào ống sáo, thắt nốt sợi vải xanh bên ngoài ống sáo thành một cái nơ. Thảo Giang ngắm nghía, gượng cười:
− Đố ai mà biết trong ống trúc có một vật rất bén. Anh Sơn giắt vào lưng đi!
Sơn làm theo như vậy, rồi đứng thẳng người lên, hỏi:
− Anh có giống người thổi sáo không?
− Người thổi sáo nào?
− Trương Chi.
− Không. Anh cao lớn, vạm vỡ… Anh oai như một nghĩa quân.
Sơn thích thú:
− Anh có giống ông Trương Công Định không?
− Hơn thế nữa.
Thảo Giang cười mệt nhọc, gương mặt đỏ hồng như người đang ở trong bếp. Sơn lo lắng:
− Thảo Giang mệt lắm. phải không?
Cô bé lắc đầu;
− Giang không cảm thấy gì hết. Mới rồi, Giang lại thấy mẹ Giang về đứng ở đầu giường.
− Thảo Giang đã mê sảng rồi!
− Mẹ Giang khóc, đòi đem Giang đi theo. Mẹ chết ghê khiếp quá! Anh Sơn ơi! Giang muốn đi qua cầu, vào vườn Bá Huê, qua đồng phèn thiếu nước.
Sơn quỳ xuống, nói:
− Thảo Giang! Em có tỉnh không?
− Làng nhỏ này sẽ tiêu tan… Con rạch chưa có tên. Chưa ai đặt tên cho nó, thì mình đặt tên vậy. Giống như sông Vàm Cỏ… Thảo Giang!
Sơn không biết phải làm gì, tưởng như mình cũng lênh đênh trong cơn khủng hoảng của Thảo Giang. Đôi mắt cô bé lờ đờ mất thần. Sơn biết gọi ai, nhờ ai? Sơn chạy ra nhà ngoài. Ánh nắng buổi sáng chiếu vào cửa, in một mình chiếc bóng khung cửi cô độc. Sơn đã thành kẻ tuyệt vọng. Sơn muốn gọi một ai đó. Sơn muốn làng thôn có kẻ trở về… Một cái bóng in trên nền đất. Có phải mẹ đã trở lại không? Có phải anh Chương không? Sơn ngước lên, mở to đôi mắt. Bộ quân phục quen quen hôm qua Sơn đã thấy trên đường làng. Cái bóng người to lớn. Gương mặt trắng đỏ và đôi mắt xanh lơ làm Sơn đứng sựng, chết điếng…
  

Comment

Translate