Quyền Năng Của Tâm Hồn Biết Ca Ngợi : Chương IV - Phần 2
Một Kitô hữu có một người chồng nghiện rượu từ nhiều năm qua. Một hôm người đàn ông này gặp khó khăn với công lý và bị ở tù. Người vợ phải cố gắng tranh đấu để có thể nuôi mấy đứa con với số tiền phụ cấp quá ít ỏi của Nhà Nước. Bà ta chăm chỉ đưa con đi nhà thờ và bà được cộng đoàn tín hữu mến yêu, kính trọng. Các bạn của bà nói: Tội nghiệp chị E. chị nuôi con một mình và không bỏ một ngày Chủ Nhật nào, cũng không bao giờ than van, còn ông chồng vô tài, bất tướng của chị thì không bao giờ làm việc gì cả mà lại say sưa tối ngày. Anh ấy làm cho gia đình mất thể diện và xấu hổ.
Bây giờ chồng chị đã bị tù. E. nghĩ rằng mình có đủ lý lẽ để xin ly dị. Như thế chị có thể nuôi con xa ảnh hưởng xấu của cha nó.
Một hôm chị nhận được món quà, đó là quyển sách Từ nhà tù đến ca ngợi.
Đối với E. thật khó lòng mà cảm tạ Chúa vì những năm nghèo túng, đói rách vừa qua. Nhưng khi đọc lại, chị thấy sự ca ngợi đã thay đổi nhiều cuộc sống, và chị quyết định cũng làm thử .
Chị bắt đầu cầu nguyện: Xin cảm tạ, vì A. đã nghiện rượu. Xin cảm tạ vì những năm nghèo túng, đau khổ và cô đơn đã trải qua. Chẳng bao lâu, chị nghe tin chồng đã ra tù và trở lại uống rượu. Nhưng chị vẫn tiếp tục cảm tạ ơn Chúa.
Dần dần chị khám phá một số sự kiện trong đời chị mà chị không hề ý thức. Trong khi tiếp tục cảm tạ Chúa cho chồng chị, xin Chúa giúp chị chấp nhận và yêu thương chồng, chị bỗng nhận thấy mình phạm một lỗi rất nặng, nặng hơn cả tật nghiện rượu: ấy là chị đã quen nhìn thấy cọng rơm trong mắt anh ấy mà không nhìn thấy cái xà trong mắt mình. Chị đã phê phán anh ấy, vì anh ấy nghiện rượu. Chị tự xem như tốt hơn và xứng đáng hơn chồng, rồi chị cảm thấy thương mình, tự cho mình là người chịu bao đau thương để rồi đi đến sầu muộn và thất vọng trong nhiều năm. Cuối cùng, chị quỳ xuống và kêu: Lạy Chúa, con ý thức rằng tội con còn nặng hơn tội của chồng con. Chúa đã dạy chúng con phải yêu nhau và biết vui mừng khi bị thử thách. Con đã không yêu, con cũng không tìm thấy niềm vui; Xin Chúa tha lỗi cho con. Con cảm tạ Chúa đã cho anh A . làm chồng con để cho con có thể nhìn thấy con người thật của mình. Xin Chúa cũng tha tội cho A. Xin Chúa chữa lành những khổ đau của anh ấy và xin Chúa hãy lấy tình thương của con Chúa mà chạm đến anh ấy.
Từ ngày đó, chị cảm thấy vui vẻ dễ dàng trong mọi hoàn cảnh. Chị biết rằng Chúa đã cho phép tất cả mọi hoàn cảnh này để cuộc đời chị tràn đầy tình thương và niềm vui. Dần dần, trong lúc chị cầu nguyện ca tụng Chúa, những cảm giác thương hại mình và những nỗi thất vọng chán chường tan biến hết.
Mỗi ngày, chị lại có một kinh nghiệm mới mẻ và rất vui, chị ý thức sâu sắc, sự hiện diện của Đức Giêsu trong đời chị.
Sau đó ít lâu, chồng chị, không hiểu tại sao, đi dự một buổi họp trong một thánh đường. Anh nhận Chúa Giêsu như Đấng Cứu Độ của anh và được thoát khỏi mọi sợi dây ràng buộc đã trói chặt anh từ 15 năm nay. E. và A. trở lại chung sống, xây dựng lại tổ ấm gia đình. Và A. ghi tên học Kinh thánh để bắt đầu một cuộc sống mới phục vụ Thiên Chúa.
Vì tình thương, Thiên Chúa có thể dùng một mối liên hệ khó khăn giữa hai người, hoặc nhiều hoàn cảnh cực khổ để cho chúng ta một dịp lớn lên và thể hiện đời sống thiêng liêng, hoặc cho chúng ta thấy một điểm yếu đuối trong tính tình của mình hoặc một lầm lỗi về hạnh kiểm.
Dù vì lý do nào, chúng ta cũng đều có cớ để mà vui mừng. Mỗi một lầm lỗi, dù nhỏ đến đâu, ẩn kín đến mức nào, cũng là một khe hở có thể làm sụp đổ cả tòa nhà.
Tội lỗi này như một khe hở nguy hiểm trong một bức tường cao, bỗng nhiên trong khoảnh khắc, nó có thể làm sụp đổ tan tành hết. (Is 30,13).
Không bao lâu, khe hở này sẽ cho cả tòa nhà sụp đổ hết. Ta có thể sửa chữa những khe hở mà ta nhìn thấy . Ta có thể xưng tất cả những yếu đuối và những tội lỗi mà ta ý thức được, và một khi đã xưng ra thì biết chắc rằng nó đã được tha thứ và tình thương của Chúa sẽ xoa dịu mọi đau khổ và chữa lành mọi vết thương. Nhưng làm sao sửa chữa những khe hở quá ẩn kín, những lỗi lầm mà chúng ta ý thức một cách mơ hồ bởi cuộc tình cảm lo ngại, khắc khoải, bất ổn, giận hờn hoặc những triệu chứng khác mà chúng ta đều biết qua kinh nghiệm.
Tội lỗi đặc biệt mà Isaia đã nói trong đoạn trích ở trên, đó là sự từ chối bướng bỉnh của dân Do thái, không chịu làm theo chỉ thị của Thiên Chúa. Họ chỉ tìm ý kiến và lời khuyên của loài người. Họ muốn đặt niềm tin cậy vào họ chứ không phải vào Chúa.
Sự tự tin vững chãi vào mình, sự tự mãn bao giờ cũng là những khe hở nguy hiểm cho công cuộc xây dựng. Nếu Chúa cho phép trong đời ta, có những hoàn cảnh, những lãnh vực giúp ta tin vào mình thì tại sao ta lại không cám ơn Chúa đã đặt ngón tay trên tội ác. Tại sao ta không vui mừng vì sức mạnh Chúa ban để ta thắng những tội ác ấy?
Quyền Năng Của Tâm Hồn Biết Ca Ngợi : Chương IV - Phần 3
Một sĩ quan trẻ tuổi, đang tập huấn tại Fort Benning, bị rơi vào một hoàn cảnh rất khó khăn. Ông thú thật với tôi: Tôi phải được giúp đỡ, nếu không, tôi sẽ điên mất.
Trước kia ông cứ tưởng có thể đương đầu với mọi hoàn cảnh một cách dễ dàng. Sự tự tin này nơi ông ta mang tính cách ngạo mạn. Nhưng từ khi ông tới học ở trường sĩ quan ông không có khả năng phản ứng như trước nữa và những ý tưởng ông nghĩ về mình cũng như về cuộc đời nói chung đã bị sụp đổ .
Việc luyện tập nghiêm ngặt của những sinh viên sĩ quan trẻ này không phải chỉ có mục đích dạy cho họ nghề nghiệp và bổn phận làm sĩ quan, nhưng còn để làm tỏ hiện nơi họ những yếu đuối mà một ngày kia khi ra trận họ có thể làm nguy hại đến tính mạng của những người dưới quyền họ. Người ta bắt họ phải chịu đựng những mỏi mệt, những căng thẳng để thử thách sự dẻo dai và lòng can đảm của họ. Nếu họ chịu không nổi thì tốt hơn là thấy điều đó trước khi trao cho họ một đạo quân.
Những người huấn luyện viên cảm thấy nơi người học trò này, dưới cái mặt nạ hợm mình, tự mãn thật ra có ẩn dấu lòng thiếu tự tin.
Bài trắc nghiệm bắt đầu: Từ sáng đến chiều anh ta được người ta theo dõi. Không một cử chỉ, thái độ nào của anh bị bỏ sót.
- Chuẩn úy, anh không đi nhanh hơn được sao?
- Anh không thể làm những gì người ta bảo sao?
- Bao giờ anh cũng ăn như con heo vậy sao?
- Thật anh là một con ốc sên.
- Anh muốn tôi gọi mẹ anh đến giúp anh không?
- Hãy chạy quanh nhà đi, để tập, anh giơ chân lên.
Lòng tự tin của anh tan biến rất nhanh. Bị sỉ nhục, thất bại, đuối sức, anh ta muốn đào ngũ và muốn trốn ra nước ngoài để tránh những nỗi khổ tâm đó.
Anh ta kể cho tôi nghe rằng anh ta chưa bao giờ tin thật sự vào thiên Chúa, và cũng chả hiểu gì về Kinh thánh. Nhưng nếu có một Thiên Chúa có thể giúp anh thì anh sẵn sàng tin ngay .
Tôi đọc cho anh nghe những gì Kinh Thánh nói về trường hợp của anh, và vặn lại rằng Thiên Chúa có một chương trình toàn hảo cho đời anh, và những thử thách anh chịu đựng cũng nằm trong chương trình đó và Chúa sẽ giải phóng anh khỏi những căng thẳng nội tâm nếu anh trao đời anh cho Chúa hướng dẫn mà nếu anh biết cảm tạ Chúa trong mọi hoàn cảnh.
Viên chuẩn úy cau có. Khuôn mặt và cặp mắt để lộ một sự mệt mỏi thần kinh căng thẳng vì anh thiếu ngủ.
- Đây là lần đầu tiên mà tôi bị đẩy vào tình thế này (anh lắc đầu). Thật tôi chịu không nổi nữa. Và mục sư vừa bảo rằng Thiên Chúa đã đặt tôi vào ngõ cụt này sao?
- Ta nên hiểu rằng Chúa đã cho phép những việc ấy xảy ra. Tôi trả lời - Tôi chắc chắn rằng Chúa muốn anh quay về với Chúa và chấp nhận tất cả những gì Chúa dành sẵn cho anh, không cần phải trải qua những nỗi đau khổ này. Nhưng anh luôn luôn tự cho rằng anh có thể thành công một mình ở đời, cho nên vì tình thương, Chúa đã chọn phương tiện trực tiếp nhất để chỉ cho anh thấy tỏ tường rằng anh cần đến Chúa biết bao. Tôi đọc cho anh nghe đoạn thư của Thánh Phaolô gửi tín hữu Côrintô: Thưa anh em, chúng tôi đâu có muốn cho anh em không nhận thức về đau khổ chúng tôi trải qua ở Á Đông, thật chúng tôi đã chịu cơ cực quá chừng, quá đỗi khiến chúng tôi đến phải ngán không muốn sống nữa. Chính chúng tôi cũng mang cái chết trong mình nên không trông cậy gì nơi mình mà chỉ cậy vào Thiên Chúa mà thôi (2 Cor 1,8-9).
Người thanh niên có vẻ suy nghĩ,
. rồi anh bằng lòng để tôi cầøu nguyện cho
anh. Tuy không tin tưởng gì vào lợi ích của việc này.
Tôi đặt tay lên đầu anh ta và bắt đầu tán tạ Chúa vì cái hoàn cảnh này. Xin Chúa cho viên chuẩn úy trẻ này nhận ra tình yêu của Chúa và cái thiện cảm của Chúa đối với từng chi tiết trong cuộc đời anh ta . Trong lúc tôi đang cầu nguyện, người thanh niên bắt đầu run rẩy, nước mắt chảy tràn trề trên má anh ta. Một lúc sau, anh nổi lên cười.
- Cám ơn Chúa, anh ta đã kêu lên. Vinh danh Thiên Chúa. Con thấy rằng Chúa chăm sóc con và con tin rằng Chúa thương con.
Tôi nhìn anh ta, một niềm vui sướng chiếu tỏa trên anh ta.
- Chính Chúa đã đưa tôi vào ngôi trường võ bị sĩ quan này phải không? Chúa đã biết chính nơi đây tôi sẽ tìm ra lời giải đáp. Bây giờ tôi cảm thấy trở thành một con người khác.
Quả vậy, anh đã nhận Đức Kitô là Đấng Cứu Độ của anh và ít lâu sau anh đó thành công rực rỡ trong các kỳ thi.
Cuộc khủng hoảng mà anh đã trải qua chứng tỏ có khe hở trong cuộc đời anh. Từ lúc anh có thể nhìn thấy và nhận ra bàn tay của Chúa trong hoàn cảnh của anh và cảm tạ Chúa, thì anh đã được chữa lành.
Những biến cố làm lung lay nền móng của sự tự mãn thực ra đều là những phúc lành ẩn kín. Chúng ta có thể chân thành cảm tạ Chúa và chúc tụng Chúa vì những lời châm chọc, nó đánh tan mọi ảo tưởng mà chúng ta có thể có về mình. Chúng ta càng cảm tạ Chúa thì sự chuyển biến trong chúng ta càng dễ dàng. Niềm vui gia tăng và nỗi khổ bớt dần đi. Chúng ta khám phá ra việc này nữa: chúng ta càng bị thử thách thì chúng ta càng ý thức sự hiện diện của Chúa và sức mạnh của Đức Kitô trong chúng ta.
Tất cả những thử thách, những khó khăn, những dịp để làm phát triển chúng ta đều giúp chúng ta có đủ điều kiện để trở thành những con sông chuyên chở tình yêu và hiệu lực của Thiên Chúa.
Quyền Năng Của Tâm Hồn Biết Ca Ngợi : Chương IV - Phần 4
Một cô gái nọ gặp nhiều khó khăn. Mẹ và hai anh cô đều qua đời. Cha cô tái hôn, rồi ly dị, rồi lại tái hôn. Còn cô thì không thành công trong việc học hành và cô bắt đầu uống rượu. Rồi một ngày kia, cô nghe nói đến Chúa Giêsu và cô nhận Ngài là Đấng Cứu Độ của cô . Trong một thời gian, cô rất vui và nhờ chứng tá của cô mà rất nhiều người trở về với Chúa. Mọi việc đều tốt đẹp và cô tưởng rằng những nỗi đau khổ của cô đã hoàn toàn qua đi.
Chính lúc đó, những nỗi bực dọc của cô trở lại rất nhiều . Cô bị tai nạn xe hơi hai lần liên tiếp và cô đã bị thương. Rồi cô có một cái nhọt ở cổ. Cô bị mổ rất đau đớn. Một ngày nọ, cô ngã bệnh nặng vì đã uống một chai sô đa: người ta bỏ thuốc độc vào trong đó. Trong lúc cô đi học, cô bị một kẻ giơ dao ra dọa. Một lần khác, một đứa khác giơ súng muốn bắn cô. Một đêm, kẻ gian lẻn vào nhà cô, nạy cửa và hãm hiếp cô ta. Và đau khổ hơn nữa, ông chủ của cô không cho làm nữa vì ông nghĩ rằng cô đã phạm một lỗi gì ghê gớm để phải chịu mọi sự khó khăn ấy .
Trải qua tất cả mọi thử thách đó, cô gái tranh đấu để giữ vững đức tin. Điều gây cấn nhất phải chịu đựng là những sự nghi ngờ của các Kitô hữu trong họ đạo của cô .
Sau đó cô nhận được quyển sách Từ nhà tù đến ca ngợi. Cô đọc và bỗng nẩy sinh một niềm hy vọng mới. Thiên Chúa chắc phải có một lý do nào đó để cho phép tất cả những sự gian truân này. Cô bắt đầu cảm tạ Chúa vì mỗi một nỗi khổ mà cô đã phải chịu đựng trong đời cô, không bao lâu niềm vui thay thế cho sự sợ hãi cứ ám ảnh cô. Cô kể rằng: Tôi bỗng hiểu rằng Chúa là tất cả những gì tôi có được. Những người khác có thể có những sự yên ổn, còn tôi, tôi chỉ có Chúa, và tất cả những gì đã xảy ra làm cho tôi ý thức điều đó rất rõ ràng.
Người đàn bà trẻ tuổi này, bây giờ có một năng lực rạng rỡ, mới mẻ để làm chứng cho Đấng Cứu Độ của bà. Bà có khả năng thông cảm và thương yêu sâu sắc những người bị đau khổ như bà.
Bà đã hiểu rằng và tin rằng tất cả những hoàn cảnh trong quá khứ của bà được bàn tay của Thiên Chúa tình yêu kiểm soát và bà có thể bình tĩnh nhìn những thử thách mới mà nói rằng: Tôi biết rằng chính Chúa đã cho phép: điều đó chỉ làm ích cho tôi thôi.
Quyền Năng Của Tâm Hồn Biết Ca Ngợi : Chương IV - Phần 5
Một người đàn bà tuổi trẻ khác vừa bị mất chồng. Vì hai người không có con, nên bà bỗng trở nên trơ trọi. Lúc bà trở về thăm gia đình bà để ý tìm một sự an ủi và thiện cảm bà đang cần, thì mọi người trong nhà tỏ vẻ lãnh đạm, không nói chuyện với bà và làm như bà không có ở đó. Bà không thể nào hiểu nổi cái phản ứng này. Gia đình bà không bao giờ đối xử với bà như vậy. Sự khắc khoải vì bị bỏ rơi và lẻ loi làm cho bà không thể nào chịu nổi. Bà đau khổ trong tâm hồn và trong thể xác, và bị mất ngủ. Bà gầy tọp đi .
Ngày đêm bà chỉ biết khóc đến nỗi quên cả giờ giấc. Bà ý thức rằng bà đang đi dần đến chỗ thác loạn tâm trí.
Trong nỗi tuyệt vọng, bà kêu lên: Chúa ơi, Chúa ở đâu? Chúa có lo cho con không? Bà không nghe tiếng trả lời nào cả và không cảm thấy được nâng đỡ.
Một ngày kia trong tiệm sách ở khu vực bà ở, bà thấy quyển : Từ nhà tù đến ca ngợi. Cầm quyển sách lên bà đọc phía sau bìa tác giả là một tuyên úy quân đội; bà vội đặt quyển sách trở lại kệ. Chồng bà cũng ở trong quân đội lúc ông ta qua đời và bây giờ bà sợ phải nhớ lại những kỷ niệm ấy. Bà trở về nhà tay không. Nhưng suốt ngày bà nhớ tới cái tựa của quyển sách. Một ý tưởng cứ trở đi trở lại: Mày phải đọc quyển sách đó!
Chưa bao giờ bà cảm thấy cần phải đọc một quyển sách nào rõ rệt. Bà trởø lại hiệu sách và mua quyển sách ấy.
Vừa về đến nhà bà vội mở sách ra đọc, và bà không thể cầm được nước mắt. Đôi khi bà khóc nhiều đến nỗi không còn phân biệt các hàng chữ nữa. Có lúc bà nhận bỗng thấy mình đang quỳ dưới đất và tiếp tục đọc sách.
Bà chắc chắn rằng Chúa nói với bà trực tiếp qua quyển sách này. Nhưng bà không hiểu rõ: Có thật Chúa bảo bà cám ơn Chúa vì chồng bà đã chết không? Làm sao Chúa có thể tàn ác như thế? Tất cả trong bà đều như chống đối với ý tưởng này. Nhưng dần dần, càng đọc bà càng cảm thấy một nỗi bình an mới đang xâm nhập tâm hồn và bà không khóc nữa .Từ từ, tư tưởng chuyển biến.
Bà nghĩ: Chúa cho phép tất cả những việc đó xảy ra để giúp đỡ tôi. Chúa biết rằng không bao giờ tôi tìm kiếm Chúa, nếu chồng tôi còn sống. Nếu anh tôi và gia đình anh đã khuyên giải yêu thương tôi thì tôi đã bám vào họ. Bây giờ tôi hoàn toàn trơ trọi, nên tôi mới quay về với Chúa. Lạy Chúa Giêsu, con cảm nghiệm sự hiện diện của Chúa! Chúa ở đây với con, và con ca tụng cảm ơn Thiên Chúa vì Ngài đã đẩy con đến với Chúa!
Sự bình an mà bà cảm thấy bây giờ thật êm dịu hơn tất cả mọi sự mà bà đã cảm nghiệm được từ trước đến nay. Những ngày sau đó, bà rạng rỡ một niềm vui làm cho bạn bè và hàng xóm của bà ngạc nhiên quá đỗi, vì họ đã theo dõi bà và lo ngại khi thấy sự buồn khổ làm bà suy sút rõ rệt.
Ít lâu sau, người anh của bà đến thăm bà và cặp mắt đầy lệ, anh thú thật:
- Em có thể tha lỗi cho anh không? Vì đã có một sự hiểu lầm. Có người nói với gia đình anh rằng em đã nói anh từ chối không giúp đỡ em khi chồng em hấp hối. Và cả nhà đã nghe lời nói ấy mà bị tổn thương, nên hôm nọ không ai muốn nhìn em hay nói chuyện với em cả.
Người anh bà rất hối hận và xấu hổ.
Bây giờ thì anh biết đó là câu chuyện của một bà goá khác. Và nghĩ rằng anh đã bỏ rơi em trong lúc em đang cần đến anh
.
Rất bình thản, bà trả lời:
- Anh đừng hối tiếc gì cả, trái lại anh hãy sung sướng vì đã làm điều sai lầm đó.
Anh bà không hiểu ất giáp gì cả:
- Anh đã bỏ rơi em khi em cần đến anh, thế mà em lại bảo anh cám ơn Chúa vì việc đó sao ?
- Bà cười mà trả lời:
- Phải chính thế. Vì nếu anh không bỏ em một mình thì không bao giờ em hiểu được chúa yêu thương em đến mức độ nào. Câu chuyện này không có mục đích tha thứ cho việc nghe người ta nói xấu kẻ khác, hoặc không giúp đỡ những người cần đến ta đâu. Nhưng Thiên Chúa muốn chúng ta hiểu rằng nếu chúng ta trao phó cho Chúa tất cả cuộc đời chúng ta thì không ai có thể đối xử với chúng ta một cách bất công cả, trừ khi Thiên Chúa cho phép vì lợi ích của chúng ta. Chúng ta có thể cám ơn Chúa vì từng lời khó chịu, từng nhận xét xảo trá, nham hiểm đụng chạm đến chúng ta.
Thiên Chúa ban ơn cho anh em khi, vì lương tâm đối với Chúa, anh em chịu sầu khổ oan ức. Nếu anh em phạm tội mà bị đánh đòn, nào có danh giá gì? Nhưng nếu làm lành mà chịu nhẫn nhục đau khổ: đó là một ơn phước trước mặt Chúa (1 Phêrô 2,19-20). Một cây hồng phải được chiết cành để nở hoa.
Thầy là cây nho thật. Cha thầy là Đấng vun trồng. Hễ nhánh nào nơi Thầy không kết quả, Ngài sẽ chặt đi hết, còn nhánh nào kết quả Ngài cũng tỉa bớt đi cho càng sai trái hơn. Thầy dạy dỗ các con nên các con đã được trong sạch (Gioan 15,1-3).
Và Chúa Giêsu truyền : Hãy yêu kính chúa Trời con với tất cả tấm lòng, tất cả tâm hồn, tất cả trí khôn: đó là điều răn thứ nhất và quan trọng nhất, điều răn thứ hai cũng giống như vậy : Hãy yêu thương anh em như chính mình ta vậy (Math 22, 37-39).
Tình yêu mà Chúa Giêsu đề cập ở đây là một tình yêu có ý thức và tự do, một tình yêu đòi hỏi sự can thiệp của ý chí và hành động trong đức tin. Do chính là tình yêu mà Chúa Giêsu đã nói : Hãy yêu nhau như Cha đã yêu các con (Gioan 15,12).
Tất cả những gì ngăn cản chúng ta vâng theo giới răn này đều phải được trừ diệt khỏi con người chúng ta. Chúng ta làm trì hoãn và ngăn chặn công việc của Chúa trong chúng ta, nếu chúng ta cằn nhằn và than thở thì những hoàn cảnh khó khăn mà Chúa dùng để thánh hoá chúng ta. Những hoàn cảnh không đến với chúng ta một cách may rủi hay do một định mệnh tàn ác, nhưng vì Cha chúng ta cũng là người chủ vườn nho, đã yêu thương và chăm sóc đến chúng ta. Chúng ta có thể vui mừng và cảm tạ Chúa vì Chúa biết cái gì tốt đẹp nhất, ích lợïi nhất cho ta .
Quyền Năng Của Tâm Hồn Biết Ca Ngợi : Chương IV - Phần 6
Một chuẩn úy ở Fort Benning, Kitô hữu, vừa hay tin vợ anh ta bị đưa vào bệnh viện tâm trí sau một cơn bệnh thần kinh nặng. Các bác sĩ đều bi quan về trường hợp này. Cô ta phải ở lại nhà thương trong một thời gian vô hạn định. Khi J. đến tìm tôi ở phòng làm việc của tôi, anh không thốt được một tiếng. Tôi nhìn đôi vai to lớùn của anh trong khi anh khóc nức nở.
- Tại sao những việc ấy xảy ra?
Anh cố gắng nói một cách khó khăn:
- Vợ tôi và tôi, chúng tôi luôn cố gắng sống như những Kitô hữu tốt. Tại sao Chúa bỏ rơi chúng tôi?
Tôi trả lời: Chúa không bỏ rơi anh đâu. Chúa có một lý do rõ rệt để bắt vợ anh phải nằm nhà thương. Tại sao chúng ta không quỳ xuống bây giờ để cám ơn Ngài?
J. mở to cặp mắt : - Tôi theo đạo Tin Lành, thưa tuyên úy; Và tôi chưa bao giờ thấy những điều đó trong Kinh thánh.
Thế còn câu này: Trong mọi lúc và cho mọi sự, hãy tạ ơn Đức Chúa Cha, nhân danh Chúa Giêsu Kitô (Eph 5,2ø0). J. lắc đầøu :- « Vâng, tôi có biết đoạn đó. Nhưng tôi cứù nghĩ là phải cảm tạ Chúa vì những ơn lành. Tôi không nghĩ rằng Kinh thánh bảo ta cảm tạ vì những sự dữ. Tôi vẫn ngờ Thánh Phaolô đã bị quá trớn khi ông nói rằng ông sung sướng trong sự tàn tật, yếu đuối của ông ».
Tôi cũng đã từng suy nghĩ như thế. Nhưng bây giờ thì tôi thấy rằng Phaolô có lý. Khi Thánh Phaolô nói rằng Thánh Nhân vui mừng trong sự tàn tật của mình, thì ông muốn nói rằng ta phải cảm thấy dễ chịu trong chính nỗi đau khổ. Thánh Phaolô đã nhìn sự đau khổ trong một viễn tượng rất mới. Thánh nhân đã khám phá ra rằng sự đau khổ có thể phục vụ một mục đích cao cả và nó ở trong chương trình yêu thương của Chúa đối với ông.
J. có vẻ suy nghĩ, anh nói chậm chạp :- Tôi không biết. Điều đó , đối với tôi, không có lý cho lắm
- Phaolô cũng đã phải học kinh nghiệm : Và cũng không phải dễ dàng gì đâu .Anh hãy nhớ đến cái gai nhọn xác thịt.
J. gật đầu .Tôi nói :- Ba lần, Phaolô đã xin Chúa lấy cái đó đi .Lúc bấy giờ, anh không có vẻ gì sung sướng vì sự đau khổ cả .Mỗi lần Chúa đều trả lời :Không. Ta ở với con. Đó là tất cả những gì con cần. Chính nơi những yếu đuối mà sức mạnh của ta tỏ hiện rõ ràng :Bây giờø tôi hãnh diện vì sự yếu đuối của tôi .Tôi sung sướng đượïc trở nên một chứng minh sống động cho quyền năng của Đức Kitô thay vì khoe khoang những khả năng của tôi (2 Cor 12/9). Tôi nói tiếp :- Phaolô không hãnh diện trong chính những sự tàn tật đó, đó là điều ông cắt nghĩa cho các tín hữu ở Côrintô :Cho nên tôi sẽ hân hạnh khoe khoang trong những sự yếu của tôi hầu quyền năng Đức Kitô ở cùng tôi .Do đó tôi vui lòng chịu bệnh tật, tủi hổ, thiếu thốn, khủng bố, cơ cực vì Đức Kitô, khi tôi yếu đuối, đó là lúc tôi mạnh mẽ vậy (2Cor 12/10).
J. chậm chạp giở từng trang Kinh thánh, suy nghĩ và cuối cùng anh kết luận :
- Tôi tin rằng Chúa hoạt động trong mọi sự .Nhưng điều khó khăn nhất đối với tôi là phải vui mừng vì mọi sự.
- Nếu chúng ta nói rằng chúng ta tin mà không có thể vui mừng, thì điều ấy có nghĩa là chúng ta chưa quyết tin rằng Chúa hàùnh động vì lợi ích cao nhất của chúng ta .
J. im lặng, rồi anh gật đầu quả quyết :
- Tuyên úy có lý .Tôi muốn làm thử .Chúng ta quỳ xuống. J. lại nức nở khóc trong khi anh cầu nguyện :
- Lạy Chúa, con biết rằng Chúa thương vợ con hơn là con có thể thương yêu nữa .Con tin rằng Chúa đang thực hiện cho chúng con một chương trình tuyệt diệu .
Những dòng nước mắt vẫn tiếp tục chảy trên má, nhưng cái nhìn của anh đã ánh lên một tia hy vọng mới .
Thưa tuyên úy, Chúa biết việc Chúa làm, tôi biết chắc như vậy .
Vài ngày sau J. xin được thuyên chuyển đến gần bệnh viện mà vợ anh đang dưỡng bệnh. Đơn xin của anh được chấp nhận và anh đến chào tôi . Anh nói vẻ rất kích thích : - Hãy đợi những điều sắp xảy ra .Điều tốt nhất vẫn chưa đến. Chúa đã hứa sẽ chữa vợ tôi, lúc tôi sẽ gặp lại nàng và đặt tay lên đầu nàng mà nói : Hãy lành bệnh nhân danh Đức Giêsu Kitô.
Mọi sự nghi ngờ thoáng qua trí tôi : nếu J. quá hăng say và đi trước những điều Chúa muốn thật sự ? Nhưng tôi cũng nhận được sự xác nhận của Chúa Thánh Linh. Tôi đặt tay trên anh và cầu chúc anh :
-Lạy Chúa, Chúa đã nói rằng nếu có hai người đồng ý cầu nguyện xin một ơn gì thì Chúa sẽ nhậm lời (Math 18/19). Bây giờ J. và con, chúng con xin Chúa cho vợ J. được lành bệnh khi y đặt tay lên nàng.
Hai tuần lễ sau J. viết cho tôi :
-Mọi sự đã xảy ra giống y như Chúa Giêsu đã hứa với chúng ta .Vợ tôi ở trong phòng bác sĩ khi tôi đến gặp nàng. Thật kinh khủng. Sắc diện của nàng và sự sợ hãi ánh lên từ cặp mắt nàng khiến tôi nghĩ rằng không còn hy vọng gì nữa .Nhưng tôi biết rằng tôi phải làm điều Chúa dạy .Tôi đến gần nàng và đặt tay lên đầu nàng. Lúc tôi vừa chạm đến nàng, nàng rùng mình như bị chấn động và tôi biết là nàng đã được chữa lành. Tôi nói với bác sĩ rằng vợ tôi đã khoẻ mạnh và ông ta nhìn tôi, như thể tôi cũng cần phải được đưa vào nhà thương để điều trị .Hôm sau bác sĩ gọi tôi đến và nói :Tôi không hiểu gì cả, nhưng vợ anh có thể lành mạnh lắm rồi ! Và nàng đã trở về nhà, sung sướng hơn bao giờ hết. Những thử thách mà nàng đã chịu đựng đã giúp nàng lớn, mạnh và cả hai chúng tôi bây giờ cảm tạ Chúa vì mọi sự .Chúng tôi đã hiểu lời tán tạ làm phát xuất quyền năng chữa trị của Đức Kitô. Chúa thay thế sự yếu đuối của chúng ta bằng chính sức mạnh của Chúa khi chúng ta nhìn nhận những thất bại của mình. Nhưng rất nhiều khi chúng ta xấu hổ vì phải xưng lên rằng chúng ta yếu đuối, vì sợ không được Chúa và tha nhân chấp nhận (vì những nhược điểm đó). Cách suy nghĩ đó bắt nguồn từ nhận định sai lầm là chúng ta phải làm sao cho xứng đáng với tình thương của Chúa .
Một đại tướng và là một Kitô hữu, một ngày nọ đến tìm tôi và thú thật rằng sự cố gắng mà ông ta buộc mình phải tuân theo để có một hình ảnh hoàn hảo trước mặt binh lính của ông đã đi đến chỗ sát hại ông. Trong lúc nói chuyện tôi ý thức rằng người đàn ông này, mà tôi vẫn khâm phục vì vẻ quân bình và chững chạc bên ngoài, thật ra chưa bao giờ biết chấp nhận mình. Ông bị ám ảnh bởi ý tưởng ông sẽ làm cho gia đình ông và các sư đoàn của ông thất vọng vô cùng nếu ông buông xuôi tất cả .
Tôi gợi ý rằng sự căng thẳng này sẽ mất nếu ông cảm tạ Chúa đã tạo dựng ông như thế .Ông kêu lên :-Tuyên úy muốn nói như bây giờ sao? Bây giờ tôi đầy cả sợ hãi và căng thẳng. Tôi gật đầu :
- Ông tưởng rằng Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ và đặt các ngôi sao trên trời lại không chú ý đủ khi tạo dựng ông sao ? Không, dĩ nhiên. Và tất cả mọi hoàn cảnh trong đời ông cũng vậy. Chúa đã chọn để cho ông thấy Chúa thương ông dường nào !
Ông đại tướng trở lại phòng tôi nhiều lần. Ông học Thánh Kinh và đọc quyển : Từ nhà tù đến ca ngợi, rất say mê .Ông đi đến chỗ nhận biết rằng Chúa có một chương trình tuyệt hảo cho đời ông và sự căng thẳng mà ông chịu đựng thường xuyên chỉ có mục đích là đưa ông đến chỗ cậy tin vào Chúa thôi .
Ông bắt đầu cảm tạ Chúa vì những lo âu khắc khoải của mình và một cảm giác bình an dần dần thay thế những lo ngại .Lần đầu tiên trong đời ông, ông sung sướng được là con người thật của mình. Ông tâm sự :
- Bao lâu tôi còn nghĩ rằng Chúa không thể thương tôi với những yếu đuối này thì tôi cố gắng dấu kín và do đó tôi từ từ đi xa sự thật. Từ khi tôi biết nhìn nhận mình yếu đuối và cảm tạ Chúa đã tạo dụng nên tôi như thế thì tình yêu của Chúa đã biến đổi tôi và cho tôi sự bình an .
Quyền Năng Của Tâm Hồn Biết Ca Ngợi : Chương IV - Phần 7
Vua Đavid viết :
Mỗi người hãy chúc tụng và hát lên lời ngợi khen Ngài vì Ngài nắm đời ta trong tay Ngài .Ngài giữ bước chân ta trên đường. Chúa đã thanh luyện con trong lửa, lạy Chúa, Chúa đã bắt chúng con vào trong lưỡi của Chúa và đặt trên vai chúng con những gánh nặng. Chúa đã cho kỵ binh, chiến mã đi ngang qua người chúng con. Chúng con đã trải qua máu và lửa .Nhưng cuối cùng Chúa đã ban đời sống và sự sung mãn lại cho chúng con
. Con đã hướng về Chúa và kêu gào, lời ca tụng ở trên môi miệng con Chúa sẽ không nghe con, nếu con không xưng tội mình ra .Nhưng Chúa đã lắng tai, Chúa đã nghe lời con, Chúa đã nhậm lời ! Hãy ca ngợi Đấng Vĩnh Cửu, toàn thể trái đất ! Hãy hát khen danh thánh Ngài (Thánh Vịnh 66/8-12; 17-19; 1-2).
Đavid muốn trở thành một với Chúa. Đavid biết rằng tất cả những gì không trong sạch nơi ông sẽ ngăn chặn, không cho tình yêu Chúa đến với ông và chảy qua ông. Vì thế David đã vui vẻ chấp nhận phương thế đau khổ và thanh lọc mà Chúa đã bắt ông chịu đựng. David vui mừng khi những thử thách làm tỏ hiện những lỗi ẩn kín của ông. Ông xưng tội và được chữa lành. Chính Chúa đã chỉ cho ông con đường đi :
Không phải những của lễ bằng thịt và máu làm Ta vui lòng. Điều Ta chờ đợi ở con là sự tạ ơn, với một lòng chân thành. Ta muốn con tin cậy ở Ta. Ngay trong những cơn thử thách, để ta đến cứu chữa con và con làm sáng danh Ta.
Hãy ngừng đọc Lề Luật của Ta và đòi hỏi những lời hứa của Ta vì con đã từ chối Lề Luật và khinh chê giới răn Ta. Đây là sự may mắn cuối cùng của con.
Lời ca tụng đến tự một tấm lòng chân thành : đó là của lễ làm sáng danh Ta và Ta chấp nhận. Ai biết đi trong đường lối của Ta thì biết được ơn giải thoát của Ta (Thánh vịnh 50 13-17, 22-23).
Con đường của Chúa là con đường tán tạ, ngợi ca .
Quyền Năng Của Tâm Hồn Biết Ca Ngợi : Chương V - Phần 1
C H Ư Ơ N G V
KHI CHIM SẺ RƠI XUỐNG ĐẤT
Không một con chim sẻ nào rơi xuống đất ngoài ý Cha các ngươi (Thực ra nó đáng giá bao nhiêu ? Một đồng hai con ?) Cả những sợi tóc trên đầu các ngươi cũng đã cộng số rồi ! Vậy đừng sợ ! Các ngươi quý giá hơn con chim sẻ nhiều (Mat 10/29-31).
Chúa Giêsu nói với các môn đệ Ngài rằng Cha chúng ta trên trời chăm sóc đến mỗi con chim sẻ và Ngài biết số tóc trên đầu chúng ta .Vậy mà nhiều chim sẻ rơi xuống đất
. Và ta biết những bi kịch. Những đứa trẻ vô tội chết dưới bánh xe do tài xế say rượu lái; một người thân của chúng ta bị ung thư và chết mặc dù chúng ta đã sốt sắng cầu nguyện. Thiên Chúa chẳng có thể làm cho chim sẻ đừng rơi được không ? Chúa có ngăn cản đứa bé chết không? Và sự tàn phá của bệnh ung thư không?
Phần đông trong chúng ta tin rằng Thiên Chúa có thể ngăn ngừa sự dữ nếu Ngài muốn. Và chúng ta tự hỏi : tại sao Chúa cho phép điều mà ta cho là sự toàn thắng của sự ác trên sự thiện ?
Đôi khi chúng ta suy ra rằng Thiên Chúa nhẫn tâm, dửng dưng hoặc bất công. Hoặc chúng ta nghĩ rằng những nạn nhân của sự ác đó đau khổ vì tội lỗi của chính họ hoặc của kẻ khác. Trong cả hai trường hợp, các kết luận của chúng ta ngược hẳn với sứ điệp của Thánh Kinh dạy cho ta rằng Thiên Chúa là Tình Yêu và chúng ta không cầûn phải tốt lành để xứng đáng sự chăm sóc ân cần của Chúa .
Không thể ca tụng Chúa vì mọi sự bạn nghĩ, rằng Chúa không thật sự có trách nhiệm về tất cả những gì xảy ra hoặc Chúa đôi khi dửng dưng đối với những khốn khổ của ta .
Tôi thường nhận thơ của những người hỏi tôi cảm tạ Chúa vì sự dữ có đúng không, trong lúc Thánh Kinh dạy chúng ta ghét sự dữ .Họ trích dẫn :Hỡi các ngươi, những kẻ mến Đấng hằng sống, hãy ghét sự dữ (TV.97/10) và Hãy ghét sự dữ yêu sự lành (Amos 5/15). Nhưng các câu Thánh Kinh đó dạy ta đừng tán thành sự dữ và cũng đừng thực hành, đừng theo cũng đừng cam chịu nó .
Ngợi khen Thiên Chúa mọi hoàn cảnh không có nghĩa là chúng ta tán thành hoặc chấp nhận sự dữ nơi bản chất của nó .Khi Phaolô nói đến việc vui mừng về đau khổ, người ngụ ý phải vui mừng không phải vì sự đau thương nhưng vì chúng ta biết rằng Thiên Chúa hành động bởi và qua sự đau thương ấy .
Thiên Chúa đã không tạo dựng nên sự dữ .Ngài là Tình Yêu .Nhưng Thiên Chúa tạo dựng nên những con người có ý chí tự do và có thể làm điều ác. Sự dữ là một hậu quả của việc con người chống lại Thiên chúa ;Có Chúa cho phép, nó mới tồn tại được trên thế gian này, nhưng nó luôn luôn lệ thuộc ý Chúa. Không có sự dữ nào xảy đến cho chúng ta mà Thiên chúa không cho phép.
Và vì có sự dữ, Thiên Chúa đã sai Con Một Ngài chịu chết trên một thập giá để bẻ tan quyền lực của sự dữ đó trong đời sống của tất cả những ai tin nơi Ngài.
Kẻ dữ cúi đầu trước mặt người lành sách Huấn Ca dạy vậy (Hc 14-19). Chúng ta, những kẻ tin, chúng ta đã nhận lãnh quyền chiến thắng thế gian.
Phàm ai tin
. Giêsu là Đức Kitô, thì đã sinh bởi Thiên Chúa, vì phàm đã sinh ra bởi Thiên Chúa thì thắng được thế gian. Và này là chiến thắng đã lướt được thế gian: đức tin của ta! (IJN 5,1-4).
Mà đức tin của ta phải đặt nền tảng trên cái gì? Ta phải tin gì để chiến thắng? Ta tin ở Đức Giêsu Kitô nhưng còn nhiều khác nữa: tin hoàn toàn nơi Đức Giêsu Kitô cũng có nghĩa là chấp nhận Thiên Chúa như là Đấng Chúa toàn năng và cũng chấp nhận rằng không gì xảy đến mà Ngài không hay biết hoặc không cho phép.
Nếu chúng ta quyết định tin vững vàng điều ấy và ngợi khen Thiên Chúa vì mọi hậu quả bên ngoài của sự dữ xung quanh ta, tôi tin chắc rằng mọi hoàn cảnh khó khăn, mọi thảm trạng sẽ được biến đổi do bàn tay Thiên Chúa.
Khi xác quyết điều này, tôi biết rằng phần lớn trong các bạn sẽ kết luận ngay rằng Thiên Chúa sẽ biến đổi một hoàn cảnh như chúng ta sẽ làm, trong địa vị của Ngài. Nhưng đó không phải là điều tôi muốn nói chút nào cả.
Khi chúng ta tin tưởng hoàn toàn nơi Thiên Chúa trong một hoàn cảnh khó khăn, bằng cách ngợi khen và cảm tạ Ngài, vì hoàn cảnh đó, quyền năng của Thiên Chúa sẽ biến đổi, đảo ngược hoặc thắng vượt ý hướng và chương trình của quyền lực sự dữ đang hoành hành, bằng cách biến đổi hoàn cảnh đó cho phù hợp với mục đích sơ khởi và hoàn hảo của Thiên Chúa.
Quyền Năng Của Tâm Hồn Biết Ca Ngợi : Chương V - Phần 2
Chúng ta rất có thể không hiểu chương trình của Thiên Chúa, và cũng không trông thấy khía cạnh tích cực của chương trình đó, nhưng hễ chúng ta bắt đầu ngợi khen Chúa, chúng ta giải tỏa được quyền năng của Ngài để sinh ích cho ta trong hoàn cảnh hiện tại đây .
Quan niệm lành dữ của chúng ta thường thật sai lạc. Thí dụ: Nếu một đứa trẻ được hưởng gia tài bạc triệu, người ta liền kêu lên: Tuyệt quá! Nhưng nếu đứa trẻ ấy chết và lên thiên đàng, người ta sẽ than: Tai hoạ thật! Tuy nhiên, chúng ta biết rằng một gia tài lớn có thể gây ra những thảm trạng, còn lên thiên đàng chỉ có thể tốt thôi).
Nếu chúng ta ngợi khen Chúa trong mọi hoàn cảnh, tôi chắc rằng có những chim sẻ sẽ không rơi xuống đất và có những đứa trẻ sẽ không chết và những bệnh ung thư sẽ được chữa trị. Nhưng không nên để cho điều này làm động cơ thúc đẩy ta ngợi khen Chúa vì sẽ luôn luôn có những chim sẻ rơi xuống đất, những trẻ con chếùt yểu và những người bị bệnh ung thư. Chúng ta vẫn phải ca tụng Thiên Chúa vì những trường hợp đó nữa.
Vậy tức là ca tụng Thiên Chúa vì sự dữ Ngài cho phép xảy ra trong đời chúng ta vì ta tin rằng Chúa theo đuổi một mục đích rõ rệt trong trường hợp đó. Rồi còn phải làm gì nữa? Phải phản ứng thế nào trước sự dữ khi ta giáp mặt nó? Về điểm này, ta thấy đủ loại tư tưởng kỳ quặc nơi các Kitô hữu.
Chúa Giêsu đã nói với những kẻ đi theo Ngài: Đừng cưỡng lại người ác (Mat 5,39). Tuy nhiên, ta đọc thấy rằng, khi Chúa Giêrsu trông thấy phường buôn bò, cừu, bồ câu và quân đổi bạc ngồi trên sân đền thờ, Ngài mới lấy dây thừng làm roi mà xua hết thảy ra khỏi đền thờ cùng với cừu và bò của họ (Jn 2,15). Nơi đây, chúng ta thấy Chúa Giêsu hành động công khai chống lại sự dữ. Tuy vậy, Ngài đã không kháng cự chút nào khi người ta đến bắt Ngài tại vườn Giêtximani, và Ngài đã quở môn đệ muốn dùng gươm mà bảo vệ Ngài.
Như vậy, có những trường hợp Chúa muốn đưa ta đến hành động rõ rệt chống lại sự dữ và những trường hợp khác Ngài đòi ta đừng kháng cự. Nhưng làm sao biết được khi nào hành động, khi nào không?
Tôi thiết tưởng điều duy nhất ta có thể làm được là nhìn nhận rằng, bởi sức mình, chúng ta không thể nào thắng được sự dữ cả. Sức mạnh chiến thắng chính là Thiên Chúa. Ngài dạy ta phải tập ngước mắt lên nhìn Ngài, nguồn mạch của mọi chiến thắng - chứ không đăm đăm nhìn sự dữ mà ta phải đương đầu - Và từng bước một, lúc đó Thiên Chúa sẽ hướng dẫn hành động của chúng ta. Phaolô đã viết cho tín hữu Roma: chớ để sự dữ thắng được ngươi, nhưng hãy lấy lành mà thắng dữ (Rom 21/12).
Trong trường hợp người ta bắt và đóng đanh Chúa Giêsu, chính hành vi không kháng cự của Chúa đã đập tan quyền năng sự dữ trong thế gian.
Qua hành vi trên đây, Chúa Giêsu đã cho ta thấy có một cách tốt đẹp hơn nhiều để giải quyết vấn đề sự dữ, tốt đẹp hơn là bảo vệ chống lại sự dữ theo nghĩa thông thường của chúng ta, nghĩa là dùng vũ khí, trả miếng và dùng vũ lực chống lại vũ lực. Làm như vậy, chúng ta phản ứng lại với các nghịch cảnh thay vì đón nhận sự hiện diện và các chỉ thị của Thiên Chúa trong hoàn cảnh đó.
Mỗi lần chúng ta hành động theo các biến cố bên ngoài thay vì bởi đức tin của chúng ta nơi sự can thiệp của Thiên Chúa và sự kiểm soát hoàn hảo của Ngài trên hoàn cảnh, chúng ta để cho sự dữ chiến thắng chúng ta thay vì thắng vượt được nó nhờ quyền năng của Thiên Chúa.
Chúa Giêsu không chủ hoà (theo nghĩa chúng ta hiểu ngày nay) khi Chúa phán: Đừng cưỡng lại người ác! Chúa muốn nói chúng ta phải nhìn nhận một cách chủ động quyền năng của Chúa trên sự dữ và nhìn nhận rằng đôi khi Chúa chọn hoàn cảnh đó để thực hiện ý muốn của Ngài.
Trong trường hợp đó, cưỡng lại sự dữ là đi ngược lại chương trình hoàn hảo của Chúa. Nếu các môn đệ ngăn cản được việc bắt Chúa Giêsu trong vườn Giêtximani, họ đã làm hỏng kế hoạch của Chúa mặc dù họ tưởng rằng mình đã thắng được sự dữ.
Chúa Giêsu đã đến để chiến thắng chứ không phải để dạy chúng ta biết thua mà không than vãn đâu.
Các thánh tông đồ Giacôbê và Phêrô đều bảo chúng ta chống lại Satan. Nếu chúng ta xem nội dung sứ điệp của các ngài, ta thấy rõ rằng các ngài đều hoàn toàn nhất trí với Chúa Giêsu và Phaolô.
Anh em hãy suy phục Thiên Chúa. Hãy chống lại ma qủy, và nó sẽ chạy trốn anh em. Hãy lại gần Thiên Chúa và Người sẽ lại gần anh em (Giacôbê 4,7). Hãy ở tiết độ, hãy tỉnh thức, vì đối thủ của anh em là ma qủy
Đối với nó, anh em hãy chống trả, cứng cát trong lòng tin
. (1 Phêrô 5,8-9).
Chống lại Satan, sự bảo vệ độc nhất của chúng ta là quyền năng của Thiên Chúa. Và quyền năng đó được giải tỏa ra khi chúng ta kiên quyết tin rằng Thiên Chúa âu yếm, điều khiển hoàn toàn mỗi chi tiết của hoàn cảnh. Và chúng ta diễn tả lòng tin đó bằng cách ca tụng và cảm tạ Chúa vì những hoàn cảnh cụ thể đó.
Thánh Kinh dạy ta phải tỉnh thức và coi chừng sự tấn công của kẻ thù, nhưng mà tất cả sự chú ý của ta phải hướng về Chúa, chứ không hướng về Satan. Vẫn biết chúng ta phải ý thức sự đe dọa của kẻ thù, nhưng chúng ta được bảo vệ, không phải bằng cách rình mò kẻ thù nhưng còn đắc lực hơn bằng nhìn nhận quyền năng của Thiên Chúa.
Nếu chúng ta để cho sự sợ hãi và nghi ngờ và sự lo lắng về kẻ thù tràn ngập tâm hồn chúng ta, chúng ta ngăn cản sức mạnh của Thiên Chúa được tỏ hiện. Chúng ta phải học biết xem sự dữ trong mọi viễn tượng đứng đắn - là sự dữ ở dưới sức mạnh toàn năng của Thiên Chúa - và để cho sức mạnh đó làm cho mọi sự gây ích cho ta theo chương trình hoàn hảo của Thiên Chúa.
Phần việc của ta là vững tin bằng cách tuân theo các chỉ thị của Thánh Linh sẽ điều khiển hành động của chúng ta trong hoàn cảnh đo.ù Chúng ta phải luôn luôn giữ cặp mắt nội tâm của chúng ta đăm đăm nhìn Chúa, bằng cách ca ngợi và cảm tạ Ngài trong mọi sự vì lòng nhân từ, ái tuất của Ngài.
Vững tin nghĩa là dùng ý chí của chúng ta mà quyết tâm chấp nhận rằng Chúa làm chủ tình thế như Thánh Kinh đã dạy ta, bất chấp cảm giác của ta và hoàn cảnh bên ngoài.
Thánh Kinh khẳng định với chúng ta rằng Thiên Chúa kiểm soát mọi bão táp, động đất, cuồng phong, chiến tranh, đói kém, dịch tễ, chết chóc, sinh nở. Ngài kiểm soát mọi cánh hoa đồng nội, mỗi chim sẽ và mỗi sợi tóc trên đầu chúng ta.
Có tin đến cùng nơi Ngài hay không là do ta quyết định.
Có người nói: Tôi muốn chấp nhận rằng Thiên Chúa chịu trách nhiệm về một số sự việc, nhưng tôi không thể chấp nhận rằng Ngài chịu trách nhiệm về mọi sự được.
Quan điểm này không khiến ta ngợi khen Chúa và khi chúng ta từ chối không chịu nhìn thấy bàn tay Thiên chúa trên những lãnh vực rõ rệt, ta không thể hy vọng một sự đáp lại lời cầu của chúng ta hoặc là một sự biểu dương quyền năng biến đổi của Ngài được.
Ta hãy xem Thánh Kinh nói gì về các lãnh vực đó, mà ta khó nhìn nhận bàn tay của Chúa.
Habacuc là một tiên tri đã phàn nàn về tình hình quê hương ông như một số trong chúng ta than van về tình hình thế giới hiện tại.
Lạy Chúa đến bao giờ con phải kêu cầu mà Chúa không nghe? Habacuc than van. (Ông ta không thèm nghĩ rằng Chúa đang lắng nghe ông, và ở điểm này, nhiều Kitô hữu ngày nay đồng ý với ông ta). Con kêu đến Chúa rằng: Con bị áp bức mà sao chưa được Chúa giải cứu? Tại sao Chúa để con thấy sự gian ác? Sao Chúa chịu nhìn sự hà hiếp hiện tại? Nhìn khắp quanh con, con chỉ thấy cách bóc lột bạo tàn, cảnh tranh tụng đánh lộn. Luật Thánh như bất lực hấp hối, quyền lợi bị bãi bỏ. Kẻ tàn bạo bách hại kẻ công nghĩa, đâu đâu sự liêm chính cũng bị xuyên tạc (Habacuc 12,4).
Có khi nào bạn miêu tả thế giới Âu Tây ngày nay bằng những lời lẽ giống như vậy không? Đối với tôi thì có.
Và Thiên Chúa đã trả lời với Habacuc (1,5-6): Các ngươi hãy nhìn đến các dân tộc, hãy mở mắt mà nhìn cho kỹ. Các ngươi hãy ngạc nhiên, sững sờ. Vì ngay giữa đời các ngươi, Ta đã hoàn thành bao việc kỳ diệu; mà nếu không nghe thuật lại, đố ai tin nhận được.
Quyền Năng Của Tâm Hồn Biết Ca Ngợi : Chương V - Phần 3
Này đây, Ta xui dục dân Chalđê dấy lên. Họ là một dân dữ dằn hung hăng, hằng rảo bước khắp các xứ bao la để chiếm đoạt chỗ lưu ngụ của người khác (Habacuc 1,5-6).
Chúa đã nói rằng chính Chúa sẽ khiến một quốc gia hung tàn lật đổ thế giới. Bạn có thấy khác gì với đạo binh ta đã thấy nổi lên từ hồi đó đến nay không?
Thiên Chúa không những cho phép người xứ Chalđê thống trị, chính Chúa đã dấy họ lên. Còn Nã-pha-luân, Hitler? Các đạo binh cộng sản nước Nga hoặc Trung Quốc thì sao? Chúng ta có khả năng cảm tạ ơn Chúa đã dấùy họ lên không? Chúng ta có thể chấp nhận lời Chúa nói rằng đó là để sinh ích cho ta không? Chúng ta có thể thành thực ngợi khen Chúa vì điều ấy không? Habacuc đã phẫn uất khi biết điều Chúa sắp làm (Habacuc 1,12-13). Nhưng Chúa há chẳng phải là Chúa tự ngàn xưa, là Chúa Trời của con, là Đấng Chí Thánh của con ư ! Vậy con không sao chết đượïc! Lạy Chúa, Chúa đã đặt dân ấy để tôn trọng quyền luật, đã cho họ nên như một núi đá vững chắc để sửa phạt. Mắt Chúa tinh trong chẳng chịu thấy tội ác, cũng chẳng chịu nhìn sự áp bức. Sao Chúa lặng nhìn những người qủy quyệt, sao Chúa thấy kẻ gian ác hại bậc công chính mà cứ làm thinh?
Có khi nào bạn tự hỏi vì sao Chúa cho phép những người gian ác độc dữ làm hại kẻ vô tội không? Tôi đã tự hỏi! Và Habacuc nói tiếp: Sao Chúa đối xử với con người như thể là cá biển, như thể là loàøi vẫy vùng không có chủ? Họ bắt mọi người bằng mồi câu cá. Họ kéo mọi người lên bờ bằng chính chài của họ. Họ thu lượm hết trong lưới, rồi hớn hở reo mừng (Habacuc 1,14-15).
Thiên chúa không làm ngơ giả điếc trước tất cả các câu hỏi đó: Chúa đã ra lệnh cho Babacuc viết lên câu trả lời của Ngài để cho mọi người biết và nhớ lấy.
Điềm mộng này chỉ có trong chừng hạn. Nó sẽ thể hiện đúng thời kỳ, không để ai phải thất vọng. Nếu nó lâu tới, ngươi hãy chờ đợi, bởi chưng nhất định sẽ xảy ra không hề sai (Habacuc 2,3).
Thiên Chúa không bao giờ chậm trễ? Lịch của Ngài được thể hiện đúng đắn!
Chúng ta đây mới là người luôn luôn lo lắng vì ta dự tính sai. Thiên Chúa còn phán: Này đây những tâm hồn thiếu ngay thẳng phải ngã thua; còn kẻ công chính nhờ sự trung tín sẽ tồn tại luôn mãi. (Habacuc 2,4).
Cuối cùng dân xứ Chalđê lại bị thua. Chính lòng kiêu căng của họ, kèm theo với một khát vọng hiếu thắng không bờ bến, làm cho họ ngã thua và vinh quang giả tạo của họ chẳng bao lâu đã biến thành tủi hổ trên đầu họ cho tới lúc khắp trái đất đầy dẫy sự hiểu biết vinh quang Thiên chúa.
Bây giờ Habacuc có thể trông thấy tất cả sự uy nghi cao cả của kế hoạch Thiên Chúa. Người đã hát mừng và hò reo đắc thắng.
Lạy chúa, con đã nghe đến danh thánh Chúa. Lạy Chúa, con đã kính sợ những việc lạ của Chúa
. Thiên Chúa từ Têman tới, Đấng Chí Thánh từ ở núi Paran lại. Oai quyền Người bao phủ các tầng trời, và trái đất tràn đầy sự vinh quang của Người.
Sự lộng lẫy Chúa chói lòa như ngày sáng, hào quang chiếu rọi ra ở tay Chúa. Thế lực của Người ẩn khuất trong đó.
Dịch lệ tiến trước Chúa; bệnh hàn nhiệt theo chân Người.
Khi Chúa đứng dậy, mặt đất rung chuyển, chỉ một tia nhìn của Chúa đủ làm cho mọi dân tộc lay động. Những dãy núi thiên thu chuyển rời, những ngọn đồi cổ kính sụp đổ, đó là đường lối Chúa thường bước! (Habacuc 3,2-6).
Habacuc kinh hãi bởi thị kiến người mới trông thấy. Người không còn đặt câu hỏi tại sao có hoả hoạn, động đất, dịch lệ, đói kém và giặc giã nữa. Mọi người run rẩy và khiếp sợ, toàn thể con người ông đều kinh hoàng, nhưng ông hát lên cùng Chúa:
Dù cây vả không còn búp, vườn nho sẽ không còn kết trái, cảm lăm sẽ không còn nẩy nở, ruộng đất không còn sinh thực phẩm, chiên cừu sẽ biến mất khỏi bãi cỏ, và sẽ không còn trâu bò ở trong chuồng nữa, nhưng tôi, tôi hoan hỉ trong Chúa, tôi mừng rỡ trong Đấng Cứu Chuộc tội. Thiên Chúa là sức mạnh của tôi, Người làm cho chân tôi lẹ làng như chân hươu nai, và người cho tôi rảo bước trên các đỉnh đồi (Habacuc 3,17-19).
Habacuc bị khủng khiếp bởi cảnh tượng tương lai mà Thiên Chúa vừa mới cho người thấy. Nhưng người cũng đã ý thức rằng Thiên chúa là một Đấng Chúa thương yêu, công bằng và nhân từ. Habacuc không ngần ngại tận hiến trong tay Ngài bằng cách ca tụng Ngài vì kế hoạch hoàn hảo Ngài đã vạch ra cho Israel.
Điều mà Chúa cũng truyền cho chúng ta là ca tụng Ngài - dù cho môi chúng ta run lên vì sợ và dù chúng ta bị khủng khiếp bởi những hoàn cảnh bên ngoài của kế hoạch của Ngài đối với chúng ta.
Bởi tiên tri Isaia, Thiên Chúa đã cho dân Ngài biết ý định của Ngài là xui Cyrus, vua Ba Tư đứng lên chinh phục và lật đổ nhiều quốc gia. Vua Cyrus không biết Chúa, nhưng Chúa quyết định dùng ông ta để đưa người Do Thái bị lưu đày từ Babylon trở về để họ xây dựng lại Giêrusalem và Đền Thánh.
Tại sao Chúa lại dùng Cyrus, một vua ngoại giáo để thực hiện ý định của Ngài? Chúa đã trả lời những ai hỏi Ngài:
Ta tạo ánh sáng, lập bóng tối. Ta gây phúc, mà cũng giáng họa. Chính Ta là Thiên Chúa, Đấng dựng nên hết thảy
. Bình gốm trong các bình làm bằng đất có cãi lại với kẻ nắn nên nó chăng? Đất sét đâu có hỏi được thợ nhào : Ngươi làm gì đó? và công việc đâu có ngạo khinh người thợ ấy được rằng : Ngươi là kẻ cụt tay
.
Thiên Chúa, Đấng Thánh, Đấng sinh trưởng Israel, phán : Hỏi Ta và con cái Ta làm chi, chẳng ai có quyền chỉ cho Ta về công việc tay Ta đang làm ?
Ta đã lập trái đất, đã tạo dựng nên nhân loại lưu ngụ trên đó. Tay ta đã giải các tầng trời. Ta đã ban lệnh cho tất cả các tinh tú.
Chính ta đã gây nên vua Cyrus này, đã đưa đàn con đến khải hoàn, chính Ta mở đường cho người, để người tái lập thành Giêrusalem, đưa dân lưu đày hồi hương, không đòi giá chuộc, không lấy bồi thường (Is 45,7. 9.4.13).
Khi chúng ta từ chối không chịu thấy bàn tay Thiên chúa hành động trong mọi hoàn cảnh, chúng ta giống như đất sét cãi lại với thợ gốm. Ta nói : Nếu tôi là Chúa, tôi sẽ làm cách khác kia. Tôi sẽ không gửi động đất này ở Péru và không để cho em bé này chết vì bệnh ung thư máu. Tôi sẽ không cho phép người này giảng những tà thuyết làm mê hoặc kẻ dễ tin
Và chắc chắn, Tôi sẽ không cho phép những người buôn ma túy đến cám dỗ trẻ con.
Chúa biết rõ chúng ta nghĩ gì về tất cả những điều ấy, và Chúa cũng biết sựï hiểu biết của chúng ta hạn hẹp bao nhiêu. Ngài đã phán bởi miệng ngôn sứ của Ngài
Tâm tưởng các con khác tâm tưởng Ta. Đường lối các con khác đường lối Ta.
Trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối và tâm tưởng của Ta cao hơn của các con bấy nhiêu.
Nước mưa, tuyết sa không trở về trời trước khi thấm nhuần mặït đất, làm cho đất phì nhiêu và nẩy nở hạt giống, làm kẻ gieo giải được ăn bánh.
Cùng một lẽ ấy, lời giảng dạy bởi miệng Ta truyền phán, chẳng trở về với Ta trước khi thực hành ý định và hoàn tất sứ mệnh của Ta (Is 56,9-11).
Sự nghi can và tuyệt vọng của chúng ta bởi thiếu tin tưởng nơi Thiên Chúa mà ra. Chúng ta không hoàn toàn xác tín rằng Chúa muốn điều tốt cho ta.
Chúng ta hỏi vì sao một trẻ con vô tội lại phải chết dưới bánh xe của một ông tài xế say rượu để cho người này nhìn nhận rằng mình cần đến Thiên Chúa. Vậy Chúa lo cho linh hồn của một ông tài xế say rượu hơn là mạng sống một đứa trẻ hoặc nỗi tang tóc của cha mẹ nó ư ?
Hết thảy chúng ta đều đặt với số câu hỏi như thế, nhẩm đi nhẩm lại trong trí chúng ta. Bị xâu xé bởi những ngụy vấn đề đó, chúng ta không có sự bằng an. Và thêm nữa, nỗi khắc khoải của chúng ta chẳng giải quyết gì được cho hoàn cảnh .
Phương thế độc nhất đề ra khỏi khó khăn của ta là chấp nhận lời Chúa trong đức tin; Nghĩa là bất chấp tất cả những gì ta có thể nghĩ, thấy hoặc cảm thấy. Lời Chúa nói rằng, Chúa thương yêu chúng ta và cái chết của một đứa trẻ vô tội nằm trong kế hoạch tình yêu của Chúa đối với những người bị tang tóc .
Quyền Năng Của Tâm Hồn Biết Ca Ngợi : Chương V - Phần 4
Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta - cũng như các lời hứa khác của Thánh Kinh - chỉ có thể chấp nhận được trong đức tin mà thôi. Chúng ta phải quyết định tin rằng tình yêu đó là điều Chúa mạc khải về Ngài, dù chúng ta có cảm thấy mình được thương yêu hay không.
Tin Mừng của Thánh Kinh là Thiên chúa thương yêu chúng ta với một tình yêu tha thiết, kiên nhẫn, ý tứ và lo lắng hạnh phúc và sự thoải mái của chúng ta hơn bất cứ tình yêu nhân loại nào khác. Thiên Chúa thương yêu chúng ta và người có một kế hoạch hoàn hảo đối với cuộc đời của chúng ta. Ngài đã sai Con Một Ngài chết cho chúng ta để ban cho chúng ta một cuộc sống mới, một cuộc sống sung mãn, bình an và hoan hỉ trong một thế giới đầy đau khổ .
Với trí hiểu phân trần quá hạn hẹp của chúng ta, chúng ta không thể nào hiểu được tất cả sự tuyệt vời của kế hoạch của thiên Chúa đối với thế giới này và đối với chúng ta. Cũng như Habacuc, chúng ta phẫn uất rằng Chúa muốn dùng những trận động đất và chiến tranh, dùng đau khổ và sự chết để thực hiện ý đồ của Ngài.
Nhưng kế hoạch của Thiên Chúa là một kế hoạch hoàn hảo. Đó là kế hoạch duy nhất đã thành công trong thế giới này bị sự dữ và sự phản nghịch của con người đô hộ. Bạn hãy nhìn xem sự đổ vỡ mà loài người chúng ta đã gây nên qua các thế kỷ khi chúng ta muốn tự mình lo liệu lấy. Chúa đã phán với Isaia rằng kế hoạch của Thiên Chúa không ăn khớp với điều chúng ta làm bởi vì tư tưởng của Ngài vượt lên trên tư tưởng của chúng ta ngàn trùng và cái nhìn của Ngài rộng lớn hơn biết bao.
Thiên Chúa chỉ muốn điều tốt nhất cho ta thôi.
Các con sẽ trẩy đi vui vẻ và trở lại bằng an. Gặp mặt các con, đồi núi sẽ reo hò nhảy mừng, cây cối ngoài đồng sẽ vỗ tay khen ngợi. Chỗ gai góc, trắc bá sẽ vươn trổi, giữa bụi rậm, sim sẽ nẩy ngành. Đó là việc lạ làm cho Thiên Chúa vang thánh danh: đó là dấu hiệu vĩnh viễn không thể tiêu diệt được (55,12-13).
Thiên chúa muốn bạn đầy dẫy phúc lộc của Ngài cho ta. Người muốn săn sóc chúng ta bằng mọi cách và ngay cả trong những chi tiết nhỏ nhặt nhất của đời sống hằng ngày của chúng ta. Còn chúng ta thì cứ ngừng ở các hoàn cảnh và biểu hiện bên ngoài của kế hoạch Chúa, cứ tự hỏi vì sao và thế nào Chúa làm này làm nọ, trong lúc Chúa truyền cho ta nhìn Chúa và tin tưởng nơi Ngài.
Ởû giai đoạn này, cũng như lúc ta trở lại với Chúa, ta phải chấp nhận ý Chúa rồi mới có thể hiểu được. Ta phải nhất quyết gạt sang một bên ý muốn của chúng ta là biết hết và hiểu chính xác điều Chúa đang thực hiện, và ta phải đặt tất cả ý chí của chúng ta và quyết định vững chắc tin ở lờøi Chúa. Kế hoạch của Chúa đối với chúng ta là tốt đẹp. Lời Chúa đã khẳng định với chúng ta như thế. Vậy chúng ta có tin không?
Kế hoạch của Chúa đối với ông Giób cũng tốt đẹp nữa. Nhưng đó là một kế hoạch đã thử thách đức tin của ông một cách ghê gớm và làm cho trí khôn của ông không biết đàng nào mà lý luận được nữa.
Ông Giób là một người liêm chính. Chính Chúa nói về ông : Thật không ai ở thế gian này bằng người, một kẻ thanh liêm ngay thẳng, kính úy Chúa và giữ mình khỏi sự ác (Job 8) Việc gì đã xảy đến cho ông Giób vậy? Ông đã mất hết tài sản của ông. Chiên của ông, mùa màng của ông
Và một hôm, ông mất cả con cái, khi mái nhà sụp đổ.
Nếu việc ấy xảy đến cho bạn hoặc một trong những người láng giềng của bạn, bạn sẽ nói việc ấy do Thiên Chúa hay do Satan mà đến?
Trong trường hợp ông Giób, đúng là Satan. Nhưng việc ấy đã xảy ra cách thế nào? Satan đến gặp Chúa và xin phép Chúa làm khổ ông Giób.
Satan có thể đóng một vai trò trong thảm kịch cuộc sống của chúng ta, nhưng nó vẫn chỉ là một diễn viên mà thôi. Chính chúa mới là đạo diễn và là Giám đốc.
Ông Giób đã phản ứng thế nào? Ông đã xé áo, sấp mình thờ lạy Chúa .
Tôi đã lọt lòng mẹ trần trụi, thì tôi sẽ lại trần trụi chết về. Chúa ban cho tôi đủ mọi sự, này đây Chúa lại cất hết. Tôi xin tán tạ danh Người (Giób 1/21).
Thế vẫn chưa xong. Satan trở lại, xin phép thử thách ông Giób thêm nữa - và Chúa đã cho phép Satan.
Lần này, thân mình ông Giób đầy lở loét. Ông trông dị dạng, ghê tởm đến nỗi không ai dám nhìn ông cả. Ngay cả vợ ông cũng bảo ông nguyền rủa Chúa và chết đi. Những ngườøi láng giềng trước kia vẫn kính trọng ông Giób, đâm ra chế nhạo ông và tránh xa ông. Ba người bạn tốt nhất của ông đến nói với ông rằng: nỗi đau khổ của ông do tội lỗi của ông mà ra và khuyên ông ăn năn hối cải.
Ông Giób không hề nghi ngờ là chính Thiên Chúa đã gây nên tai hoạ cho ông. Ông xin Chúa tha cho ông nhưng với niềm xác tín rằng không phải vì tội lỗi của ông mà ông đau khổ. Trong thâm tâm, ông biết rằng ông ngay thẳng và tin tưởng ở Chúa Dù Chúa có giết tôi, tôi cũng cậy trông nơi Ngài. Tôi sẽ bênh vực hạnh kiểm của tôi trước nhan Người (Giob 13,15). Ông Giób tin chắc rằng Thiên Chúa chịu trách nhiệm về sự thử thách của ông, nhưng lý trí của ông chất vấn ông tại sao và làm sao ông phải chịu khổ sở. Những câu hỏi đó, chúng ta cũng chẳng đã đặt ra, lúc này hay lúc khác đó sao?
Lạy Chúa, tại sao Chúa cho phép người này người kia phải nghèo khó? Tại sao Chúa cho phép kẻ vô tội bị đau khổ? Tại sao những người làm điều dữ lại sống sung sướng và không có vấn đề? Tại sao Chúa không nhậm lời con? Lạy chúa, tại sao Chúa không để con chết đi cho rồi để con khỏi khổ và con được ở bên Chúa?
Quyền Năng Của Tâm Hồn Biết Ca Ngợi : Chương V - Phần 5
Khi cuối cùng, Chúa trả lời cho ông Giób, đó là lời quở trách nghiêm khắc của một người Cha đối với con mình. Khi ta đổ nền móng địa cầu thì con ở đâu? Con hãy nói đi, nếu quả thực con thông sáng
.
Trong đời sống của con, đã có lần nào con sai khiến rạng đông, định chỗ cho bình minh
Chớp chia ra theo phía nào để phát tia lửa khắp mặt đất? Đố con nói được xiềng xích Sao Mão, tháo được dây buộc Sao Cồng? Đốù con khiến được lối Sao Mai xoay vần theo mùa, và dẫn được đường cho Sao Bắc Đẩu luôn với chòm sao theo nó?
Ai cho hạc có tài, ai cho gà trống nên khôn ?
Con ban cho ngựa tính mạnh dạn chăng? Con phủ lông gáy rung rinh lên cổ nó chăng ?
Không có con bảo, phượng hoàng chẳng được tung bay và lập tổ trên ngọn núi cao vót sao ?
Kẻ phản đối Đấng Toàn Năng đã đầu hàng chưa? Kẻ bình phẩm Chúa đáp lời nữa chăng ? (Giób 38,4-12-24.31-32.36. 39.5.19.27;40,2).
Và ông Giób đã thưa: Con đã nói vô lý, con còn dám đáp gì nữa? Con thà lấy tay bịt miệng lại còn hơn. Con đã nói một lần rồi, con không muốn nói lại nữa. Nói hai lần là dư, nên con quyết định không nói thêm điều gì cả (Giób 40,4-5).
Chúa kể tiếp các việc kỳ diệu Ngài đã tạo dựng nên: các loài thú, sức mạnh, tập quán của chúng quyền uy cao cả của Ngài.
Ai dám đương đầu với Ta? Ta không mắc nợ ai điều gì cả. Mọi vậït dưới vòm trời đều thuộc quyền ta Giób 41,2-3).
Ông Giób đáp lời Chúa rằng: Con biết Chúa là Đấng toàn năng; việc gì Chúa nghĩ ra, Chúa đều thực hiện được hết. Con chính là kể làm rối ý Chúa định bằng những lý lẽ vô nghĩa. Con nói như kẻ vô tư và những điều vượt quá trí khôn con vốn không hiểu
Đang khi con chỉ được biết Chúa qua những tiếng đồn. Song kỳ này mắt con đã được thấy Chúa nhãn tiền. Nên những lời con đã nói, con xin rút lại hết. Con hối hận nằm trên tro bụi (Giób 42,2-3, 5-6).
Chúa cũng nghiêm nghị quở mắng ba người bạn của ông Giób đã hiểu sai lý do vì sao ông Giób bị đau khổ. Chúa đã cho họ thấy việc phán đoán sai lầm của họ và ra lệnh cho họ dâng một của lễ toàn thiêu và Chúa bảo ông Giób cầu nguyện cho họ.
Ba người bạn đã làm theo lời Chúa và Giób cầu bầu cho các anh em, nên Thiên Chúa động lòng thương cứu giúp người khỏi cảnh khốn khó, và lại phú ban cho người mọi ơn phúc và tài sản gấp đôi khi trước Giób 42,10).
Ta nên ghi nhận rằng Thiên Chúa đã chúc phúc cho ông Giób sau khi ông ta đã chúc lành cho những kẻ đã tố cáo ông một cách bất công. Ông Giób đã học được một bài học. Không bao giờ ông dám chất vấn Chúa về cách Ngài cai quản vũ trụ nữa. Ông cũng không bao giờ nhìn hoặc nghe điều gì với khả năng tự nhiên của ông mà thôi đâu; từ nay ông sẽ xử dụng cái nhìn mới của ông, cái nhìn thiêng liêng .
Thiên Chúa đã có một kế hoạch tuyệt hảo đối với ông Giób. Các thử thách của ông được Satan thực hiện nhưng Chúa đã cho phép như vậïy để tăng triển đức tin và sự khôn ngoan của ông và tỏ cho ông thấy uy quyền và tình thương của Chúa .
Thiên Chúa có một kế hoạch tuyệt hảo cho bà Ruth, người xứ Moab. Nhưng người ta có cảm tưởng rằng tai ương đã theo đuổi bà. Bà goá chồng, sau đó bà trở về nhà mẹ chồng ở Bêlem; cả hai đều nghèo đến nỗi Ruth phải đi mót lúa trong đồng ruộng những nhà phú hộ; sự việc xảy ra như thế xem như không song suốt, đẹp đẽ phải không? Nhưng Ruth tin tưởng nơi Chúa. Ngoài đồng bà gặp ông Booz, một người có họ với chồng quá cố của bà. Booz yêu Ruth và họ cưới nhau. Chương trình của Chúa đã thành công. Ruth trở thành tổ mẫu của vua David.
Ta phải nói gì đây về kế hoạch tuyệt hảo của Thiên chúa đối với Giuse? Chúa đã định cho Giuse trở thành phụ tá của vua xứ Ai Cập, vì Ngài dự tính dùng ông đúng lúc về sau này để cứu dân Israel khỏi nạn đói kém.
Giuse bị anh em bán làm nô lệ, cho một đoàn lái buôn đi về Ai Cập. Đó là màn đầu tiên của kế hoạch Thiên Chúa trong lúc anh em của Giuse không hề ngờ rằng họ đã phục vụ ý định của Thiên Chúa. Họ ghét người anh em của họ và chỉ muốn một điều là tống cổ nó đi cho xong. Về sau, Giuse trở thành người tin cậy của một người Ai Cập, giầu có và quyền thế, dường như ông đã được lên cao về mặt xã hội nhưng ông lại bị tố cáo oan là đã mưu toan hãm hiếp vợ người Ai cập kia và bị tống giam. Nếu việc này xảy ra cho bạn, bạn có nghĩ rằng kẻ thù vừa thắng thế không? Hay là bạn đã chấp nhận việc ấy như là một điều nằm trong chương trình hoàn hảo của Thiên Chúa?
Trong ngục tù, Chúa cho Giuse tiếp xúc với quản viên ngự tửu của vua Ai cập và cho Giuse giải thích được giấc mộng của ông ấy. Giuse nhờ quản viên đó biện hộ cho ông bên cạnh nhà vua; quản viên đã hứa nhưng một khi được tha, ông lại quên mất. Giuse còn ở tù hai năm nữa. Tất cả câu chuyện này xem như tai họa dồn dậïp trên ông. Nhưng Chúa có ngày giờ của Ngài. Vua Ai cập còn hai giấc mộng mà không ai giải thích được. Bỗng nhiên quản viên ngự tửu sực nhớ đến người mà ông đã gặp trong nhà tù mấy năm về trước. Giuse được giới thiệu với vua Ai cập và Chúa mặc khải cho ông ý nghĩa các giấc mộng: 7 năm đói kém kinh khủng tiếp theo 7 năm được mùa. Vua Ai cập chấp nhận lời giải thích mộng của vua và đặt Giuse phụ trách mùa màng và việc dự trử lương thực trong 7 năm được mùa, và phân phối lương thực trong 7 năm hạn hán.
Khi anh em của Giuse đến Ai cập mua lúa, Giuse đã cho họ nhận ra mình. Sợ hãi và hối hận, họ sấp mình xuống trước mặt ông. Nhưng Giuse nói với họ :
Anh em đừng phàn nàn vì tội ác đã phạm làm gì. Đừng hối hận vì đã bán em sang bên này. Chính Chúa quan phòng cho em sang trước, để rồi sau cứu mạng sống cho cả gia đình. Em sang đây không phải vì tội ác các anh phạm đâu, nhưng vì Thiên Chúa cho em làm quan thày vua Pharaon, cai quản nhà vua, trị nước Ai cập.
Các anh mưu bán em, nhưng Thiên Chúa hoá tội ác thành việc thiện, cứu sống một dân lớn (Sang thế 45,5-8 ; 50,20).
Thiên Chúa đã hoá tội ác thành việc thiện! Chúng ta chấp nhận rằng Thiên Chúa có thể làm cho mọi sự đều gây ích cho chúng ta, như Kinh thánh dạy, nhưng chúng ta nghĩ rằng Chúa chỉ dùng tất cả những gì xảy đến cho chúng ta, lợi dụng nó tối đa và chúc lành cho ta qua sự việc đó. Nhưng Thiên Chúa không bao giờ bị động. Vai trò của Ngài không chỉ biến đổi ác thành thiện mà thôi đâu. Chính Ngài là Đấng khởi xướng mọi sự ! Chúng ta phải luôn luôn nhớ điều ấy.
Vâng, Thiên Chúa nắm tất cả phần sáng kiến trong cái chết của Stêphanô (Tông đồ công vụ 7). Stêphanô là một người đầy Thánh Linh và trung thành phụng vụ Chúa. Khi Stêphanô chết, một thanh niên hăm hở bách hại Hội Thánh, Saolê thành Tarsô, có mặt trong số các khán giả.
Stêphanô vững tin rằng Chúa làm chủ tình thế vì trong lúc người ta ném đá ông, ông qùy gối và nguyện lớn tiếng: Lạy chúa, xin đừng kể cho họ tội này và ông chết. Ông biết rằng những kẻ hành hình ông chỉ nghĩ đến sự ác mà thôi, nhưng mà Thiên Chúa đã dự tính việc này để gây nên sự thiện.
Bạn có thể nào tạ ơn vì việc hạ sát một người Kitô hữu. Đối với bạn, giống Chúa Kitô nhất không? Và bạn có thể tin rằng Thiên Chúa dùng thảm kịch đó để nhằm vinh danh Ngài không?
Saolê thành Tarsô đã trở thành Tông Đồ Phaolô, sau một kinh nghiệm cải hoán đặc biệt trên con đường Đamas. Trong lúc rao giảng Tin Mừng, người đã nếm đủ phần tai hoạ và khó khăn!
Một hôm đến thành Philipphê, Phaolô và Sila bị vu cáo là phá rối an ninh của thành phố đó. Họ lột áo xống các ngài và đánh đòn nhừ tử, rồi họ tống các ngài vào khám sâu nhất và cùm chân các ngài lại (CVTĐ 16,20-24).
Tuy vậy, Phaolô và Sila không nghĩ rằng Satan vừa mới thắng một trận và Chúa đã bỏ các Ngài. Các Ngài xác tín rằng Chúa đã gọi các Ngài đi rao giảng ở thành Philiphê và Chúa làm cho mọi sự rốt cuộc thực hiện chương trình trọn hảo của Ngài đối với Phaolô và Sila. Vậy nên các Ngài không hề than van, rên rỉ chút nào. Các Ngài cũng không xin Chúa cứu giúp Các Ngài ở trong ngục, với các vết máu khô trên các vết thương đau nhức, không cựa quậy được. Chân bị cùm và các Ngài cầu nguyện và hát lời tán tạ Thiên Chúa.
Bỗng khoảng nửa đêm, có một trận động đất lớn, các cửa ngục tù mở tung ra và xiềng xích rơi khỏi chân mọi người bị giam. Người canh ngục hoảng hốt, tuốt gươm ra định tự vẫn, vì ông ta tự nghĩ rằng các tù nhân đều trốn thoát hết rồi. Nhưng Phaolô la lên để trấn an ông ta rằng, tất cả các tù nhân còn đủ mặt đó. Người canh ngục đến sấp mình dưới chân Phaolô mà van xin : Tôi phải làm gì để được cứu? Bắt đầu bằng viên cai ngục và tất cả gia đình ông, dân thành Philipphê đã đón nhận Tin Mừng. (CVTĐ 16)
Thiên Chúa đã có một kế hoạch trọn hảo đối với thành Philipphê. Ngài phái Phaolô và Sila đến đó để làm chứng tá và những người này có lòng tin rằng Thiên Chúa thực hiện kế hoạch của Ngài, cho dù Ngài dùng những hoàn cảnh mà họ không định trước được.
Chúng ta luôn luôn muốn tưởng tượng điều Thiên Chúa sắp làm. Chúng ta trông thấy Ngài hành động trong một trường hợp nào đó và khi xảy đến một trường hợp như vậy, ta mong đợi Ngài can thiệp đúng y như thế. Nhưng Phaolô không luôn luôn được Chúa làm phép lạ cho thoát ngục. Đôi khi ngài phải ở hàng năm trong tù.
Phaolô đã gặp nhiều gian truân trong đời ngài. Nào là bị ném đá và tưởng đã chết rồi. Nào đắm tàu, bị rắn cắn, đau ốm bệnh tật và bị bách hại
Nhưng không bao giờ Ngài nghĩ rằng Chúa không điều khiển mỗi biến cố trong cuộc đời ngài nữa. Mọi sự đối với ngài đều là đề tài để vui mừng và tán tạ Chúa. Phaolô biết rằng đau khổ là tốt cho Ngài .
Quyền Năng Của Tâm Hồn Biết Ca Ngợi : Chương V - Phần 6
Trong nhiều năm, tôi phải chịu những cơn đau nhức kinh khủng. Tôi tham khảo Kinh Thánh, tìm những lời Chúa hứa chữa lành bệnh nhưng chẳng bao giờ thấy lý do nào cho cực hình đó - nó vẫn không rời tôi .
Đồng thời tôi bị day dứt bởi những sự nghi nan. Liên lỉ tôi để trí buông theo lý luận về nguyên do những đau khổ của tôi. Những tư tưởng quay cuồng trong đầu tôi. Tại sao Chúa không làm gì hết để chữa lành tôi?
Mày cầu nguyện cho kẻ khác và họ được lành. Còn mày, mày vẫn tiếp tục đau.
Tôi trằn trọc nhiều đêm, đau nhức không sao ngủ được, và các tư tưởng đó luôn luôn ám ảnh tôi : kìa xem! mày khổ sở thật! Nếu Chúa công bình và Ngài biết thật mày khổ bao nhiêu, Ngài sẽ không giận mày nếu mày tự vẫn. Chỉ cần làm thế nào cho kẻ khác không nghĩ rằng mày đã tự vận thôi. Không ai sẽ bối rối về việc đó, còn mày, mày sẽ được thoát khổ
.
Những tư tưởng ấy cũng như các lý lẽ của những ông bạn của ông Giób, có vẻ hợp lý khi ta bị đau khổ dày vò. Nhưng kỳ thực, đó chỉ là những điều xảo trá do chính Satan, cha sự lừa dối, đặt bày ra, nó chỉ có thể mon men đến với ta, với sự cho phép của Thiên chúa thôi.
Những kẻ cáo tội ta và phá quấy ta buộc phải trốn, khi ta đến gần Thiên Chúa và ta nghe lời sự thật của Ngài.
Những cơn nhức đầu của tôi không hết ngay liền được nhưng tôi quyết tâm tin rằng Chúa không thể cho điều gì xảy ra cả nếu nó không sinh ích cho tôi. Vì vậy chứng nhức đầu của tôi cũng nhằm gây ích cho tôi, và mỗi lần tôi lại cảm tạ, ngợi khen Chúa vì nó. Lúc bấy giờ, một điều kỳ diệu bắt đầu xảy đến trong tôi. Việc này cò vẻ kỳ lạ thật nhưng chứng nhức đầu của tôi bắt đầu gây ích thực sự cho tôi. Càng đau, tôi càng cảm tạ ngợi khen Chúa; và do đó tôi cảm nghiệm một niềm vui mới mẻ, sâu xa, tràn ngập tất cả người tôi
Quyền Năng Của Tâm Hồn Biết Ca Ngợi : Chương V - Phần 7
Mục sư Richard Wurmbrend thuật lại những gì xảy đến cho người trong các trại giam, khi nỗi đau đớn thể xác và sự đầy đọa tinh thần quá mức chịu đựng được. Ba năm giam giữ một mình và tra tấn đe dọa làm cho người mất trí. Trong lúc hết sức chịu đựng, người vẫn tiếp tục tin tưởng nơi Thiên Chúa và ngợi khen Ngài vì lòng nhân từ, ái tuất của Ngài luôn hiện diện. Chính lúc đó niềm hân hoan bắt đầu xâm chiến toàn thể người mục sư và tràn ngập xà lim của người.
Thiên Chúa đã định trước những đau khổ của người sẽ đem lại điều tốt lành . Sứ vụ Richard Wurmbrend bây giờ chiếu tỏa khắp thế giới vì những gì người đã chịu.
Thánh Vịnh 18,30 nói :Đường lối của Chúa trọn hảo. Lời của Chúa được thử thách: Ngài là thuẫn đỡ những ai trông cậïy nơi Ngài (TV 18,30).
Đường lối Chúa có thể dẫn ta qua những trận chiến khốc liệt, những cơn bão táp dữ dội, qua nước hoặïc qua lửa; nhưng khắp mọi nơi sự hiện diện của Chúa theo dõi ta và bàn tay Ngài dẫn dắt ta, Thánh Kinh nói vậy.
Làm sao có thể nghi ngờ được? Thiên Chúa đã tạo dựng nên người chiến sĩ với vũ khí của anh ta. Ngài đã tạo nên bão táp, lửa và nước đại hồng thủy. Mọi sự đều ở dưới sự kiểm soát hoàn toàn của Ngài.
Tại sao Chúa lại gây nên một cơn bão táp trên hồ nơi Chúa Giêsu đang đi thuyền với các môn để Ngài vậy? Chỉ để chứng tỏ quyền uy của Ngài trên thiên nhiên (Mc 4).
Tại sao Chúa cho phép một người mù bẩm sinh?
Một hôm cùng đi với Chúa Giêsu, môn đệ Ngài thấy một người mù từ thuở mới sinh. Họ hỏi Ngài rằng: Thưa thầy ai đã phạm tội, nó hay cha mẹ nó, để nó phải sinh ra mù loà vậy? Chúa Giêsu đáp lại: Chẳng phải tội nó hay cha mẹ nó phạm, song để nơi nó, công việc Thiên Chúa được tỏ hiện (Jn 9,2-3).
Các môn đệ lý luận theo con người, còn Chúa Giêsu, Ngài nhìn trường hợp này dưới sự quan phòng và quyền năng của Thiên Chúa.
Chính cách nhìn của chúng ta xác định thái độ của chúng ta.
Tôi đã nhận được hàng trăm bức thư của các độc giả quyển Từ ngục tù đến ca ngợi. Ba phần tư các bức thư ấy do những người ngợi khen Chúa vì một hoàn cảnh khó khăn và đã được những kết quả lạ lùng. Những người khác cũng kể những hoàn cảnh giống thế, nhưng họ không tin được là Chúa hành động, nên họ không thể ngợi khen Ngài được. Chán nản và tuyệt vọng họ sống trong sựï thất bại.
Sự khác biệt không nằm trong hoàn cảnh, nhưng nằm trong phương hướng ta đã lựa chọn. Nhiều người kể cho tôi nghe về cái chết của một thân nhân hay bạn bè.
Một bà viết : Tom đau nhiều lắm, chúng tôi đưa anh đến những buổi cầu nguyện trị bịnh trong khắp xứ. Có một lúc anh đã khá và hy vọng chúng tôi đã trở lại. Rồi bịnh ung thư lại tái phát và sau nhiều tháng đau đớn. Tom đã chết. Làm sao Thiên Chúa có thể vô lý như thế? Tôi không thể nào tin được rằng thực sự Chúa muốn Tom chết trẻ như vậy. Anh có đạo và muốn phụng sự Chúa. Nếu trước hết Chúa chỉ muốn dạy chúng ta một điều gì, vậy tại sao Tom phải đau đớn nhiều như thế? Ngợi khen Chúa vì việc đã xảy ra như thế, đối với tôi thật là phi lý!
Và đây là một bức thư khác.
Charles đã đón nhận Đức Kitô chưa đầy một năm nay. Anh là chứng tá xán lạn của Chúa. Sáu tháng sau anh bị ung thư. Anh phải mổ hai lần, nhưng nhọt ở phổi tái phát. Anh mời các vị kỳ cựu trong Giáo Hội của anh đến xức dầu và cầu nguyện cho anh được lành. Khi khám xét lần sau, nhọt đã biến mất. Charles rất sung sướng và ngợi khen Chúa. Vài tháng sau, anh bị nhức đầu dữ dội. Người ta đưa anh vào bệnh viện để khám, và hai ngày sau anh chết; ung thư não.
Một mục sư, bạn của gia đình ấy, đáp máy bay đến giảng trong buổi lễ an táng. Trong chuyến bay, ông nói chuyện với người trẻ tuổi ngồi cạnh ông, kể lại câu chuyện của Charles và trước khi máy bay hạ cánh, anh ta đã hiến dâng đời anh cho Chúa. Đến Nouvelle Orléans, vị mục sư đổi máy bay và ngồi cạnh một thiếu phụ. Bà hỏi người đi đâu và người kể câu chuyện anh Charles nữa. Trước khi máy bay hạ cánh, bà ấy cũng đón nhận Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Thế. Cuộc lễ an táng là một dịp ca ngợi Thiên Chúa vì tất cả những gì Ngài đã thực hiện trong cuộc đời của Charles. Ở nhà nguyện ra, hai người đàn ông đón nhận Đức Kitô. Sau đó quan tài của Charles được chở bằng máy bay đến nhà của Charles để an táng. Trong suốt buổi lễ này tôi không thể rời mắt khỏi gương mặt của quả phụ trẻ tuổi, bà chiếu tỏa niềm vui và bình an nội tâm. Trong năm đó, bà và Charles đã khám phá được niềm vui ngợi khen Chúa vì mọi sự sự chết đã bị vùi trong toàn thắng (1 Cor 15,54). Bà nói với tôi: Tôi không có lý do gì để than khóc cả. Vinh danh thiên Chúa!
Hai bức thư trên đây trình bày những hoàn cảnh giống nhau, nhưng hai bức thư ấy khác nhau biết bao! Một bức diễn tả sự thất bại, bức kia sự toàn thắng. Một bức thì hợp lý, bức kia mang cái nhìn quy hướng về Đức Kitô.
Vâng, Kinh Thánh dạy rằng chúng ta có thể nhìn và suy tư như Đức Kitô.
Anh em hãy có nơi anh em những tâm tư như đã có trong Đức Giêsu Kitô (Phil 2,5) Và hãy để Thần khí canh tân đổi mới anh em thấu tận trí khôn (Ep 4,23). Phaolô không đề nghị một điều không thể nào có được đâu. Nhưng từ ngữ chủ chốt trong hai đoạn này là Hãy có nơi anh em và canh tân đổi mới. Bởi sức chúng ta, chúng ta không thể nhìn và nghĩ như Đức Kitô, nhưng chính Thiên Chúa canh tân đổi mới cách nhìn của chúng ta nếu chúng ta để cho Chúa làm.
Nếu chúng ta muốn sự biến cải đó, chúng ta có thể thưa với Chúa và chờ đợi Ngài thực hiện. Phần việc của ta là tin rằng Ngài đã làm.
Đavid muốn am hợp với ý Chúa về chính cuộc đời của người, nhưng tự biết rằng không thể nào đổi được con tim hỗn loạn của mình, người xin với Chúa : Xin cất khỏi con mọi xảo trá và thất tín, và trong ơn nghĩa Chúa xin đặt luật Chúa vào lòng con. Con đã chọn con đường sự thật và trung tín; và đã đạt chiếu chỉ của Ngài trước mắt con
. Con muốn (không những bước đi mà) chạy trên con đường thánh chỉ Ngài, nếu Chúa ban cho con một quả tim tốt lành (TVG 119,20. 30. 32).
Đavid biết rằng điều duy nhất ta có thể làm được là muốn con đường tốt. Chính chúa cất sự dữ để tạo nên sự thiện và ban cho Đavid một con tim tốt lành.
Đối với chúng ta, Chúa cũng sẽ làm như thế, nếu ta quyết định để Chúa hành động và nếu ta vững tin ở sự hoán cải Chúa đã thực hiện. Dù hoàn cảnh thế nào đi nữa, ta cũng cứ việc ngợi khen và cảm tạ Chúa. Những hoàn cảnh ấy là phương tiện Chúa đã chọn để cất sự dữ và gây sự thiện nơi chúng ta, và ban cho chúng ta một quả tim tốt lành.
Việc ngợi khen giải tỏa quyền năng của Thiên chúa trong đời sống chúng ta và trong các hoàn cảnh vì: Ngợi khen là tin một cách chủ động. Nếu chúng ta hoàn toàn tin tưởng nơi Thiên Chúa, Ngài được tự do hành động, và luôn luôn toàn thắng trong hoàn cảnh. Hoặc là ta khỏi chết, hoặc là cái chết không còn nọc độc của nó nữa.
Ngợi khen là liên lỉ chấp nhận và liên lỉ chấp nhận lại những gì Chúa làm trong đời ta. Chúng ta đi vào thái độ ấy bằng một động tác của ý Chúa - bằng quyết tâm ngợi khen Chúa bất chấp ta cảm thấy thế nào. Đavid viết : Khi con run sợ, con muốn cậy trông vào Chúa - Với (sự giúp đỡ của) Chúa, con tán tụng lời Ngài, nơi Ngài con đặt cậy trông (TV 56,34, 44).
Lòng con đã sẵn, lạy Chúa, này lòng con đã sẵn : con muốn hát ca mừng Chúa (Tv 57,7).
Quyền Năng Của Tâm Hồn Biết Ca Ngợi : Chương VI - Phần 1
C H Ư Ơ N G VI
HẾT THAN VÃN
Gặp buổi sáng đẹp trời, bạn đi chơi, chắc bạn đã hít một hơi không khí mát mẻ và cám ơn Chúa vì sự tạo dựng tuyệt trần của Ngài.
Nhưng bạn đã làm gì khi ngày mai nhìn qua cửa sổ bạn thấy bầu trời xám xịt và mưa rơi? Bạn có cảm thấy xuống tinh thần ngay không? Có lẽ bạn không nói lớn ra nhưng thực tình, bạn đã cảm thấy gì nào?
Có phải bạn có thói quen chỉ cám ơn Chúa vì những gì bạn thích và lẩm bẩm, dù chỉ có tí xíu thôi, khi mọi sự không như ý bạn không? Thật sự, than vãn một chút có hại gì đâu ? Điều này không quan trọng lắm. Nó có thay đổi gì đâu!
Có chứ! Nó thay đổi tất cả. Mọi sự đều tùy thuộc cách ta phản ứng đối với những việc nhỏ trong cuộc sống.
Những cố vấn hôn nhân sẽ nói với bạn rằng sự đổ vỡ của một gia đình thường do những chuyện ba láp. Chỉ cần có một cái đinh nhỏ cũng đủ để chọc thủng một lốp xe. Một lỗi kỹ thuật nhỏ có thể làm tan một chiếc máy bay khổng lồ. Một hiểu lầm đơn giản có thể gây nên một chiến tranh. Một lời tức giận có thể gây một cuộc bắn giết lẫn nhau. Những điều nhỏ nhặt quan trọng lắm: chính những sự nhỏ nhặt ấy quyết định cuộc sống hằng ngày của ta: tính gắt gỏng của ta khi ăn sáng và tính nóng nẩy của ta lúc xếp hàng ở quầy siêu thị, chiều thứ sáu
.
Ta dễ càu nhàu đến nỗi thường ta không ý thức là ta đang càu nhàu. Nhưng than vãn là ngược lại với cảm tạ. Những lời ta thán trái ngược với đức cậy trông. Trách móc vợ bạn vừa để cho miếng thịt cháy là ngược lại với một thái độ âu yếm.
Theo tự điển, than vãn là một sự đổ lỗi . Kỳ thực, bởi các lời lẩm bẩm ta thán của chúng ta, chúng ta đổ lỗi cho Chúa không biết điều khiển các chi tiết trong ngày của chúng ta. Một thái độ ngợi khen giải tỏa quyền năng của Thiên Chúa trong đời sống chúng ta: một thái độ lẩm bẩm và than vãn làm cho quyền năng đó bị kẹt.
Anh em chớ kêu ca, như ít người trong họ đã kêu ca, và đã bị tiêu hủy do tay thần tru diệt; các điều ấy đã xảy ra cho họ để làm gương và đã được viết lại để sửa dạy ta
.(1 Cor 10, 10- 11).
Phaolô nói về thái độ dân Israel trong cuộc hành trình về đất hứa. Họ đã làm gì vậy ? Hậu quả khủng khiếp của thái độ của họ ra sao?
Dân chúng ta thán lên tận tai Đấng Tối Cao, rồi cơn thịnh nộ của Đấng tối Cao đã giáng lên họ
. (Dân Số 11,1).
Maisen đã dẫn dân Israel ra khỏi Ai Cập, và Thiên Chúa đã ban cho họ những dấu đặc biệt về sự hiện diện và chăm sóc của Ngài. Ngài đã rẽ đôi biển đỏ cho họ chân ráo đi qua. Rồi Ngài đã cho nước tràn ngập đạo binh Ai Cập đuổi theo họ. Thiên Chúa đã hứa dẫn đưa dân Ngài đến đất hứa. Ngài đã hứa nuôi nấng họ trong sa mạc và xua đuổi kẻ thù trước mặt họ, với điều kiện duy nhất là họ cậy trông nơi Ngài! Để chứng tỏ sự hiện diện của Ngài, một đám mây đi với họ ban ngày và một cột lửa ban đêm.
Nhưng dân Israel không cậy trông nơi Thiên Chúa. Họ kêu ca một cách chua cay, trước hết vì thiếu nước và lương thực; rồi vì họ không thích nước Chúa ban và chán thức ăn Chúa ban cho họ, họ cằn nhằn, thổi phồng những chuyện nhỏ nhặt nhất
. Và hậu quả ra sao?
Thiên chúa đã kiên nhẫn chiều theo những đòi hỏi của con cái khó tính của Ngài. Ngài chiều nữa, chiều mãi, Ngài thỏa mãn các nhu cầu của họ
. Cho đến lúc rành rành rằng họ là bất trị! Khi họ chán Manna và xin thịt, Chúa đã trả lời là Ngài sẽ ban thịt cho họ, không những một hay hai ngày mà cả một tháng, cho đến nỗi các ngươi chán ngấy, bởi vì các ngươi đã từ bỏ và khinh chê Đấng Tối Cao (Dân số 11,20).
Trong bốn mươi năm dân Do thái đã lang thang trong sa mạc và mỗi khi gặp khó khăn họ đã kêu ca chua chát và đòi trở về với các nồi thịt ở Ai Cập.
Tại sao họ phải trải qua bốn mươi năm để đi không đầy 300 cây số? Dù có đàn bà, trẻ con và súc vật, họ vẫn có thể làm cuộc hành trình đó trong vài tuần thôi. Nhưng họ bị giữ lại trong sa mạc đó vì những sự lẩm bẩm của họ và sự từ chối của họ không chịu tin rằng Thiên Chúa giữ lời hứa và đáp lại mỗi một nhu cầu của họ.
Trong số những người đã trông thấy những người khổng lồ và các thành trì kiên cố, chỉ mình Giôduê và Calép là vẫn tin tưởng ở lời Thiên Chúa hứa ban nước này cho dân Israel thôi. Nhưng chẳng ai chịu nghe Giôduê và Calép cả. Thiên chúa chịu đựng hết nổi, Ngài thề để cho dân Israel chết ngạt trong các lời kêu ca của họ. Không một ai trong những người đã than vãn được đặt chân lên đất hứa. Trái lại toàn thể dân Israel sẽ lang thang trong sa mạc trong 40 năm cho đến lúc một thế hệ khác lớn lên, thế hệ này sẽ vào Đất hứa dưới sự hướng dẫn của Giôduê và Calép, hai người sống sót trong cuộc hành trình trong sa mạc.
Thiên Chúa đã kiên nhẫn với họ trong 40 năm mặc dầu họ đã hạch sách và thách đố Ngài; Ngài vẫn tiếp tục làm những phép lạ cho họ. Chúa phán: Ta đã ngán lớp người này, luôn luôn lòng dạ chúng sai lạc, chúng không biết đường lối của Ta (He 3,9-10).
Quyền Năng Của Tâm Hồn Biết Ca Ngợi : Chương VI - Phần 2
Chính những lẩm bẩm nhỏ nhen của họ đã làm cho họ không vào được đất hứa.
Cũng vậïy những sự than vãn và kêu ca của chúng ta chống Chúa trong những điều nhỏ nhặt có thể làm cho chúng ta không hiểu được dự định tuyệt hảo của Thiên Chúa đối với đời sống chúng ta .
Hỡi anh em, hãy coi chừng kẻo người nào trong anh em có lòng xấu xa bất tín mà phản bội xa Thiên Chúa hằng sống (Hipri 3,12).
Dân Israel đã lẩm bẩm vì bất tín: chính sự bất tín này là cội rễ tất cả các sự than vãn nho nhỏ của chúng ta. Kỳ thực, chính sự bất tín đã ngăn cản dân Israel vào đất Canaan. Thiên Chúa đã có những dự tính to tát hơn nhiều cho họ, không phải Ngài chỉ muốn đưa họ vào một nơi nào đó thôi đâu. Đất hứa cũng là một nơi an nghỉ trọn vẹn - một thái độ cậy trông và bình an nội tâm hoàn hảo. Vậy ta phải sợ là trong khi lời hứa được vào nơi an nghỉ của Người còn lưu tồn, có ai trong chúng ta lại nghĩ rằng mình đã hỏng dịp. Vì ta cũng đã được lãnh lấy Tin Mừng như những người kia. Những lời họ đã nghe chẳng sinh ích gì cho họ, bởi không dùng lòng tin chung hợp với những kẻ đã nghe. Quả thật, ta, những kẻ tin, ta được vào nơi an nghỉ, chiếu theo điều đã phán.
Như ta đã thịnh nộ mà thề:
Không bao giờ chúng sẽ được vào nơi an nghỉ của Ta, dẫu rằng công việc Thiên Chúa đã hoàn tất từ lúc tạo thiên lập địa (Hr 4,1-3). Thiên Chúa có một nơi an nghỉ hoàn toàn cho ta ngay từ bây giờ. Không phải sau cái chết, nhưng là ngay bây giờ. Đó là thái độ cậy trông hoàn toàn cậïy nơi Người mà hết thảy chúng ta đều có thể có được bởi lòng tin. Nhưng muốn được vậy, ta phải từ bỏ tội bất tín của ta, các sự lẩm bẩm và cằn nhằn của ta. Bất tín là một lỗi nặng đối với Thiên Chúa.
Chúa Giêsu phán : Tội của thế gian là đã không tin nơi Ta (Gn 16,9).
Bất tín, cũng như mọi tội khác đều là một hành động dụng ý phản nghịch đối với Thiên Chúa; chúng ta lựa chọn tin hoặc không tin.
Theo tự điển, bất tín là từ chối không chịu tin, nghi ngờ, phủ nhận điều đã được xác quyết.
Nếu bất tín là cố ý không chịu tin, thì chúng ta chịu trách nhiệm về thái độ của chúng ta và phải sửa lỗi. Cũng như đối với các tội khác, việc đầu tiên ta phải làm là xưng thú nó ra.
Trong nhiều năm tôi đã tự hào vì không cằn nhằn - nghĩa là tôi không nói lớn lên sự bất bình của tôi. Tôi luôn luôn giữ một bộ mặt tươi cười. Nhưng bên trong, tôi là một con người hay cằn nhằn. Mà bao lâu tôi không tự coi là có lỗi đó, chẳng có gì thay đổi trong lãnh vực ấy.
Tôi nghĩ rằng những sự than vãn của tôi đều chính đáng cả. Tôi cằn nhằn khi tôi ngủ chưa đủ và phải dậy sớm mà thấy mình không khoan khoái dễ chịu. Tôi cằn nhằn bên trong khi tôi trông thấy phòng tắm lộn xộn; tôi lại cằn nhằn nữa khi tôi phải ăn sáng thật nhanh. Tôi cằn nhằn khi có điều gì trục trặc ở văn phòng và người ta không làm công việc tôi đã giao. Tôi cằn nhằn vì các hoá đơn phải thanh toán, vì xe hơi của tôi không nóng máy và vì các đèn đỏ trên lộ trình của tôi . Tôi cằn nhằn khi tôi phải thức khuya để làm việc
và sáng hôm sau tôi lại cằn nhằn nữa. Mãi cho đến ngày Chúa Thánh Linh chỉ cho tôi thấy điều Thánh Kinh nói về việc cám ơn Chúa trong mọi trường hợp. Lúc đó tôi mới ý thức được rằng trong bao nhiêu năm, tôi đã làm ngược hẳn với điều đó mà không thấy tội vạ gì cả.
Bước đầu tiên của tôi trên con đường thay đổi thái độ là nhìn nhận rằng tôi cằn nhằn suốt ngày.
Tôi nghĩ rằng, nếu chúng ta muốn cởi bỏ tội lỗi chúng ta, chúng ta trị chúng một cách cương quyết và tận gốc; trước hết, nhìn nhận chúng, xưng thú ra, xin lỗi Chúa, và dốc quyết không sa ngã nữa. Đoạn, xin Chúa cho ta thoát khỏi các tội đó và thêm đức tin, sức mạnh để chống trả mọi cám dỗ. Cuối cùng, cám ơn Chúa và mạnh dạn tiến bước, tin rằng Chúa đã làm như ta xin.
Sau khi quyết định trước mặt Chúa rằng ta không cằn nhằn nữa và hứa cám ơn Chúa về tất cả những gì thường gây bất bình cho ta, ta có thể mong chờ Ngài hành động.
Ta không thể tự mình biến đổi từ thái độ bất tín, hay cằn nhằn của chúng ta thành những tín hữu đầy lòng biết ơn và vui mừng được. Chỉ mình Chúa mới có thể thay đổi ta như thế thôi. Về phần ta, ta chỉ biết quyết định không kêu ca nữa và ngợi khen cảm tạ Thiên Chúa. Phần ta là đăm đăm nhìn Chúa Giêsu và cám ơn Thiên Chúa về những gì Ngài làm nơi ta. Thực ra chúng ta khám phá rằng Chúa đưa đến trong đời sống chúng ta những hoàn cảnh, mà đến nay, đã gây những sự than vãn của chúng ta, nhưng khi ta thấy những hoàn cảnh đó, ta có thể cảm tạ và ngợi khen Chúa, bởi vì Chúa đã dùng chính những việc trái ý nhỏ nhặt ấy để biến đổi chúng ta. Trước kia những việc đó làm cho ta trượt bước, bây giờ chúng ta nhận biết quyền năng của Thiên Chúa; Chúa dùng chúng để làm cho đức tin của ta lớn lên.
Việc chấp nhận một cách vui vẻ và biết ơn mỗi sự trái ý nhỏ nhặt xảy đến sẽ giải tỏa quyền năng của Thiên Chúa nơi ta và qua ta. Và rồi ta sẽ cảm thấy vui thực sự. Nhưng ta đừng tìm kiếm cảm giác đó như một dấu chỉ thiết yếu, lời ngợi khen và tạ ơn của ta phải dựa trên đức tin nơi lời Chúa chứ không dựa trên các tình cảm của ta .
Một trong những điều mà tôi bực mình trong bao nhiêu năm là tôi không có khiếu nhạc, mỗi khi tôi nghe nhạc hay tôi không thưởng thức trọn vẹn được vì tôi cứ tiếc nuối không biết đàn hay hát đơn ca giỏi .
Một hôm đang dự buổi hòa tấu, một câu hỏi bỗng thoáng qua trí tôi: - Con có biết ơn Chúa vì đã không biết chơi đàn nào cả không? Tôi biết rằng câu hỏi này từ chính Thánh Linh đến và tôi cảm thấy khó chịu trong ghế bành của tôi.
- Lạy Chúa, không, con không nghĩ rằng con biết ơn Chúa .
- Vậy con có muốn biết ơn Ta không ?
- Lạy Chúa, có . Con muốn và con hiểu rằng đó là điều Chúa muốn cho con. Chúa có thể ban cho con năng khiếu nhạc và cho phép con phát triển tài năng đó, nếu đó là ý Chúa. Con cám ơn Chúa đã làm ra con như ý Chúa muốn .
Nói thế, tôi tràn ngập một niềm bằng an sâu xa và tôi ý thức rằng tôi thật sự sung sướng với con người thật của tôi.
- Đó chính là điều Ta muốn con hiểu, Chúa Thánh Linh lại nói trong tôi; nếu con đàn hát tuyệt vời, con sẽ làm cho một số người thích thú, nhưng khi con ngợi khen Thiên Chúa, con làm đẹp lòng chính Ngài.
Đối với Thiên Chúa việc tôi không có khiếu nhạc không bao giờ là một khuyết điểm, nó chỉ là một khuyết điểm đối với tôi thôi. Chính tôi là người không hài lòng về cách Chúa đã tạo dựng nên tôi. Ngài bao giờ cũng hài lòng về công trình của Ngài.
Một số người mất cả đời để tiếc nuối không có tài này tài nọ hoặc không có dịp phát triển nó. Họ phàn nàn và than thở trong lòng tin chắc rằng nếu hoàn cảnh cho phép, thì họ đã trở thành minh tinh màn bạc, vô địch thể thao, đại doanh thương hoặc bác sĩ.
Riêng bạn có một đề tài kêu ca đặc biệt không? Bạn có thể nhủ nếu có thể làm lại, bạn sẽ chọn một nghề khác, một chỗ ở khác, một người bạn đường khác không?
Bạn có thể chấp nhận rằng bạn ở đúng chỗ mà Thiên Chúa muốn cho bạn không? Rằng Ngài không bỏ qua một chi tiết nào không? Rằng Ngài rất có thể can thiệp khi bạn đã làm điều bạn xem là điều ngu xuẩn của đời bạn không?
Dĩ nhiên có những sự lựa chọn sai lầm, chúng ta đã bàn về trách nhiệm của chúng ta trong các sự lựa chọn của chúng ta và hậu quả của chúng, nhưng Thiên Chúa hứa làm cho mọi sự điều gây ích cho ta - kể cả những lầm lạc của ta - nếu ta tin tưởng nơi Ngài .