ĐẠI GIA (CN XXV/TN-B)
Đức Giê-su và các môn đệ băng qua miền Ga-li-lê một cách âm thầm
không cho ai biết. Người muốn tạm gác việc rao giảng Tin Mừng và chữa
bệnh cho dân chúng qua một bên, để có thì giờ dạy dỗ các môn đệ, đặc
biệt báo cho các ông biết một viễn cảnh sắp xảy ra mà các ông khó có thể
hiểu và chấp nhận. Đó là “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ
giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại.”
(Mc 9, 31). Sở dĩ Người làm vậy là có ý giúp các môn đệ chuẩn bị tinh
thần, để các ông không quá ngỡ ngàng và thất vọng khi nó xảy ra, mà sẵn
sàng đón nhận nó. Đây không phải lần đầu tiên Người nói việc ấy với các
môn đệ, Người đã từng nói rõ với các ông trước đó không lâu (“Rồi Người
bắt đầu dạy cho các ông biết Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các
kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết…” – Mc 8, 31),
nhưng lúc đó các ông tỏ ra ngán ngại, không tin rằng Thầy mình – một
“Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền” (Mc 1, 22) – lại có thể
phải chịu đau khổ đến như vậy. Thái độ không chấp nhận này biểu lộ rõ
rệt nhất ở Phê-rô, khi ông “kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người:
"Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!", khiến Đức
Giê-su quở trách rất nặng lời: "Xa-tan! lui lại đàng sau Thầy! Vì tư
tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài
người." (Mc 8, 31-33). Chính vì lần trước các ông bị quở trách nặng nề
như thế, nên lần này “các ông sợ không dám hỏi lại Người” (Mc 9, 32).
Các môn đệ không dám hỏi lại Thầy về cuộc thương khó Người sắp phải
chịu vì sợ bị khiển trách, nhưng trong lòng vẫn nghĩ khi Thầy chết rồi
thì ai trong nhóm 12 sẽ lên thay, ai sẽ là người lớn nhất? Ấy thế là
“cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả”. Đức Ki-tô dư biết các môn đệ bàn
tán điều gì, nhưng khi tới thành Ca-phac-na-um, Người vẫn hỏi: “Dọc
đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?” Các môn đệ chỉ còn nước ngậm
miệng làm thinh. Cũng chính vì thế nên Đức Ki-tô mới gọi nhóm Mười Hai
mà nói: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm
người phục vụ mọi người”. Kế đó, Người đem một em nhỏ đặt vào giữa các
ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh
Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là
tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy” (Mc 9, 33-37).
Vấn đề làm lớn, làm bé vẫn là vấn đề muôn thuở của con người. Thường ở
đời, con người ai cũng thích làm lớn, thích ăn trên ngồi trước chứ
chẳng ai muốn làm bé và thích ngồi ở dưới. Cái ”miếng đinh chung” luôn
luôn và mãi mãi là cái hấp lực vô cùng mạnh mẽ. Quan nịêm “một miếng
giữa làng hơn một sàng xó bếp” đã trở nên như một phong tục tập quán
(tục ngữ) khiến cho giấc mộng “sống ở làng, sang ở nước” luôn ám ảnh con
người. Ngày nay, hủ tục mua quan bán tước hay khao vọng đình đám tuy
không còn ồn ào như ngày xưa, nhưng vẫn diễn ra bằng nhiều kiểu, nhiều
cách, với đủ thứ mưu ma chước quỷ để tranh bá đồ vương, tiếm quyền tiếm
chức, tranh danh đoạt lợi, hầu mong được nổi danh nổi tiếng, tiền hô hậu
ủng, xe hơi nhà lầu, võng lọng xênh xang. Tôi vẫn chưa quên câu chuyện
xảy ra ở Việt Nam cách đây không lâu: Giám đốc một công ty cỡ bự, một
hôm gửi thiệp báo tang đến toàn thể công ty, cho biết con chó cưng của
ông ta vừa “từ trần”! Thế là cả công ty – từ phó giám đốc đến anh bảo vệ
quèn – xôn xao “khăn đóng áo dài” đổ xô đi phúng điếu bằng những phong
bì đủ kích cỡ, trong đó ít nhất cũng phải “nửa tháng lương”. Ôi chao!
Tiếng chửi “đồ chó chết” không ngờ ngày nay lại mang ý nghĩa tâng bốc
hơn là chửi rủa. “Chó chết” lại hoá ra nổi đình nổi đám hơn cả ”người
chết”! Oái oăm thật!
Tâm lý chung của con người ai chẳng muốn chọn cho mình phần tốt nhất,
ai chẳng muốn làm "đại gia" đi ăn tiệc được ngồi vào "cỗ nhất". Ngay
đến các Tông đồ ở cận kề với Người Thầy luôn dạy dỗ môn đệ phải khiêm
nhường, vậy mà cũng có hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an
muốn được "một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả
Thầy, khi Thầy được vinh quang" (Mc 10, 37). Tin tưởng khi Thầy mình
được vinh quang sẽ làm Vua, mà lại xin được ngồi bên tả và bên hữu
Người, thì chẳng phải đó là muốn được ngồi "cỗ nhất", được hưởng “miếng
đinh chung” bảnh nhất là ”Tả hữu Thừa tướng” đó sao? Không phải chỉ có 2
môn đệ này đâu, mà các môn đệ khác cũng tỏ ra tức tối ("Nghe vậy, mười
môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an." – Mc 10,
41). Tức tối tức là ghen tị, là mong muốn mình phải được coi trọng hơn,
và "chiến tranh nóng, chiến tranh lạnh" xảy ra cũng là điều tất nhiên
("Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là
bởi chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh
em đó sao? Thật vậy, anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết;
anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột với nhau, gây
chiến với nhau." – Gc 4, 1-3)
Rõ ràng Đức Ki-tô "nhận thấy khách dự tiệc cứ chọn cỗ nhất mà ngồi"
(Lc 14, 7). Vì thế, nên Người mới dạy: "Khi anh được mời đi ăn cưới, thì
đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cũng
được mời, và rồi người đã mời cả anh lẫn nhân vật kia phải đến nói với
anh rằng: "Xin ông nhường chỗ cho vị này. Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà
xuống ngồi chỗ cuối" (Lc 14, 8-9). Người còn chỉ rõ những người ham ngồi
“cỗ nhất”, đó là "... những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong
bộ áo thụng, thích được chào hỏi ở những nơi công cộng, ưa chiếm ghế
danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc." (Lc 20,
46). Ngay đến cả việc đãi khách, mời khách dự tiệc, Người cũng dạy trái
ngược với thông lệ của người đời: "Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn
tối, thì đừng mời bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có…
Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què
quặt, đui mù…" (Lc 14, 12-13).
Lời dạy của Đức Ki-tô mới thoạt nghe sẽ thấy là mâu thuẫn, khó chấp
nhận được, chẳng hạn như Người muốn ai đi theo Người thì phải từ bỏ tất
cả, từ của cải vật chất đến cha mẹ anh em họ hàng, kể cả từ bỏ chính
mình. Trong khi đó, Người lại dạy phải yêu thương mọi người như yêu
thương chính bản thân mình, thậm chí còn yêu thương cả kẻ thù của mình
nữa. Tuy nhiên, suy nghĩ cho thấu đáo, thì thấy Đức Ki-tô chuyên dùng dụ
ngôn với những cách nói tương phản, phản đề, cốt ý nhấn mạnh để nêu bật
ý chính (chủ đề). Như Lời dạy trên, nếu trích đầy đủ, sẽ là: "Khi nào
ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em, hay bà
con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông
được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo
khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông
mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống
lại." (Lc 14, 12-14). Và như vậy, mục đích nhắm tới của Lời dạy là "…
ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống
lại." Rõ ràng Đức Giê-su chỉ luôn mong muốn Lời dạy của Người có tác
động mạnh mẽ, làm cho người nghe hiểu được ý nghĩa sâu xa và cái mục
đích tối hậu cần đạt tới.
Trở lại với bài Tin Mừng hôm nay, cũng vì thấu hiểu được tâm địa con
người như vậy, nên Đức Ki-tô mới dạy: "Ai muốn làm người đứng đầu, thì
phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người." (Mc 9, 35).
Người chỉ muốn dạy môn đệ đức tính khiêm nhu tự hạ. Và nếu anh biết
khiêm nhường chịu lụy, anh sẽ được mời lên ngồi “cỗ nhất”. Anh đừng nghĩ
khi được ngồi cỗ nhất là anh sẽ được kẻ hầu người hạ, anh sẽ vênh vang
nhìn đời bằng nửa con mắt. Trái lại, "Càng làm lớn, con càng phải tự
hạ,/ như thế, con sẽ được đẹp lòng Đức Chúa" (Hc 3, 18), "Ai muốn làm
lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh
em thì phải làm đầy tớ mọi người" (Mt 20, 43-44).
Khiêm nhường cũng có nhiều cách thể hiện, có thể thực lòng và cũng có
thể màu mè bên ngoài, thậm chí còn có trường hợp giả bộ khiêm nhường để
bóng gió móc họng nhau nữa. Và cũng vì thế nên Đức Giê-su Thiên Chúa đã
vâng lời Chúa Cha xuống thế làm người khó nghèo và dùng chính cuộc sống
của Người minh hoạ cho những Lời dạy dỗ chân tình về đức khiêm nhường.
Người đã khiêm nhường vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu để cái tính
kiêu ngạo của loài người hành hạ, đánh đòn, sỉ nhục, đóng đinh Người vào
thập giá. Người đã thức tỉnh nhân loại bằng cách hiến dâng mạng sống
làm giá chuộc muôn người. Tuy nhiên, cho đến ngày nay, phỏng đã được bao
nhiêu người ý thức được tội kiêu ngạo đứng hàng đầu trong 7 mối tội
đầu, hiểu được chính tội kiêu ngạo đã đóng đinh Chúa Giê-su vào thập
giá? Và chẳng hiểu có được bao nhiêu con người dám hy sinh chỗ ngồi “cỗ
nhất” (chưa dám nói hy sinh mạng sống mình) cho anh em, cho đồng loại,
để sẵn sàng xuống ngồi “chỗ cuối” mà phục vụ mọi người? Quả thực “Kẻ
kiêu ngạo lâm cảnh khốn cùng thì vô phương cứu chữa,/ vì sự xấu xa đã ăn
sâu mọc rễ trong nó” (Hc 3, 28).
Ôi ! Lạy Chúa con! Lạy Thiên Chúa của con! Cúi xin Chúa luôn soi sáng và hướng dẫn con, để con đừng bao giờ quên dụ ngôn “Người Pha-ri-sêu và người thu thuế”
(Lc 18, 9-14). Cũng bởi vì đến ngay như việc thờ phượng Thiên Chúa, con
cũng cách này cách khác làm như anh chàng Pha-ri-sêu lên tận cung thánh
khoe hết thành tích nọ đến chiến công kia ("Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn
Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình,
hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho
Chúa một phần mười thu nhập của con."). Và nếu không tìm ra được chiến
công, thành tích (kiểu như rủ nhau đóng góp mua một vài thùng mì tôm,
đôi ba bao gạo mốc, năm ba túi quần áo rách, rồi trương biểu ngữ thật
hoành tráng đi làm chuyện tế bần, từ thiện), con cũng cố gắng tìm những
việc làm thường nhật (đi lễ, đọc kinh sớm tối, bỏ tiền lẻ vào túi kín,
hay vênh vang ném từng đồng xu cho những hành khất...) để kể công với
Chúa hệt như anh chàng Pha-ri-sêu thủa xưa. Con đã kênh kiệu nhắm tít
mắt mà không quay nhìn lại dưới cuốí nhà thờ đang có những ”người thu
thuế” quỳ gối đấm ngực than van ”Lạy Chúa! Con là kẻ có tội!”
Ôi! ”Lạy Chúa! Con là kẻ có tội!” Con biết tội con nặng lắm rồi, vì
chỉ thích làm đại gia chớ không thích làm nguời bé mọn, chỉ thích đứng
đầu, ăn ”cỗ nhất” chớ không thích ngồi sau, ăn cơm thừa canh cặn. Con
biết những hành động trên của con đã hàng ngày hàng giờ đóng đinh Chúa,
đâm thâu vào Trái Tim Chúa. Cúi xin Chúa không chỉ dạy con mà luôn đồng
hành với con để con sẵn sàng thể hiện bằng hành động, bằng chính cuộc
sống của con như những kẻ bé mọn, như những ”người thu thuế”, như những
”bà goá nghèo”, như những ”người rốt hết”, để đến ngày sau hết con được
Chúa cho đứng bên phải Ngài. Ôi! Lạy Chúa! Con hết lòng cầu xin, vì Đức
Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.
JM. Lam Thy ĐVD.
source thanhlinh






Hanoi Time
0 Bình luận:
Đăng nhận xét