VRNs (06.11.2012) – Sài Gòn – Phần 1 của bài này đã đăng trên trang Chúa Cứu Thế ngày 15.10.2012 http://choquanktcn.blogspot.com/2012/10/chan-phuoc-gioan-xxiii-trong-ngay-khai.html để kỷ niệm 50 năm ngày khai mạc Công Đồng Vatican II. Đáng lẽ phần 2
phải tiếp liền nhưng vì tác giả bận đi đường xa nên phải gián đoạn. Xin
cáo lỗi cùng bạn đọc và nay xin tiếp tục loạt bài về Công Đồng Vatican
II.
Bài trước, chúng ta đã thấy Đức Chân
Phước Gioan XXIII trong diễn văn khai mạc Công Đồng, ôn lại lịch sử Giáo
Hội và nhìn tổng quát thế giới đương thời. Từ tầm nhìn đó ngài đề ra sứ
mạng và tinh thần của Công Đồng Vatican II:
“Như vậy, thưa chư tôn huynh đệ, chức năng Công Đồng phải đảm đương trong lĩnh vực đạo lý đã tỏ rõ:
Quả thế, Công Đồng chung thứ XXIII…
muốn đề xuất đạo lý Công Giáo toàn vẹn, không giảm nhẹ, không lệch
hướng. Đạo lý ấy bất chấp những khó khăn và đấu tranh đã trở nên như gia
sản chung của nhân loại. Đã đành đạo lý ấy không được tất cả mọi người
chấp nhận, nhưng vẫn được đề xuất cho mọi tâm hồn thiện chí, như một khó
báu rất phong phú đặt vào tay mọi người.
Tuy vậy nhiệm vụ của chúng ta không
phải chỉ là giữ gìn kho báu vật ấy, như thể chúng ta chỉ có bổn phận với
quá khứ; Bây giờ chúng ta đừng sợ hãi, hãy toàn tâm tra tay vào sự
nghiệp mà thời đại chúng ta đòi hỏi, tức là đi tiếp con đường mà Hội
Thánh đã đi được 20 thế kỷ rồi.
Mục đích đầu tiên công việc của
chúng ta trù tính chẳng phải là luận bàn những điểm chính trong đạo lý
của Hội Thánh, cũng chẳng phải là nhắc lại để triển khai thêm những luận
điểm mà các Đấng Giáo Phụ và các thần học gia cổ kim đã đề xuất… Để tổ
chức những cuộc bàn luận như vậy, thì không cần gì phải họp Công Đồng
chung…
Thời đại này, phải làm sao để đạo lý
Chúa Kitô nguyên tuyền toàn vẹn được mọi người ngày nay chấp nhận, với
một mức quan tâm mới, với tinh thần trong sáng và bình an, hình thức thì
phải giữ được tính chính xác của các ý niệm và ngôn từ…” Điều cần thiết nữa là “làm
sao để nhận thức về đạo lý này lan rộng hơn nữa và sâu hơn nữa trên
khắp thế giới, ngõ hầu thấm nhuần và đào tạo nhân tâm; Sau nữa đạo lý
chắc chắn và bất biến mà ta phải kính tin, cần được nghiên cứu và giảng
dạy theo cung cách thời đại chúng ta đòi hỏi…”
Câu tiếp theo được các nhà quan sát và bình luận nhắc mãi, coi như điểm quan yếu của bài diễn văn:
“Tự thân kho tàng
Đức Tin, tức là các chân lý của Đạo Thánh là một mặt, nhưng một mặt khác
là cách diễn bày các chân lý ấy sao cho vẫn giữ nguyên ý nghĩa, vẫn
giảng dạy mãi một điều. Cách diễn tả đó là một điều rất quan trọng; nếu
cần ta sẽ phải nhẫn nại làm việc để biểu đạt; quả vậy, sẽ cần du nhập
những phương pháp trình bày tương hợp hơn với một sứ vụ giáo huấn chủ
yếu có tính cách mục vụ.”
Người ta cho rằng, từ “mục vụ” chính là điểm nhấn của Vatican II. Đức Gioan XXIII đã nói mục đích của Công Đồng này “chẳng phải là luận bàn những điểm chính trong đạo lý của Hội Thánh”.
Những tín điều căn bản thì các Công Đồng chung từ các thế kỷ đầu đã xác
lập rồi, Nicea năm 325, Constantinopoli I năm 381, Epheso năm 431,
Chalcedonia năm 451, Constantinopoli II năm 553, Constantinopoli II năm
680, Nicea II năm 787. Các Công Đồng này đã định tín về mầu nhiệm Thiên
Chúa Ba NgôIi và mầu nhiệm Chúa Kitô. Công Đồng Trento họp nhiều khoá
rất lâu từ 1545 đến 1563 cũng góp phần quan trọng làm sáng tỏ Đức Tin
của Hội Thánh Công Giáo sau cuộc khủng hoảng Tin Lành. Kèm theo các giáo
huấn chính thức của Hội Thánh là rất nhiều “những luận điểm mà các đấng Giáo Phụ và các thần học gia cổ kim đã đề xuất”.
Đến Công Đồng Vatican II này thì Giáo
Hội với Đức Gioan XXIII thấy không cần đặt lại vấn đề gì về di sản đồ sộ
đó nữa. Đó là một mặt, nhưng mặt khác, Vatican II mở ra một hướng nhìn
mới rất “quan trọng”. Những trải nghiệm về Đức Tin, về Thần Học mà Hội
Thánh đã tích luỹ đó phải được diễn dịch ra ngôn ngữ của ngày nay, để
nuôi sống con người ngày nay. Những thành quả của quá khứ đó vừa phát
xuất từ Đức Tin hằng sống, mà trong quá trình đạt tới Đức Tin đó cũng
mang đầy những nét văn hoá, lịch sử, tâm lý của những thời đại mà Hội
Thánh và xã hội cùng kinh qua. Từ đó tới nay, xã hội loài người, trong
đó có Hội Thánh, đã đi thêm và sắp đi thêm những chặng đường mới với
những nét văn hoá, lịch sử, tâm lý mới, tạo ra một bầu khí và một tâm
trạng khác trước.
Trải nghiệm quá trình ấy Đức Gioan XXIII cũng nói rõ trong một đoạn trước đó rằng: “Giáo
Hội đã không bị động chứng kiến những phát hiện tuyệt vời của thiên tài
con người cùng sự phát triển của các nền tư tưởng hiện nay”. Chẳng
những thế giới phát triển ngày một nhanh chóng mà chính Giáo Hội cũng
không ngừng phát triển về Thánh Kinh học, thần học, triết học, sử học.
Kết quả là đã đến lúc đặt vấn đề mang
hạt giống Đức Tin gieo vào thời đại như gieo vào một vùng đất mới cho
những mùa gặt mới. Ở đây đạo lý có khả năng bén rẽ sâu hơn để “đào tạo
nhân tâm”, sinh ra những hoa quả với hương vị độc đáo. Cho nên đạo lý
chân truyền phải được nói bằng ngôn ngữ của thời đại cho con người thời
đại. Hội Thánh mà nói được cho con người thời đại hiểu thấu cõi thâm tâm
của cả Hội Thánh lẫn của con người thì đó là “mục vụ”. Vatican II là Công Đồng Mục Vụ.
Sau khi nói tới mục đích và tính cách
Mục Vụ của Công Đồng, Đức Thánh Cha nói đến tinh thần của Công Đồng.
Điểm này cũng có một ý nghĩa đặc biệt.
Chẳng là không biết từ lúc nào, trong
trí não của nhiều người, kể cả một số vị trong hàng ngũ lãnh đạo của
Giáo Hội, thì Giáo Hội đã biến thành một bộ máy để hạch sách và lên án
thế gian, và hạch sách lên án cả con cái mình nữa. Cái sự lệch lạc không
đáng có ấy từ đâu mà đến ? Có thể rằng nhân loại, cũng như từng cá
nhân, đã đi qua nhiều giai đoạn nhận thức khác nhau. Khi người ta còn bé
dại, có khi cha mẹ phải cấm đoán, đe nẹt, theo nghĩa “yêu cho roi cho
vọt”. Các bậc cha mẹ ở một môi trường tâm lý văn hoá nào đó đã quan niệm
như thế một cách rất ngay lành, “xin thầy, xin cô cứ thẳng tay trị tội
con tôi”…
Nhưng đến một lúc đứa bé lớn lên, nó
không còn tự động nói theo người lớn, rằng thế này là tốt, thế kia là
xấu, vì bố, vì mẹ đã bảo thế. Từ nay nó cần lý giải, cần được thuyết
phục, nó cần tâm phục khẩu phục. Lúc ấy sự cấm đoán hay trừng phạt không
kiến hiệu nữa. Xã hội loài người cũng vậy, ở một giai đoạn phát triển
nào đó, đại chúng sẵn sàng và mong mỏi được phục tùng quyền bính. Nhưng
rồi xã hội ấy cũng lớn mạnh dần lên về mặt tinh thần, cũng tích luỹ kiến
thức, và nhận ra mình là những con người có phẩm giá tự do. Lúc ấy
người ta sẽ cảm thấy mình có quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự
do đi tìm chân lý. Xã hội đã chín để chuyển sang giai đoạn dân chủ. Thậm
chí ngay cả sự trừng phạt, đe nẹt đối với trẻ thơ người ta cũng không
muốn nữa, người ta đi tìm những phương cách mới để giáo dục trẻ.
Lịch sử Giáo Hội cũng đi qua những chặng
đường tương tự. Vào một thời nào đó, quần chúng tín hữu chỉ mong được
hướng dẫn, được tuân phục. Và Giáo Hội, theo nghĩa là giáo quyền, là hệ
cấp lãnh đạo, cũng chăm lo giữ gìn đoàn chiên của mình khỏi mọi lầm lạc,
giữ gìn đoàn chiên trong đường ngay nẻo chính. Khi đó, một cách rất đơn
giản, Giáo Hội đưa ra những chỉ thị, cái gì xấu thì cấm, cấm mà con
chiên vẫn bị nó tuyên truyền, cám dỗ thì có những biện pháp đe nẹt,
trừng phạt để người ta sợ. Đó là “yêu cho roi cho vọt”, là “thuốc đắng
giã tật”.
Trong những vấn đề rất hệ trọng cho sự
chính thống của Đức Tin, tức là khi những tư tưởng sai lầm có nguy cơ
lan tràn, nhiều khi những biện pháp đe nẹt, trừng phạt mang những bộ mặt
dễ sợ. Ví dụ có một công thức dùng để lên án những sai lầm nguy hiểm:
Anathema Sit ! Thật ra từ ngày nhân loại không còn sống trong thời kỳ
chiến tranh tận diệt cả người lẫn vật để tế thần thì cũng chả ai xác
định được cụ thể “Anathema” là những gì gì. Có lẽ có thể dịch là: Trời
tru đất diệt. Giáo Hội liền có công thức: Kẻ nào dám nói, dám chủ trương
thế này thế nọ, thì Anathema Sit ! Cho đến Công Đồng Vatican I, năm
1870, công thức Anathema vẫn còn được sử dụng.
Đức Phật có hình ảnh dụ ngôn về ngón tay
chỉ mặt trăng. Hiểu theo hướng đó thì Anathema dễ sợ kia là một ngón
tay sù sì chỉ đường cho người ta khỏi lạc nẻo chân lý, xa lánh chỗ nguy
hại, hướng về cõi giải thoát. Nhưng để thờ phượng thì ai mà thờ phượng
cái ngón tay ! Tuy thế dần dần thái độ có phần nghiêng lệch đối với tín
lý vẫn thâm nhiễm một số giáo sĩ và cả dư luận nói chung. Giáo sĩ thì có
khuynh hướng coi nhiệm vụ chính của mình là soi mói và lên án, dư luận
thì có khuynh hướng coi Giáo Hội như một bộ máy khổng lồ chuyên trói
buộc tự do và cấm đoán. Cho đến khi Công Đồng họp, trong thâm cung
Vatican một số vị vẫn muốn Công Đồng chủ yếu phải lên án thế giới hiện
tại.
Tâm thế như vậy làm hại Giáo Hội không
ít, đặt biệt trong các giới có trình độ kiến thức và tư duy. Có thể nói
trong đoạn sau đây của diễn văn khai mạc, Đức Chân Phước Gioan XXIII vừa
tái lập quân bình vừa thắp sáng đạo lý của Tin Mừng:
“Trong ngày khai mở Công Đồng chung Vatican II này,
ta thấy rõ hơn bao giờ rằng chân lý của Chúa đời đời tồn tại. Trái lại
ta thấy thời gian đắp đổi thì những hệ thống tư tưởng mông lung cứ lần
lượt khai trừ lẫn nhau, và những sự lầm lạc vừa phát sinh đã vội
tan biến như sương mù dưới ánh mặt trời. Xưa nay Giáo Hội vẫn chống lại
những lầm lạc đó, và đã nhiều lần lên án một cách rất cương quyết. Còn
hiện tại thì Hiền Thê Chúa Kitô (tức là Hội Thánh) muốn dùng vị thuốc trắc ẩn hơn là những khí
giới nghiêm khắc. Hội Thánh tin rằng, thay vì lên án, nên tỏ rõ thêm
nữa sự quý giá của đạo lý, đó là cách tốt hơn để đáp ứng những nhu cầu
ngày nay.
Đã đành là có những nguỵ thuyết và
những quan điểm sai lầm. Đã đành là có những nguy cơ cần phải ngăn ngừa
và đẩy lui. Nhưng những sự lạc hướng đó đối chọi với các nguyên lý thuần
lương một cách thật hiển nhiên, cho nên ngày nay lòng người tự giác mà
lên án những sai lầm đó; Nói rõ ra là những sai lầm về lối sống phủ nhận
Thiên Chúa và các giới luật của Ngài, là sự tin tưởng quá đáng vào tiến
bộ kỹ thuật, là một sự thịnh vượng chỉ lấy tiện nghi làm động lực. Càng
ngày người ta càng tự mình nhận thức rằng nhân phẩm được tôn trọng đầy
đủ là điều rất quan trọng và rất khó đạt. Nhất là kinh nghiệm cuối cùng
đã dạy rằng sức mạnh áp đặt từ bên ngoài, quyền lực của võ khí và sự
chuyên quyền về chính trị là những điều hoàn toàn không có khả năng giải
quyết một cách tốt đẹp các vấn đề rất nghiêm trọng đang khiến lòng
người xao xuyến.
Trong hoàn cảnh như vậy, Hội Thánh
Công Giáo nhờ Công Đồng chung mà thắp cho bừng sáng ngọn đuốc chân lý
của Đạo, Hội Thánh muốn được như một người mẹ hiền cho mọi người, nhân
ái, nhẫn nại, đầy lòng khoan dung từ hậu với con cái tản lạc. Với người
đời đang mang gánh nặng của biết bao nhiêu lầm than, Hội Thánh công bố
như Thánh Phêrô ngày xưa với anh nhà nghèo…: “Bạc vàng tôi không có, nhưng có gì thì tôi cho anh: nhân danh Giêsu Kitô người Nazareth, anh hãy đứng dậy mà đi” (Cv 3, 6). Thành ra Hội Thánh không hiến tặng cho người ngày nay
những sự phong phú lỗi thời, nhưng… Hội Thánh khai thông những nguồn
suối đạo lý để cho mọi người, dưới ánh sáng Chúa Kitô, có khả năng thâm
nhập ý nghĩa chân thực của đời người, phẩm giá của mình, và cứu cánh
mình phải dõi theo; sau hết qua con cái của mình, Hội Thánh muốn mở đường cho Lòng Mến của Đức Kitô lan toả khắp nơi”.
Đoạn diễn văn này, phản ánh tâm hồn mênh
mông của Đức Gioan XXIII, phản ảnh cái gì đã làm cho vài năm ngắn ngủi
khắp nơi muốn tìm đến với Ngài; nhưng hơn thế nữa, nó là một lúc Hội
Thánh tự kết nối mình với Đức Giêsu khi Ngài trách móc mấy ông đồ đệ
nóng tính, chỉ mong cho lửa trời đốt rụi những kẻ không theo mình, nối
kết mình với Đức Giêsu “hiền lành và khiêm nhường trong lòng”, Đức Giêsu
thương yêu “những kẻ khó nhọc và gánh nặng”…
Chưa nói tới những lý thuyết và nếp sống
trái đạo, ngay trong Công Đồng này cũng có những vị đang phục vụ với
tính cách chuyên viên hay thần học gia đã cảm thấy niềm an ủi dâng lên
trong lòng. Đấy là những vị mới mấy năm trước đấy còn bị các đấng bậc ở
cơ quan kiểm duyệt Rôma đầy đoạ thi hành kỷ luật sắt, cấm nói, cấm giảng
dạy chỉ vì họ đã dám chỉ rõ những điểm chưa đạt trong cách hành xử của
Giáo Hội, chỉ vì họ nêu cao một vài chân lý mà những người thủ cựu nhưng
có nhiều quyền muốn che lấp đi. Cha Congar, OP., trong lúc đang bị Bộ
Thánh Vụ (chuyên kiểm duyệt sách ở Rôma) thi hành kỷ luật thì Đức Gioan
XXIII khi đó đang làm Sứ Thần Toà Thành ở Paris, lại chăm chú đọc và
ngẫm nghĩ về những tác phẩm lớn của cha như “Những nguyên lý cho phong
trào Đại Kết Công Giáo” (Chrétiens Désunis – Principes d’un Oecuménisme
Catholique) và nhất là “Cải cách thật và cải cách giả trong Giáo Hội”
(Vraie et fausse réforme dans l’Eglise). Năm 1960, chính Đức Gioan XXIII
triệu vời cha Congar và nhiều người khác cùng một hoàn cảnh như cha
(cha Chenu, cha de Lubac) bị các đấng ở Bộ Thánh Vụ coi là “khả nghi” về
Rôma làm cố vấn Công Đồng.
Hơn thế nữa, về sau người kế vị ngài là
Đức Gioan Phaolô II sẽ trao tặng Hồng Y cho cha de Lubac (năm 1983) và
cha Congar (năm 1994) để nhìn nhận công lao của các ngài với Công Đồng
Vatican II, chỉ ít lâu trước khi hai ngài qua đời. Đức Gioan Phaolô II,
khi chuẩn bị mừng Năm Thánh thiên niên kỷ 2000, và nhìn lại lịch sử Dân
Chúa, đã liệt kê tinh thần “bất bao dung” vào số những tội lỗi Giáo Hội
cần phải sám hối:
“Thật ra nếu muốn đánh giá lịch sử
chính xác thì không thể không nghiên cứu kỹ về sinh cảnh văn hoá của các
thời đại, từ đó mà nhiều người có thể thành tâm cho rằng chứng tá
đích thực cho chân lý có thể bao hàm sự huỷ tiêu quan điểm của người
khác hoặc ít ra là không lý gì đến các quan điểm ấy. Lắm lúc nhiều yếu
tố tích tụ lại tạo ra những thiên kiến khả dĩ biện minh cho sự bất bao
dung gây nên một bầu khí xúc cảm mà chỉ có những tinh thần vĩ
đại, thật sự tự do và đầy Thiên Chúa mới có khả năng vượt thoát một cách
nào đó. Tuy vậy, dù có xét đến những yếu tố giảm khinh cũng không bãi
miễn được cho Giáo Hội nghĩa vụ phải bày tỏ niềm hối hận sâu xa về những
yếu đuối biết bao nhiêu con cái đã làm xấu mặt Giáo Hội, khiến
cho Giáo Hội không phản ảnh được đầy đủ hình ảnh Chúa mình chịu đóng
đinh, là chứng tích tuyệt vời của tình yêu thương nhẫn nại và hiền hoà
khiêm nhường. Từ những thời điểm đau đớn ấy của quá khứ có thể rút ra
bài học cho tương lai khiến cho mọi Kitô Hữu tâm phục nguyên lý tuyệt
cao do Công Đồng Vatican II đề xướng: “Chân lý không thể tự xác
lập chính mình, trừ phi là dựa vào sức mạnh của chính chân lý, sức mạnh
ấy thu phục nhân tâm một cách vừa hiền hoà, vừa mãnh liệt”. (Tông thư thiên niên kỷ Tertio Millennio Adveniente).
Việc Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II kết
thức đoạn văn trên đây bằng lời trích dẫn tuyên ngôn của Công Đồng
Vatican II về tự do tôn giáo (Dignitatis Humanae số 1) cho thấy Công
Đồng này là một thời điểm lớn Giáo Hội đề cao sức mạnh tự thân của chân
lý và khước từ mọi sự cưỡng bức hẹp hòi mà một số người vào một số thời
trong Giáo Hội đã mắc phải. Nhìn theo hướng đó sẽ thấy Đức Gioan XXII và
Công Đồng đã tái lập những định hướng quan trọng và khai phóng như thế
nào.
Với tinh thần hiền hoà ấy, Đức Gioan
XXIII kêu gọi Công Đồng rộng lòng trình bày Đức Tin cho người ngày nay,
vừa “về nguồn”, vừa tìm đến với thời đại. Ngài hy vọng Công Đồng sẽ đóng
góp cho sự hiệp nhất của tất cả những người tin vào Chúa Kitô, và Công
Đồng sẽ thắp sáng Lòng Mến của Chúa Kitô để phục vụ toàn thể nhân loại.
Ngài kêu gọi mọi người đồng tâm nhất trí cầu nguyện với ngài…
Lm. VŨ KHỞI PHỤNG, DCCT






Hanoi Time

























