VRNs (15.10.2012)
– California, USA – 2.500 vị giám mục đã vào trong Ðền Thánh Phêrô.
Kiệu Sedia Gestatoria đã đi được một khúc ngắn giữa lòng Ðền Thờ, Ðức
Thánh Cha Gioan XXIII liền truyền lệnh dừng lại, để ngài bước xuống, đi
bộ giữa các hàng ghế dành cho các nghị phụ để tiến lên ngai chủ tọa đặt
trước bàn thờ chính. Bài ca nguyện xin Thánh Thần đến “Veni Creator
Spiritus” ngân lên du dương, sau đó là Thánh Lễ khai mạc Công Ðồng do
Ðức Hồng Y Tisserant chủ tế. Trong Thánh Lễ này, Thánh Thư và Tin Mừng
được xướng tụng bằng hai ngôn ngữ La Tinh và Hy Lạp để diễn tả Phương
Ðông và Phương Tây là một Hội Thánh duy nhất.
Người ta thấy Ðức Gioan XXIII chìm đắm
trong cầu nguyện và sắc diện ngài có pha chút mệt mỏi. Mọi người nghĩ
ngài mệt do bận rộn trong những ngày chuẩn bị khai mạc Công Ðồng, nhưng
không ai biết rằng mới vài hôm trước đó bác sĩ đã cho ngài biết ngài bị
bệnh ung thư dạ dày đã đến giai đoạn cuối. Ðức Thánh Cha giữ kín việc
này để khỏi ảnh hưởng đến bầu khí chung của ngày khai mạc Công Ðồng.
Mọi người vẫn háo hức chờ đợi bài diễn
văn khai mạc của Ðức Thánh Cha sau Thánh Lễ. Ai cũng hiểu rằng Công Ðồng
này sở dĩ họp được là do cảm hứng của ngài, do tinh thần ngài tỏa ra
trong Hội Thánh liên tục trong suốt bốn năm nay. Mọi người mong chờ
những định hướng ngài sẽ đưa ra.
Bài diễn văn khởi đầu bằng những lời: “Gaudet Mater Ecclesia: Mẹ Hiền Hội Thánh Mừng Vui”
để mừng kính buổi khai hội Công Ðồng. Ngài nhắc lại những ân huệ các
Công Ðồng đã đem lại cho Hội Thánh cũng như những gian khổ Hội Thánh đã
kinh qua trong lịch sử. Ngài cũng ôn lại quá trình chuẩn bị Công Ðồng
Vatican II.
Ðến lúc Ðức Thánh Cha nói rằng “Công Ðồng Chung này khai mở trong hoàn cảnh đặc biệt thuân lợi”, thì người nghe lại càng tăng phần chăm chú vì cảm thấy ngài bắt đầu đề cập những điểm đặc thù của Vatican II.
Cảm nhận đầu tiên là một tinh thần dứt
khoát lạc quan. Ngày nay nghĩ lại thấy có một điều lạ: Ðức Gioan XXIII
đã biết rằng thời gian ngài còn trụ lại ở trần thế này chỉ còn tính từng
tháng, vậy mà niềm lạc quan ấy lại vững mạnh hơn bao giờ, đồng thời
ngài phê phán thẳng thừng những người bi quan. Sắc mặt ngài có đôi chút
mỏi mệt, nhưng cách phát âm vẫn rất tròn đầy, âm lượng vẫn mạnh mẽ, và
tiếng nói vẫn vang, vẫn ấm:
“…Lắm lúc chúng tôi phải nghe những
lời chói tai của một số người tuy bừng lửa nhiệt thành đối với đạo,
nhưng quan điểm không chính xác, không chừng mực. Trong hiện tình xã
hội, họ chỉ thấy toàn là hoang tàn với tai họa; họ quen miệng nói rằng
thời đại chúng ta đã tệ hại hơn nhiều so với các thế kỷ trước; xem cung
cách của họ, thì lịch sử dẫu là thầy dạy ta về cuộc sống mà chẳng dạy họ
được điều gì như thể thời các Công Ðồng xưa mọi sự đều hoàn hảo, từ
đạo lý Kitô giáo cho đến phong hóa và sự tự do của Giáo Hội.
Chúng tôi cảm thấy cần phải nói lên
rằng chúng tôi hoàn toàn không đồng ý với những vị tiên tri báo họa ấy,
lúc nào họ cũng tiên báo thảm họa, như thể sắp tận thế rồi”.
“Trong giòng chảy hiện nay của các
biến cố xem ra xã hội loài người đi đến một khúc quanh; ta nên nhìn nhận
những ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa quan phòng thì tốt hơn; năm tháng
đấp đổi và việc đời nối tiếp, thường thường các ý định ấy vẫn đạt được
mục đích dẫu không ai dám mong; mọi sự, kể cả nghịch cảnh được sắp đặt
một cách cao diệu vì thiện ân cho Hội Thánh”.
Vậy Ðức Thánh Cha thấy tương quan giữa
nghịch cảnh và ơn lành cho Hội Thánh như thế nào? Ðức Gioan XXIII không
ngần ngại cho thấy quan điểm của ngài:
“Nếu chăm chú nhận định về các vấn
đề rất nghiêm trọng đang gây ra tranh cải trong lãnh vực chính trị và
kinh tế, ta có thể dễ dàng nhận ra rằng các vấn đề ấy choán hết tâm tư
con người, khiến cho họ không còn nghĩ tới việc đạo… Thái độ ấy chắc
chắn là không tốt… Tuy vậy, không ai có thể phủ nhận hoàn cảnh mới của
cuộc sống ít ra cũng có một điều thuận lợi, đó là đã hủy tiêu được vô số
những trở ngại xưa kia con cái thế gian tạo ra để cản trở sự tự do hành
động của Giáo Hội. Chỉ cần nhìn qua lịch sử Giáo Hội liền thấy ngay một
cách tỏ tường cả đến các Công Ðồng Chung, với những nổi thăng trầm đã
được ghi bằng chữ vàng trong biên niên sử Giáo Hội, vẫn cứ gặp phải
những khó khăn nghiêm trọng và những mối buồn đau vì bị thế quyền xen
lấn vào”.
Ðoạn này xem ra ứng vào thế giới phương
Tây nhiều hơn. Có một thời kỳ dài của Châu Âu Kitô giáo trong lịch sử,
với những thành tựu huy hoàng của nó. Nghĩ như lúc ấy người ta toàn
tòng, Giáo Hội là một tổ chức bao trùm xã hội. Xem kỹ hơn một chút hóa
ra không đơn giản như thế. Ðức Gioan XXIII nói đến “vô số những trở ngại xưa kia con cái thế gian tạo ra để cản trở” Giáo Hội. Mà “con cái thế gian”
đây lại chính là vua chúa có đạo, là chế độ, chính thể của xã hội có
đạo. Thời đại nào thì những quyền lợi và tham lam, dục vọng của thế
gian, cách riêng của ‘thế quyền’ cũng xen vào, cũng phá ngang việc đạo.
Thậm chí chính Giáo Hội cũng phải thành một thể chế chính trị, cũng phải
lập nước riêng của Tòa Thánh, để làm chính trị với các nhà chính trị,
nào liên minh phe này chống nước nọ, nào quyền lợi kinh tế, nào chiến
tranh, nào hòa bình, nào đối phó với “xã hội dân sự” đối lập, và cả
những tệ nạn tham nhũng, đặc quyền đặc lợi của một số người trong Giáo
Hội.
Sự thể ăn sâu đến độ khi ảnh hưởng của
đức tin suy yếu dần, chính quyền các nước cũng không còn quan tâm đến
việc đạo, thậm chí đối nghịch với đạo, thậm chí Nhà Nước của Tòa Thánh
suy yếu dần rồi sụp đổ liền sau Công Ðồng Vatican I, thì mọi người tưởng
đây là thảm họa, vì từ nay Tòa Thánh không còn thế đứng trên trường
chính trị, chính quyền các nước cũng không còn tài trợ, trả lương, bảo
vệ, bao che Giáo Hội nữa. Ai ngờ chính sự mất mát bi thảm đó lại trả lại
cho Giáo Hội sự tự do đích thực. Tòa Thánh không còn là một thế lực
trần gian nữa, nhưng từ đó uy tín tinh thần tăng lên gấp bội và ảnh
hưởng toàn cầu lan mạnh vượt mọi biên giới. Ðó chính là một trường hợp
minh họa cho điều Ðức Gioan XXIII nói là “mọi sự, kể cả nghịch cảnh, được sắp đặt một cách cao diệu vì thiện ân cho Hội Thánh”. Niềm lạc quan của ngài trước tiên là lạc quan siêu nhiên vì “ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa Quan Phòng… vẫn đạt được mục đích dẫu không ai dám mong”.
Từ điểm nhìn siêu nhiên đó, Ðức Gioan XXIII không bận tâm vì những
nghịch cảnh cho bằng tìm ra trong mọi tình huống những nẻo đường mới của
ơn Chúa.
Dù sao thì cũng không thể chối cãi rằng
có thể Giáo Hội đã lấy lại được sự tự do của mình, nhưng ở những vùng
rất rộng lớn trên thế giới Giáo Hội vẫn còn bị o ép gắt gao, với hậu ý
để cho chết dần. Ðiển hình cho tình huống này là khối các nước xã hội
chủ nghĩa Mác Xít đang thống trị từ Ðông Âu sang Ðông Á. Số các vị giám
mục được đi qua “bức màn sắt” để phó hội Công Ðồng có thể gọi là nhỏ
giọt. Trừ nước Nam Tư để cho tất cả các giám mục đi, Ba Lan đi được 17
vị, Bungari đi được 2 vị, Tiệp Khắc và Hungari mỗi nước 3 vị. Rumani và
Anbani không có vị nào. “Bức màn tre” xem ra lại kín hơn cả “bức màn
sắt” không một vị nào đến được từ Trung Quốc, Bắc Việt Nam và Bắc Triều
Tiên. Cho nên Ðức Gioan XXIII cũng dành một đoạn diễn văn cho “Giáo Hội
thầm lặng”.
“Thật ra hôm nay phải thú nhận là
chúng tôi rất đau buồn vì ở đây vắng một số lớn các vị giám mục rất thân
yêu với chúng tôi. Vì đức tin và Chúa Kitô, các vị đang bị cầm tù hoặc
bị ngăn cản bằng cách khác. Ðiều đó khiến chúng tôi phải hết lòng cầu
nguyện cho các ngài. Tuy vậy, chúng tôi vẫn hy vọng và rất được an ủi
nhận thấy rằng: ngày nay Giáo Hội được giải thoát khỏi mọi trở ngại trần
thế xưa kia, từ Thánh Cung Vatican này như từ một Nhà Tiệc Ly thứ hai,
Giáo Hội nhờ anh em có thể cất lên tiếng nói trầm hùng của mình”.
Những khó khăn khổ ải của Giáo Hội trong
các nước xã hội chủ nghĩa có thể làm cho người ta phê bình Ðức Gioan
XXIII là lạc quan quá đáng và đoạn văn nói về Giáo Hội thầm lặng quá
ngắn. Thật ra như chúng tôi sẽ trình bày sau này, chỉ một ngày sau khi
Công Ðồng khai mạc, sẽ thấy những tia “hy vọng” đầu tiên về một tương
lai xa xôi. Còn nếu nhìn đường dài, nhìn vào Giáo Hội cuối thế kỷ XX và
đầu thế kỷ XXI, ta hãy nhớ đến Ðức Chân Phước Gioan Phaolô II. Khi ngài
từ Ba Lan lên ngôi Thánh Phêrô, và có người nhắc đến Giáo Hội thầm lặng,
Ðức Gioan Phaolô II đã nói một câu để đời: “Giáo Hội ấy không thầm lặng nữa, vì Giáo Hội ấy đang ở Roma và đang nói”.
Nếu ta lại nghĩ đến đông đảo những tầng lớp tín hữu mới đang dậy men ở
Nga, ở Trung Quốc, ở Việt Nam…. sẽ thấy vị Giáo Hoàng bị coi là lạc quan
quá đáng năm 1962, ngày nay có thể hiển hiện như một vị tiên tri.
Ðức Gioan XXIII vẫn cứ lạc quan vì Giáo
Hội đã được tự do ngỏ lời với toàn thế giới từ Ðền Thánh Phêrô. Nói theo
ngôn ngữ ngày nay, có thể nói ngài lạc quan với “quyền lực mềm” của
Giáo Hội. Nhưng đọc lại diễn văn vẫn thấy đó là niềm lạc quan phát sinh
từ tâm hồn siêu nhiên. Ngài ví Công Ðồng Vatican II như một Nhà Tiệc Ly
mới, mà Nhà Tiệc Ly là nơi Thánh Thần hiện xuống để cho các đồ đệ của
Chúa Kitô hứng khởi đi gặp gỡ muôn phương thiên hạ….
Vũ Khởi Phụng






Hanoi Time

0 Bình luận:
Đăng nhận xét