21/3/13

Mẹ Xuống Luyện Ngục

Xưa giáo dân thành Roma có tập quán cầm nến sáng ban đêm đi viếng các nhà thờ Đức Mẹ tối áp lễ Đức Mẹ Lên Trời. Có một phụ nữ quí phái cùng theo đoàn giáo dân đi viếng đền thờ Đức Mẹ. Khi bà quì cầu nguyện trong nhà thờ, vừa mở mắt ra thì thấy một đàn bà mình rất quen thân xưa, đã chết 6 tháng nay, đang quỳ bên cạnh mình đọc kinh. Bà quí phái bỡ ngỡ hết sức liền ra cửa nhà thờ đứng đợi. Khi thấy người quen bước ra liền hỏi ngay:
Chị có phải tên là Marozia không?
Phải, đúng tôi là Marozia
Ủa chị đã chết 6 tháng rồi mà? Chị được sống lại ư? Có được rỗi linh hồn không?
Thưa chị, từ lúc chết đến giờ, tôi bị giam phạt trong luyện tội khốn cực lắm, chỉ vì khi còn trẻ tôi đã hay làm đỏm làm dáng, làm dịp cho nhiều người. Song ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời thì đêm nay Đức Mẹ xuống luyện ngục đem tôi và một số linh hồn có lòng kính mến Đức Mẹ lên Thiên đàng.
Năm nào, đến lễ này cũng xẩy ra như vậy. Các linh hồn được cứu hôm nay thì nhiều lắm, đã kéo nhau đến nhà thờ này để tạ ơn Đức Mẹ. Bà chỉ được Chúa cho trông thấy một mình tôi thôi, chứ còn biết bao linh hồn khác đang quì chung quanh đây bà không được xem thấy.
Thấy bà bán tín bán ghi, thì linh hồn liền nói, “Cho bà được tin lời tôi, thì sang năm, chính ngày này lễ Đức Mẹ Lên trời bà sẽ chết.”
Thành Đamianô đã làm chứng tích chuyện này có thật và còn minh chứng rằng: Bà quí phái nghe nói như vậy tin ngay và từ hôm đó gắng làm nhiều việc lành, đến năm sau bà ngã bệnh và chết đúng ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời.
Source: dongcong.net

Giáo Hội và Canh Tân

GIÁO HỘI VÀ CANH TÂN

Cha Michael Scanlan
Viện Trưởng Đại Học St. Francis tại Stewbelleville, Ohio


Thật khó khi phải chọn con đường thánh thiện của Chúa cho đời sống chúng ta. Nhưng lại dễ cho chúng ta khi tự ý lựa chọn cho mình con đường riêng theo Chúa. Đó là sự thật kỳ quặc khi một phong trào có nền tảng đặc sủng trong Kinh Thánh, được Chúa Thánh Linh hướng dẫn đời sống, lại bị chống đối hoặc bị cấm đoán bởi những người có thẩm quyền trong Giáo Hội.


Sự căn thẳng này và những hậu quả tiếp theo sau thường thấy trong Giáo Hội, và đã trở thành những chứng cớ cáo buộc chúng ta trong suốt 30 năm qua, kể từ khi Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng Công Giáo xuất hiện. Bên cạnh những ơn phúc lớn lao của Phong Trào Canh Tân này, còn có những bực lòng, chạm trán, và xung đột xảy ra.

Nhiều Linh Mục và Giám Mục thường cảm thấy không thoải mái với những cách thức thờ phượng Chúa trong Canh Tân Đặc Sủng. Những người trong các Nhóm Cầu Nguyện cũng như trong các Cộng Đồng Canh Tân, và những người được ơn phục vụ, đã phải phấn đấu khó khăn để đem Canh Tân vào giữa lòng Giáo Hội. Những vị lãnh đạo của “Cộng Đoàn Canh Tân Các Linh Mục Anh Em” thường nói về một ngày nào đó Canh Tân sẽ “đến với xứ đạo trong buổi sáng Chúa Nhật bằng lối đi giữa nhà thờ.” Nhưng điều mơ ước đó chẳng xảy ra!

Chúa Thánh Linh được ban để đưa chúng ta vào sự thật (đọc Gioan 16:13). Kinh Thánh nói rõ, Chúa Thánh Linh được ban để thực hiện nhiệm vụ tông đồ (đọc Gioan 20:22-23), các đặc sủng cũng vậy (Công Vụ 2). Chỉ có một Thánh Linh, và mục đích của Chúa Thánh Linh là kết hợp hai điều trên trong một phương cách đáng ca ngợi.


Công Đồng Vatican dạy: “Cũng chính Thánh Thần ấy, không chỉ thánh hóa và hướng dẫn Dân Chúa bằng các Bí Tích, các thừa tác vụ và trang bị họ bằng các nhân đức, nhưng Ngài còn ban phát các ân sủng đặc biệt cho mọi cấp bậc tín hữu ‘phân chia ân huệ cho mỗi người theo ý Ngài’ (đọc 1Cor 12:11), khiến người lãnh nhận các ân sủng ấy có đủ khả năng và sẵn lòng đảm nhận các công việc và nhiệm vụ khác nhau mưu ích cho việc canh tân, xây dựng và phát triển Giáo Hội như lời Thánh Tông Đồ, ‘Thần Khí hiển trị như vậy được ban xuống cho mỗi người để mưu ích lợi chung’ (1Cor 12:7). Phải lãnh nhận những đặc sủng này, từ các ơn chói lọi nhất đến các ơn thường mà nhiều người lãnh nhận được, với lòng tri ân và an ủi vì các ơn đó mang ích lợi và phù hợp với nhu cầu của Giáo Hội.” (Hiến Chế Giáo Hội, 12).

Mỗi lần đọc những câu trên, tôi lại tìm ra được sự giải thích phong phú hơn về hoạt động của Chúa Thánh Linh. Tôi cũng được tăng thêm sự hiểu biết về công việc lớn lao mà Chúa Thánh Linh đem đến để hiệp nhất sức sống Giáo Hội.
Trong vấn đề này, phải làm sao để đạt tới đời sống thánh thiện? Trước hết, Thiên Chúa có chương trình của Ngài cho đời sống của chúng ta, và trong đó, Ngài hành động qua sự căng thẳng giữa Canh Tân Đặc Sủng và các cơ chế thẩm quyền Giáo Hội để tẩy luyện chúng ta như “lửa luyện vàng” (1Phêrô 1:6-9), và đem lại hoa trái là sự ăn năn sám hối trong đời sống Giáo Hội.

Tôi luôn luôn kinh ngạc về mục đích duy nhất của Chúa khi Ngài đưa tôi tới sự thánh thiện. Ngài xem ra ít chăm sóc cho những chương trình kế hoạch và các công việc mục vụ của tôi so với việc tôi tiếp tục hối cải và lớn lên trong thánh thiện. Tôi được biết có rất nhiều người cũng cảm nghiệm được điều này khi họ phải đối phó với những sự chống đối, và gặp những chuyện bực mình trong việc xây dựng các Nhóm Cầu Nguyện, các Cộng Đồng Canh Tân Thánh Linh, và thực hành các tác vụ.


Thiên Chúa dường như luôn đưa chúng ta vào sự tôi luyện, rồi kết thúc. Ngài cứu chúng ta ra khỏi những khó khăn và những cơn khủng hoảng. Thiên Chúa không thờ ơ lãnh đạm đối với các Nhóm Cầu Nguyện, các Cộng Đồng Canh Tân, và những người thực hành tác vụ.
 Nguon Thanhlinh
*****************************************

Học làm Người

Học Làm Người

Đăng lúc: Thứ năm - 07/03/2013 06:31 - Người đăng bài viết: tinvui@dmin

Học Làm Người
Học Làm Người

Có những khoảnh khắc làm ta rưng rưng nước mắt khi nhìn thấy những người nghèo khổ, thiếu thốn cả những gì cơ bản nhất. Cái dư thừa của người này, thậm chí với họ chỉ là… rác, nhưng với người nghèo thì có thể là điều họ khao khát. Quả thật, “một miếng khi đó bằng một gói khi no”… Miếng ăn thêm khi chúng ta no là miếng ăn của người nghèo khổ. Nếu vậy thì chúng ta thiếu nhân đạo! Một danh nhân đã xác định: “Chỉ những ai có lòng thương người thì mới xứng đáng nhận danh hiệu con người”. Câu này đáng để chúng ta suy ngẫm và xem lại chính mình!


Trong một liên hoan phim ngắn tại Berlin (Đức), khi xem phim ngắn Chicken à la Carte (có thể xem ở http://www.cultureunplugged.com/play/1081/Chicken-a-la-Carte), cả ban giám khảo và khán giả đã xúc động khi thấy người cha nghèo ngăn đứa con gái thò tay lấy miếng thịt gà, rồi cả nhà cùng làm dấu, tạ ơn Chúa và cầu nguyện trước khi ăn. Thật ra những miếng thịt gà kia chỉ là những cổ, chân, cánh,… bị gặm dở mà người cha đã lấy từ thùng rác của một nhà hàng sang trọng và đem về cho vợ con ăn.
Yêu thương là luật của Thiên Chúa. Đức Kitô đã chạnh lòng thương hàng ngàn người đi theo mình nên Ngài hóa bánh ra nhiều cho họ được no nê (x. Mt 14:13-21 và 15:32-39). Ngài rất thực tế, không nói suông, cũng không nói bóng gió. Ngài đã bỏ đàn chiên 99 con để đi tìm chỉ 1 con chiên lạc (x. Mt 18:12-14). Đặc biệt là Bát Phúc trong Bài Giảng Trên Núi (x. Mt 5:3-12). Đó là những bài học làm người mà Ngài dạy chúng ta.
Chuyện kể rằng Ðại sư Tinh Vân có một đệ tử, sau khi tốt nghiệp đại học liền đi học Thạc sĩ, rồi lại học Tiến sĩ. Sau nhiều năm dùi mài kinh sử, đệ tử đó hoàn thành luận án tiến sĩ nên vô cùng mừng vui. Một hôm đệ tử đó về vinh qui bái tổ và thưa với ngài Tinh Vân: "Bạch Sư phụ, nay con đã có bằng Tiến sĩ rồi, con còn phải học những gì nữa không?"
Ngài Tinh Vân bảo: “Học làm người”. Học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được. Ngài Tinh Vân cho rằng bất luận là sĩ, nông, công, thương là những người ở tầng lớp có học thức và có tiến bộ, hãy chia sẻ với người khác về những điều mình hiểu biết. Nhưng dù là ai thì vẫn cần phải học không ngừng. Phải tu thân trước, rồi mới đủ uy tín trị quốc, và sau đó mới khả dĩ bình thiên hạ. Đạo Làm Người là đạo quan yếu nhất, dù theo đạo nào và ở cương vị nào thì trước tiên vẫn phải biết Làm Người. Đây là vài “tín chỉ” trong “môn học làm người”:
1. Học Nhận Lỗi. Con người thường không chịu nhận phần lỗi mình, tất cả lỗi lầm đều đổ cho người khác, vì chúng ta cho rằng bản thân mình mới đúng. Thật ra “không biết mình” là lỗi lầm lớn nhất. Đừng nghĩ mình “lớn” thì hoàn hảo và vô tội. Càng lớn càng dễ lỗi lầm vì có thể đổ lỗi cho người dưới. Ðối tượng mà mình nhận lỗi có thể là ông bà, cha mẹ, anh chị em, bạn bè,… và bất kỳ ai trong xã hội, thậm chí là người nhỏ hơn mình và với chính người không tốt với mình. Nhận lỗi như vậy bản thân chẳng mất mát gì, ngược lại còn thể hiện được sự độ lượng của bản thân và được khâm phục. Biết nhận lỗi là một điều rất tốt, là sự tu thân lớn và là một nhân đức.
2. Học Khiêm Nhu. Răng cứng, lưỡi mềm. Nhưng cuối cuộc đời, răng rụng hết mà lưỡi vẫn còn nguyên. Đó là bài học về sự mềm mỏng, khiêm nhu. Được vậy thì đời người mới có thể tồn tại dài lâu, chứ “cứng” thì chỉ thiệt thòi. Tâm hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu thân. Có tâm hòa thì mới có nhân hòa. Chúng ta thường hình dung những người cố chấp có tấm lòng và tính cách rất “lạnh”, rất “cứng” như sắt thép vậy. Nếu chúng ta có thể điều hòa hơi thở và tâm tính, dần dần khiến “ngựa chứng” phải thuần thục thì cuộc sống sẽ vui tươi, hạnh phúc và kiên vững.
3. Học Đức Nhẫn. Nhẫn nhục là loại “cỏ quý”, là “bùa hộ thân” đặc biệt. Biết nhẫn một chút thì có thể làm sóng yên biển lặng. Nhường nhịn không phải là chiến bại. Nhẫn để tiêu trừ điều ác. Nhẫn là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không. Muốn sinh tồn thì phải biết nhẫn để có thể phân biệt đúng – sai, thiện – ác, tốt – xấu, thậm chí chấp nhận nó.
4. Học Thấu Hiểu. Không hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm,... Nên thấu hiểu để biết cảm thông và giúp đỡ nhau. Không cảm thông nhau không thể tha thứ cho nhau, không thể có hòa bình. Tâm phẫn xí tắc bất đắc kỳ chính!
5. Học Khước Từ. Cuộc đời như một chiếc va-li, lúc cần dùng thì xách nó lên, không cần thì đặt nó xuống. Lúc cần đặt xuống lại không đặt xuống, cũng như kéo túi hành lý nặng nề vậy, cuộc đời luôn trĩu nặng. Cuộc đời hữu hạn, biết phục thiện, biết tự trọng và tôn trọng, biết bao dung thì mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết khước từ chính mình để có thể sinh tồn.
6. Học Xúc Ðộng. Nhận ra ưu điểm của người khác thì chúng ta nên hoan hỷ, thấy điều không may của người khác nên biết xúc động. Vui với người vui, buồn với người buồn. Trắc ẩn là lòng thương yêu, là thiện tâm. Trên đời có rất nhiều cảnh thương tâm, nhiều cuộc đời rất đáng thương, vô cảm là độc ác.
7. Học Sinh Tồn. Ðể sinh tồn, chúng ta phải biết giữ gìn sức khỏe – tinh thần và thể lý. Tinh thần thoải mái thì thân thể khỏe mạnh, và ngược lại. Thân thể khỏe mạnh không chỉ ích lợi cho bản thân mà còn làm cho gia đình, bạn bè an tâm. Đó cũng là biết sống hiếu đễ với người thân.
TRẦM THIÊN THU

20/3/13

Lam Chồng và làm cha

Làm chồng và làm cha

Làm chồng và làm cha
Làm Chồng và Làm Cha

Làm chồng và làm cha là hai bổn phận khác nhau, nhưng vẫn nối kết với nhau, vì hai trách nhiệm nhưng chỉ có một người phải thực hiện sao cho vuông tròn.

Muốn làm cha thì dễ nhưng để làm cha thì khó. Đối với con cái, người mẹ quan yếu về lĩnh vực tình cảm, người cha quan yếu về lĩnh vực tính cách. Vai trò nào cũng có tầm vóc riêng, nhưng phải làm sao giáo dục cho con cái biết sống có trách nhiệm, như R. Tagore nói: “Từ thuở ấu thơ đến lúc trưởng thành, những bài học về nghĩa vụ được coi là sự giáo dục toàn diện”.
Nữ giới hướng nội, nam giới hướng ngoại. Đó là quan niệm cổ xưa, bất cân bằng. Nữ là âm, nam là dương. Càn khôn phải có âm dương hòa hợp. Nội hay ngoại đều cần, không thể tuyệt đối bất di bất dịch mà chỉ nhiều hơn hay ít hơn một chút, nội hay ngoại đều có một vị trí nhất định. Thói gia trưởng đã và đang là mối quan ngại đối với phụ nữ trong việc lập gia đình, sinh con, tham gia hoạt động xã hội,… Làm chồng thì đừng áp chế vợ, và làm cha thì đừng đè nén con cái.
Chăm sóc gia đình không chỉ là đưa tiền về nhà với động thái “ban phát”, mà nam giới còn phải cởi mở thân thiện để vợ con không ngại trò chuyện hoặc cảm thấy xa cách. Xã hội ngày nay cần có sự bình đẳng tích cực, cha mẹ cùng chăm sóc con cái. Dĩ nhiên không ai được phép ỷ lại hoặc đùn đẩy trách nhiệm. Đừng tự quan trọng hóa cũng đừng khinh suất!
Sẽ là bình đẳng nếu nam giới biết chia sẻ một nửa công việc chăm sóc gia đình với phụ nữ, nhưng vẫn giữ vai trò “chống mũi chịu sào” của gia đình. Và như vậy, người chồng luôn được người vợ nể trọng, người cha luôn được con cái kính yêu.
Để có được cái nhìn bình đẳng thực sự trong gia đình, chính nam giới phải có sự thay đổi ngay từ trong nếp nghĩ. Thật vậy, càng hiểu biết nhiều thì người ta càng dễ cảm thông và tha thứ. Sự khiêm nhường luôn có hệ lụy với sự khoan dung, còn lòng kiêu ngạo luôn gắn liền với lòng ghen tỵ.
Sống tốt là sống chân thành, không xu nịnh, không vụ lợi hoặc thực dụng, dù là trong các vấn đề sinh tử. Đó là bổn phận làm người. Lão Tử dạy: “Lo thắng người thì loạn, lo thắng mình thì bình”. Sống tốt ngay từ trong gia đình, vì gia đình là nền tảng của đất nước và xã hội, để tạo lập và bảo vệ hạnh phúc đích thực – cái mà không thể mua bằng vàng bạc hay bất cứ loại châu báu nào.
Mọi người đều là thiên thần, nhưng thiên thần chỉ mới có một cánh. Chúng ta có thể bay lên cao được nhờ biết hợp tác, biết đồng lao cộng khổ và cùng chung lưng đấu cật ở mọi hoàn cảnh. Nghèo không sợ và khổ không nao, đó là con người không bao giờ bị khuất phục. Syrius khuyên: “Nên tin vào sự can đảm của mình hơn là sự may mắn”. Không ghen ghét ai và không cầu cạnh ai thì làm gì cũng tốt.
Ca dao Việt Nam có triết lý sống đơn giản nhưng vẫn thâm thúy:
Bề trên lượng cả khoan hồng
Khiến cho bề dưới đem lòng kính yêu
Thiên Chúa luôn đề cao gia đình, vì chính Chúa Giêsu cũng sống trong một gia đình và được cha mẹ chăm sóc. Hôn nhân là một trong bảy bí tích được Thiên Chúa thiết lập. Kinh thánh dạy: “Hãy thảo kính cha mẹ” (Hc 3:1-16). Và rồi Chúa Giêsu đã nêu gương vâng phục cha mẹ (Lc 2:51).
Thánh Phaolô đưa ra lời khuyên về đời sống gia đình: “Người làm vợ hãy phục tùng chồng, như thế mới xứng đáng là người thuộc về Chúa. Người làm chồng hãy yêu thương chứ đừng cay nghiệt với vợ. Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là điều đẹp lòng Chúa. Những bậc làm cha mẹ đừng làm cho con cái bực tức, kẻo chúng ngã lòng” (Cl 3:18-21).
Thánh Phaolô cũng nói riêng về trách nhiệm cha mẹ: “Những bậc làm cha mẹ, đừng làm cho con cái tức giận, nhưng hãy giáo dục chúng thay mặt Chúa bằng cách khuyên răn và sửa dạy” (Ep 6:4).
Phàm điều gì là bổn phận và trách nhiệm thì không hề dễ thực hiện, nhưng vẫn phải làm, vì thế mới phải không ngừng cố gắng! Riêng ngày 8-3, quý ông có kế hoạch gì cho “một nửa của mình” hay không???
TRẦM THIÊN THU

Kinh Thanh về Chúa Thánh Thần (trích đoạn)



VÀI NÉT VỀ
CANH TÂN ĐẶC SỦNG CÔNG GIÁO

TÀI LIỆU * LỜI CHỨNG * CẢM NGHIỆM



BÀI 9 : KINH THÁNH VỀ CHÚA THÁNH THẦN
(MỘT SỐ TRÍCH ĐOẠN)


MT 3:11 Tôi làm phép rửa cho các anh trong nước để giục lòng các anh sám hối. Còn Ðấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho các anh trong THÁNH THẦN và lửa.


GA 3:4 Ông Ni-cô-đê-mô thưa: "Một người đã già rồi, làm sao có thể sinh ra được? Chẳng lẽ người đó có thể trở vào lòng mẹ lần thứ hai để sinh ra sao?" 3:5 Ðức Giê-su đáp: "Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và THẦN KHÍ. 3:6 Cái gì bởi xác thịt mà sinh ra, thì là xác thịt; còn cái gì bởi THẦN KHÍ mà sinh ra, thì là THẦN KHÍ. 3:7 Ông đừng ngạc nhiên vì tôi đã nói: các ông cần phải được sinh lại bởi ơn trên. 3:8 Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi THẦN KHÍ mà sinh ra thì cũng vậy."


GA 4:23 Nhưng giờ đã đến - và chính là lúc này đây - giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong THẦN KHÍ và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. 4:24 Thiên Chúa là THẦN KHÍ, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong THẦN KHÍ và sự thật."


GA 14:25 Các điều đó, Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em. 14:26 Nhưng Ðấng Bảo Trợ là THÁNH THẦN Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Ðấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.

GA 15:26 Khi Ðấng Bảo Trợ đến, Ðấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là THẦN KHÍ sự thật phát xuất từ Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy. 15:27 Cả anh em nữa, anh em cũng làm chứng, vì anh em ở với Thầy ngay từ đầu.


CV 1:4 Một hôm, đang khi dùng bữa với các Tông Ðồ, Ðức Giê-su truyền cho các ông không được rời khỏi Giê-ru-sa-lem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa, "điều mà anh em đã nghe Thầy nói tới, 1:5 đó là: ông Gio-an thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong THÁNH THẦN."


CV 2:1 Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, 2:2 bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhaø, nơi họ đang tụ họp. 2:3 Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. 2:4 Và ai nấy đều được tràn đầy ơn THÁNH THẦN, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng THÁNH THẦN ban cho.

CV 2:17 Thiên Chúa phán: Trong những ngày cuối cùng, Ta sẽ đổ THẦN KHÍ Ta trên hết thảy người phàm, con trai con gái các ngươi sẽ trở thành ngôn sứ, thanh niên sẽ thấy thị kiến, bô lão sẽ được báo mộng. 2:18 Trong những ngày đó, Ta cũng sẽ đổ THẦN KHÍ Ta cả trên tôi nam tớ nữ của Ta, và chúng sẽ trở thành ngôn sứ.

CV 4:31 Họ cầu nguyện xong, thì nơi họ họp nhau rung chuyển; ai nấy đều được tràn đầy THÁNH THẦN và bắt đầu mạnh dạn nói lời Thiên Chúa.


CV 7:51 "Hỡi những người cứng đầu cứng cổ, lòng và tai không cắt bì, các ông luôn luôn chống lại THÁNH THẦN. Cha ông các ông thế nào, thì các ông cũng vậy. 7:52 Có ngôn sứ nào mà cha ông các ông không bắt bớ? Họ đã giết những vị tiên báo Ðấng Công Chính sẽ đến.


CV 8:15 Khi đến nơi, hai ông cầu nguyện cho họ, để họ nhận được THÁNH THẦN. 8:16 Vì THÁNH THẦN chưa ngự xuống một ai trong nhóm họ: họ mới chỉ chịu phép rửa nhân danh Chúa Giê-su. 8:17 Bấy giờ hai ông đặt tay trên họ, và họ nhận được THÁNH THẦN.


CV 9:17 Ông Kha-na-ni-a liền đi; ông vào nhà, đặt tay trên ông Sao-lô và nói: "Anh Sa-un, Chúa đã sai tôi đến đây, Người là Ðức Giê-su, Ðấng đã hiện ra với anh trên đường anh tới đây. Người sai tôi đến để anh lại thấy được và để anh được đầy THÁNH THẦN." 9:18 Lập tức có những cái gì như vảy bong ra khỏi mắt ông Sao-lô, và ông lại thấy được. Ông đứng dậy và chịu phép rửa.


CV 10:38 Quý vị biết rõ: Ðức Giê-su xuất thân từ Na-da-rét, Thiên Chúa đã dùng THÁNH THẦN và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người. Ði tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người.


CV 10:45 Những tín hữu thuộc giới cắt bì cùng đến đó với ông Phê-rô đều kinh ngạc vì thấy Thiên Chúa cũng ban THÁNH THẦN xuống trên cả các dân ngoại nữa, 10:46 bởi họ nghe những người này nói các thứ tiếng và tán dương Thiên Chúa. Bấy giờ ông Phê-rô nói rằng: 10:47 "Những người này đã nhận được THÁNH THẦN cũng như chúng ta, thì ai có thể ngăn cản chúng ta lấy nước làm phép rửa cho họ?"

CV 19:1 Trong khi ông A-pô-lô ở Cô-rin-tô thì ông Phao-lô đi qua miền thượng du đến Ê-phê-xô. Ông Phao-lô gặp một số môn đệ 19:2 và hỏi họ: "Khi tin theo, anh em đã nhận được THÁNH THẦN chưa?" Họ trả lời: "Ngay cả việc có THÁNH THẦN, chúng tôi cũng chưa hề được nghe nói." 19:3 Ông hỏi: "Vậy anh em đã được chịu phép rửa nào?" Họ đáp: "Phép rửa của ông Gio-an."


CV 19:4 Ông Phao-lô nói: "Ông Gio-an đã làm một phép rửa tỏ lòng sám hối, và ông bảo dân tin vào Ðấng đến sau ông, tức là Ðức Giê-su." 19:5 Nghe nói thế, họ chịu phép rửa nhân danh Chúa Giê-su. 19:6 Và khi ông Phao-lô đặt tay trên họ, thì Thánh Thần ngự xuống trên họ, họ nói tiếng lạ và nói tiên tri.


CV 28:24 Nghe ông nói, người thì được thuyết phục, người thì không chịu tin. 28:25 Khi giải tán, họ vẫn không đồng ý với nhau; ông Phao-lô chỉ nói thêm một lời: "THÁNH THẦN đã nói rất đúng khi dùng ngôn sứ I-sai-a mà phán với cha ông anh em 28:26 rằng: Hãy đến gặp dân này và nói: Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy, 28:27 vì lòng dân này đã ra đần độn, chúng đã nặng tai, còn mắt thì chúng nhắm lại, kẻo mắt chúng thấy, tai chúng nghe, và lòng hiểu được mà hoán cải, và rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành”.


RM 8:5 Những ai sống theo tính xác thịt, thì hướng về những gì thuộc tính xác thịt; còn những ai sống theo THẦN KHÍ, thì hướng về những gì thuộc THẦN KHÍ. 8:6 Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của THẦN KHÍ là sự sống và bình an. 8:8 Những ai bị tính xác thịt chi phối thì không thể vừa lòng Thiên Chúa. 8:9 Nhưng anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được THẦN KHÍ chi phối, bởi vì THẦN KHÍ của Thiên Chúa ngự trong anh em. Ai không có THẦN KHÍ của Ðức Ki-tô, thì không thuộc về Ðức Ki-tô. 8:10 Nhưng nếu Ðức Ki-tô ở trong anh em, thì dầu thân xác anh em có phải chết vì tội đã phạm, THẦN KHÍ cũng ban cho anh em được sống, vì anh em đã được trở nên công chính.


RM 8:14 Quả vậy, phàm ai được THẦN KHÍ Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa. 8:15 Vì THẦN KHÍ mà anh em đã lãnh nhận được, đâu phải là tinh thần nô lệ, khiến anh em phải sợ sệt như xưa; nhưng là THẦN KHÍ làm cho anh em nên nghĩa tử, khiến chúng ta được kêu lên: "Áp-ba! Cha ơi!" 8:16 Chính THẦN KHÍ chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa.

RM 8:25 Nhưng nếu chúng ta trông mong điều mình chưa thấy, thì đó là chúng ta bền chí đợi chờ. 8:26 Hơn nữa, lại có THẦN KHÍ giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính THẦN KHÍ cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn ta û (ơn tiếng lạ). 8:27 Và Thiên Chúa, Ðấng thấu suốt tâm can, biết THẦN KHÍ muốn nói gì, vì THẦN KHÍ cầu thay nguyện giúp cho các thánh theo đúng ý Thiên Chúa.


RM 14:15 Nếu vì bạn ăn một thức ăn, mà bạn làm phiền lòng người anh em, thì bạn không còn sống theo đức ái nữa. Ðừng vì thức ăn của bạn mà làm cho người đã được Ðức Ki-tô chết cho phải hư mất! 14:16 Vậy đừng để cho thiên hạ chê bai điều mà anh em cho là tốt. 14:17 Vì Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong THÁNH THẦN.

RM 15:18 Thật thế, tôi đâu dám nhắc đến chuyện nào khác, ngoài những gì Ðức Ki-tô đã dùng tôi mà thực hiện để đưa các dân ngoại về phục vụ Thiên Chúa, thực hiện bằng lời nói việc làm, 15:19 bằng sức mạnh của những dấu lạ điềm thiêng, bằng quyền năng của THÁNH THẦN.


PL 2:1 Nếu quả thật sự liên kết với Ðức Ki-tô đem lại cho chúng ta một niềm an ủi, nếu tình bác ái khích lệ chúng ta, nếu chúng ta được hiệp thông trong THẦN KHÍ, nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau, 2:2 thì xin anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn, là hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau. 2:3 Ðừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. 2:4 Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác.


2PR 4:14 Nếu bị sỉ nhục vì danh Ðức Ki-tô, anh em thật có phúc, bởi lẽ THẦN KHÍ vinh hiển và uy quyền, là THẦN KHÍ của Thiên Chúa, ngự trên anh em.


1GA 4:1-2 Anh em thân mến, anh em đừng cứ THẦN KHÍ nào cũng tin, nhưng hãy cân nhắc các THẦN KHÍ em có phải bởi Thiên Chúa hay không (ơn biện phân), vì đã có nhiều ngôn sứ giả an tràn khắp thế gian. 4:2 Căn cứ vào điều này, anh em nhận ra THẦN KHÍ của Thiên Chúa: THẦN KHÍ nào tuyên xưng Ðức Giê-su Ki-tô là Ðấng đã đến và trở nên người phàm, thì THẦN KHÍ ấy bởi Thiên Chúa; 4:3 Còn THẦN KHÍ nào không tuyên xưng Ðức Giê-su, thì không bởi Thiên Chúa; đó là THẦN KHÍ của tên phản Ki-tô. Anh em đã nghe nói là nó đang tới, và hiện nay nó ở trong thế gian rồi.


1GA 5:6 Chính Ðức Giê-su Ki-tô là Ðấng đã đến, nhờ nước và máu; không phải chỉ trong nước mà thôi, nhưng trong nước và trong máu. Chính THẦN KHÍ là chứng nhân, và THẦN KHÍ là sự thật. 5:7 Có ba chứng nhân: 5:8 THẦN KHÍ, nước và máu. Cả ba cùng làm chứng một điều.


GL 5:15 Nhưng nếu anh em cắn xé nhau, anh em hãy coi chừng, anh em tiêu diệt lẫn nhau đấy! 5:16 Tôi xin nói với anh em là hãy sống theo THẦN KHÍ, và như vậy, anh em sẽ không còn thoả mãn đam mê của tính xác thịt nữa. 5:17 Vì tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với THẦN KHÍ, còn THẦN KHÍ lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt, đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn. 5:18 Nếu anh em để cho THẦN KHÍ hướng dẫn, thì anh em không còn lệ thuộc Lề Luật nữa.

GL 5:22 Còn hoa quả của THẦN KHÍ là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, 5:23 hiền hoà, tiết độ (hoa quả của Thần khí). Không có luật nào chống lại những điều như thế. 5:24 Những ai thuộc về Ðức Ki-tô Giê-su thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê. 5:25 Nếu chúng ta sống nhờ THẦN KHÍ, thì cũng hãy nhờ THẦN KHÍ mà tiến bước.


EP 4:22 Vì thế, anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, 4:23 anh em phải để THẦN KHÍ đổi mới tâm trí anh em, 4:24 và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện.

EP 4:29 Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp, để xây dựng và làm ích cho người nghe. 4:30 Anh em chớ làm phiền lòng THÁNH THẦN của Thiên Chúa, vì chính Người là dấu ấn ghi trên anh em, để chờ ngày cứu chuộc. 4:31 Ðừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thoá mạ, và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác.


1COR 2:4 Tôi nói, tôi giảng mà chẳng có dùng lời lẽ khôn khéo hấp dẫn, nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thực của THẦN KHÍ và quyền năng Thiên Chúa. 2:5 Có vậy, đức tin của anh em mới không dựa vào lẽ khôn ngoan người phàm, nhưng dựa vào quyền năng Thiên Chúa.


1COR 2:10 Còn chúng ta, chúng ta đã được Thiên Chúa mặc khải cho, nhờ THẦN KHÍ. Thật vậy, THẦN KHÍ thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa. 2:11 Vậy ai trong loài người biết được những gì nơi con người, nếu không phải là thần trí của con người trong con người? Cũng thế, không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là THẦN KHÍ của Thiên Chúa. 2:12 Phần chúng ta, chúng ta đã không lãnh nhận thần trí của thế gian, nhưng là THẦN KHÍ phát xuất từ Thiên Chúa, để nhận biết những ân huệ Thiên Chúa đã ban cho chúng ta. 2:13 Ðể nói về những điều đó, chúng tôi không dùng những lời lẽ đã học được nơi trí khôn ngoan của loài người, nhưng dùng những lời lẽ học được nơi THẦN KHÍ; chúng tôi dùng những lời lẽ THẦN KHÍ linh hứng để diễn tả thực tại thuộc về THẦN KHÍ. 2:14 Con người sống theo tính tự nhiên thì không đón nhận những gì của THẦN KHÍ Thiên Chúa, vì cho đó là sự điên rồ; họ không thể biết được, bởi vì phải nhờ THẦN KHÍ mới có thể xét đoán. 2:15 Nhưng con người sống theo THẦN KHÍ thì xét đoán được mọi sự, mà chẳng có ai xét đoán được người đó.


1COR 4:19 Nhưng nếu Chúa muốn, chẳng bao lâu nữa tôi sẽ đến với anh em, và tôi sẽ được biết, không phải tài ăn nói của những kẻ kiêu ngạo đó, mà là quyền năng của THẦN KHÍ. 4:20 Thật vậy, Nước Thiên Chúa không cốt ở tài ăn nói, nhưng ở quyền năng.


1COR 6:19 Hay anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Ðền Thờ của THÁNH THẦN sao? Mà THÁNH THẦN đang ngự trong anh em là THÁNH THẦN chính Thiên Chúa đã ban cho anh em. Như thế, anh em đâu còn thuộc về mình nữa, 6:20 vì Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc lấy anh em. Vậy anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em.


1COR 12:4 Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một THẦN KHÍ. 12:5 Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. 12:6 Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. 12:7 THẦN KHÍ tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung. 12:8 Người thì được THẦN KHÍ ban cho ơn khôn ngoan để giảng dạy, người thì được THẦN KHÍ ban cho ơn hiểu biết để trình bày. 12:9 Kẻ thì được THẦN KHÍ ban cho lòng tin; kẻ thì cũng được chính THẦN KHÍ duy nhất ấy ban cho những đặc sủng để chữa bệnh. 12:10 Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri; kẻ thì được ơn phân định THẦN KHÍ; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa lại được ơn giải thích các tiếng lạ. 12:11 Nhưng chính THẦN KHÍ duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tuỳ theo ý của Người.


1COR 14:1 Anh em hãy cố đạt cho được đức mến, hãy khao khát những ơn của THẦN KHÍ, nhất là ơn nói tiên tri. 14:2 Thật vậy, kẻ nói tiếng lạ thì không nói với người ta, nhưng là nói với Thiên Chúa, bởi vì chẳng ai hiểu được: nhờ THẦN KHÍ, kẻ ấy nói ra những điều nhiệm mầu.


1COR 14:5 Tôi muốn cho tất cả anh em nói các tiếng lạ, và nhất là tôi muốn cho anh em nói tiên tri. Người nói tiên tri thì cao trọng hơn người nói các tiếng lạ, trừ phi người này giải thích để xây dựng Hội Thánh.


1COR 14:18 Tôi cảm tạ Thiên Chúa vì tôi nói các tiếng lạ nhiều hơn tất cả anh em.


1COR 14:37 Nếu ai tưởng mình là ngôn sứ hoặc được THẦN KHÍ linh hứng, thì hãy nhìn nhận rằng các điều tôi viết đây là mệnh lệnh của Chúa. 14:38 Ai không nhận biết điều ấy, thì cũng không được Chúa biết đến. 14:39 Cho nên, thưa anh em, anh em hãy khao khát ơn nói tiên tri và đừng ngăn cấm nói các tiếng lạ.


2COR 3:17-18 Chúa là THẦN KHÍ, và ở đâu có THẦN KHÍ của Chúa, thì ở đó có tự do. 3:18 Tất cả chúng ta, mặt không che màn, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương; như vậy, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là THẦN KHÍ.

 Nguồn thanhlinh
***************************************************

THÁNH THẦN VÀ NHỮNG CỘNG ĐOÀN MỚI

VÀI NÉT VỀ
CANH TÂN ĐẶC SỦNG CÔNG GIÁO

TÀI LIỆU * LỜI CHỨNG * CẢM NGHIỆM






BÀI 8 :THÁNH THẦN VÀ NHỮNG CỘNG ĐOÀN MỚI
 


Trích Chương 8, tác phẩm
THÁNH THẦN, HƠI THỞ SỐNG ĐỘNG CỦA GIÁO HỘI
Cố Hồng Y L.J. SUENENS

 


Đức tin phải thấm nhuần tình huynh đệ,
nghĩa là phải được thể hiện trong cộng đoàn,
nếu không, đức tin sẽ chẳng tồn tại.
P. Liége




1. HÌNH ẢNH BAN ĐẦU CỦA GIÁO HỘI :TÌNH HUYNH ĐỆ KITÔ GIÁO


Trên hành trình trở về nguồn của Kitô giáo, chúng ta đã nêu lên đặc tính của người Kitô hữu nguyên thủy. Đó là những người «biết hoán cải, nhận Đức Giêsu làm Chúa và làm Đấng Cứu Độ, lắng nghe Thánh Thần».


Chúng ta cũng phải ý thức thực trạng của các cộng đoàn Kitô giáo thời sơ khai ấy. Sau hai mươi thế kỷ, các bối cảnh văn hóa xã hội rõ ràng đã thay đổi rất nhiều. Nhưng để giữ sự liên tục không bị gián đoạn với quá khứ, cần phải tìm lại những yếu tố cốt yếu. Ngay cả những tương phản cũng có giá trị giúp ta tự vấn lương tâm. Ngày nay, chữ «Giáo Hội» xét về mặt bên ngoài, hẳn sẽ gợi lên hình ảnh một xã hội có tổ chức chặt chẽ, bao trùm mọi lục địa, được điều hành bằng những luật lệ phổ quát do Đức Giáo Hoàng ban hành. Đó là hình ảnh một «định chế» bên cạnh «những định chế khác», thường được nói đến trong khuôn khổ chính trị hoặc xã hội học. Người ta xếp chung trên cùng một bình diện những quyền bính dân sự, quân sự và tôn giáo; rồi đồng hóa sự khủng hoảng của Giáo Hội với sự khủng hoảng của một chế độ quân chủ tuyệt đối đang bị các thế lực dân chủ chống đối. Đó là nhìn Giáo Hội qua một ống nhòm bị điều chỉnh sai, dưới góc độ làm hình ảnh bị rời ra xa, bị biến dạng, thay vì đưa lại gần.


Mang thân phận con người trong thời gian và không gian, nên Giáo Hội cũng là «định chế và xã hội»; nhưng – như chúng tôi đã nói - tự nơi bản chất thâm sâu của mình, Giáo Hội là một cộng đoàn huynh đệ gồm những người nhìn nhận Đức Giêsu Na-da-rét, đã chết và phục sinh, là Đấng Cứu Độ con người và thế giới. Họ nhìn nhận Ngài là Chúa và là Con duy nhất của Thiên Chúa. Và họ muốn dựa vào Ngài để cùng thực hiện những nội dung đức tin của họ, giữa họ với nhau và với tất cả mọi người. Giáo Hội chỉ hiện diện cụ thể ở nơi nào các tín hữu tụ họp lại để nghe lơi Chúa, để cầu nguyện, để cử hành Tiệc Thánh, để dấn thân sống đức tin và đức ái bằng một cuộc sống cá nhân và cộng đoàn bất khả phân ly.
Cha L. Bouyer đã viết rất chính xác:


« Tự căn cơ Giáo Hội không hiện hữu như một tổ chức có qui mô toàn cầu chuyên lo việc phụng tự, rao giảng Tin Mừng hoặc việc bác ái Kitô giáo, mà trước tiên như những cộng đoàn chủ yếu ở địa phương gồm các tín hữu tụ tập nhau lại để cử hành Thánh Thể».39


Sách Công Vụ Tông Đồ cho chúng ta thấy tình huynh đệ của các Kitô hữu, là môn đệ Đức Giêsu. Họ liên kết chặt chẽ với nhau, đôi khi đến mức chia sẻ của cải cho nhau.


Những Kitô hữu đầu tiên, gồm ba ngàn người hoán cải và gia nhập đức tin, đã đón nhận lời Thánh Phêrô và các Tông Đồ vào sáng ngày Thánh Thần hiện xuống. Họ được sách Công Vụ Tông Đồ mô tả là:


– một cộng đoàn do các Tông Đồ hướng dẫn, chuyên chú nghe các Tông Đồ dạy dỗ.
– một cộng đoàn huynh đệ linh hoạt nhờ những buổi hội họp và tiếp xúc thường xuyên với nhau.
– một cộng đoàn Thánh Thể, cùng cử hành lễ tưởng niệm Đức Chúa «cho đến khi Ngài lại đến».
– một cộng đoàn cầu nguyện, trước tiên cùng tụ họp ở Đền Thờ, và về sau tại nhà của nhau.




Trên đây là những nét chủ yếu người ta nhận thấy nơi Giáo Hội thời sơ khai; sự hiệp thông huynh đệ nồng ấm này là dấu chỉ tuyệt vời làm cho người ta tin tưởng vào Giáo Hội. Người ta phải buột miệng nói: «Kìa xem họ yêu thương nhau biết bao!».
Những ai nhìn họ sống đều bị đánh động bởi niềm vui, tâm hồn đơn sơ, tình huynh đệ chan chứa của họ. Ta có thể nói rằng đời sống của họ rõ ràng là chân thật, họ tin tưởng thế nào thì thực hành thế ấy. Họ cố gắng sống trọn vẹn lời nhắn nhủ hết sức hợp lý sau đây: «Ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy thì làm sao có thể yêu mến Thiên Chúa, Đấng họ không thấy» (1Ga 4,20).



Mối hiệp thông huynh đệ của họ không phải là kết quả của sự gần gũi tự nhiên, hoặc do sự nhiệt tình lãng mạn. Mối hiệp thông ấy– Koinonia – trải qua những căng thẳng nội bộ mà họ phải vượt thắng, bên trên những gì ngăn cách hoặc đối đầu giữa nô lệ và chủ nhân, giữa đàn ông và đàn bà, giữa Do Thái và Hy Lạp.



Mối hiệp thông huynh đệ ở đây không phát sinh từ việc có chung một ý thức hệ hoặc cùng sống theo một bộ luật chi tiết nào đó mà bắt nguồn từ việc gặp gỡ một Đấng và do việc tuyên xưng niềm tin của mình vào Đấng ấy. Mối hiệp thông trước tiên là hiệp thông với Đấng nầy, từ đó phát sinh ra sự hiệp nhất giữa các anh chị em cùng tuyên dương Ngài. Mối hiệp thông này là một «Martyria= mầu nhiệm tử đạo» nghĩa là chứng tá. Chính từ ngữ này – «Martyria» – nói lên mức chứng tá mà Kitô hữu có thể phải gặp.40



Mối hiệp thông huynh đệ này còn là «Diaconia», nghĩa là phục vụ trong tình liên đới, ưu tiên phục vụ các anh chị em đang gặp khó khăn. Chúng ta nhớ lại những quyên góp của thánh Phaolô giúp các Kitô hữu ở Giêrusalem và việc chia sẻ của cải cho nhau. Mối hiệp thông huynh đệ nầy giải thích nhiều tác vụ khác nhau để phục vụ cộng đoàn trong chính nhãn quan “diaconia”trên đây.



Các chức năng mục vụ được định vị ngay trong khuôn khổ tình huynh đệ khởi thủy này. Dĩ nhiên, các chức năng ấy không thuần túy phát sinh từ cộng đoàn. Vì từ khởi thủy, Đức Giêsu đã ban cho Giáo Hội Ngài một tác vụ tông đồ nối liền với Ngài cách đặc biệt. Nhưng việc phục vụ Giáo Hội đã thấm sâu vào tâm hồn những cộng đoàn đang khai sinh.
Trong chương hai hiến chế Lumen Gentium, Công Đồng Vatican II đã nhấn mạnh khía cạnh huynh đệ là nền tảng của Giáo Hội khi mô tả Giáo Hội là dân Thiên Chúa, dân chịu phép rửa, dân coi nhau là anh chị em mình. Như thế, Công Đồng Vatican II đã tiếp nối truyền thống mà dư âm hiện vẫn còn vang trong sách Công Vụ Tông Đồ. Đó là quyết định của Công Đồng Giê-ru-sa-lem, quyết định chung của «các Tông Đồ, các trưởng lão và các anh em», được truyền đến các Kitô hữu ở An-ti-ô-ki-a, Si-ri-a, Si-li-xi-a. Quyết định ấy được coi như của toàn thể cộng đoàn: «Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định không đặt lên vai anh em một gánh nặng nào khác ngoài những điều cần thiết này» (Cv 15,28).


Trong ba thế kỷ đầu, các thế hệ Kitô hữu đầu tiên đã sống tình huynh đệ này hết sức tự nhiên. Chữ «Giáo Hội» có nghĩa là cuộc tụ họp, và cuộc tụ họp này mang danh nghĩa «cộng đoàn huynh đệ» (Thư thánh Phêrô). Các Giáo Hội địa phương này gởi thư cho các Giáo Hội địa phương khác. Các giám mục cũng gởi các sứ điệp tới các Giáo Hội khác với Giáo Hội của mình. Chẳng hạn thư của Thánh Phaolô gởi tín hữu Roma không phải là một trường hợp riêng lẻ. Vào đầu thế kỷ thứ hai, thánh I-nha-xi-ô thành An-ti-ô-ki-a gởi bảy lá thư cho các Giáo Hội trong đó có sáu Giáo Hội thuộc về một vùng khác. Thời ấy, người ta cùng sống đạo Kitô với nhau, các công việc của bất kỳ ai cũng đều là việc của mọi người. Thay đổi lịch sử xảy ra giữa thế kỷ thứ III và thứ VI. Càng ngày người ta càng nhấn mạnh đến khía cạnh định chế và pháp lý của Giáo Hội, cũng như phân biệt giữa giáo sĩ và giáo dân, để cuối cùng giống như đã lập ra hai giai cấp trong Giáo Hội.



Nói thế không có nghĩa là giáo phẩm và tác vụ linh mục không phải là những thực thể chuyên biệt, nhưng vai trò riêng của họ được linh hoạt trong khuôn khổ cộng đoàn. Vì thế, bình diện mục vụ chi phối rõ rệt ý nghĩa thẩm quyền tôn giáo. Và sự kiện nầy giải thích hình ảnh mục tử được Giáo Hội chọn để nói đến các vị hướng dẫn cộng đoàn: hình ảnh này không chỉ có trong Tin Mừng vốn mô tả Đức Giêsu là vị mục tử nhân lành, mà nó còn đáp ứng được thực thể Giáo Hội mà người ta đang sống. Vai trò mục tử trước tiên không phải là cai quản đàn chiên mà là tụ họp chiên lại, liên kết chúng với nhau thành một cộng đoàn thống nhất.





2. KITÔ GIÁO MANG TÍNH CỘNG ĐOÀN


Giáo Hội sơ khai đã phát sinh như một tập thể gồm những cộng đoàn bé nhỏ của các Kitô hữu, tản mác khắp nơi trong đế quốc La Mã. Họ sống giữa mọi người, đóng vai trò mà Đức Giêsu đã chỉ định là làm muối đất, làm men dậy bột. Nhờ sức mạnh từ bên trong – tức quyền lực của Thánh Thần hoạt động trong Giáo Hội – dần dà người gặp người và Giáo Hội được thiết lập. Khi nhìn về tương lai, chúng ta như tái khám phá một Giáo Hội sống lưu đày, tản mác. Đây lại là lý do mới nữa gợi ý cho chúng ta rút tỉa bài học của thời nguyên thủy Giáo Hội. Tôi tin rằng, hơn bao giờ hết, tương lai của Giáo Hội tùy thuộc vào sức mạnh và phẩm cách của đời sống cộng đoàn của mình. Giáo Hội tương lai tùy thuộc vào các cộng đoàn Kitô hữu, là những nơi thể hiện Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Kitô.



Kitô giáo và chủ nghĩa cá nhân không thể đi đôi với nhau. Bản chất của đời sống Kitô hữu là để cho Chúa Kitô trở thành sự sống chung của các Kitô hữu. Là để Thánh Thần xây dựng Giáo Hội nơi chúng ta bằng những ân huệ đa biệt, đồng quy và bổ sung lẫn nhau. Đặc tính của các đoàn sủng không phải là sự biểu hiện của Thánh Thần vì thiện ích chung sao? Đoàn sủng được bảo đảm là chân thật khi các Kitô hữu trong cộng đoàn biết rõ nhau, phê bình xây dựng lẫn nhau, cùng nhau suy xét. Nhờ sinh hoạt chung như thế mà cuộc sống cộng đoàn thêm phong phú, và những đối nghịch đi đến hòa hợp. Người ta thường nói phải hợp nhiều người lại mới có được quyết định khôn ngoan. Cũng có thể nói : phải hợp nhiều người lại thì mới là Kitô hữu. Vả lại Đức Giêsu từng dạy rằng : «Ở đâu có hai hoặc ba người họp lại vì danh Thầy thì Thầy ở giữa họ» (Mt 18,20). Lời hứa này bắt nguồn từ chính mầu nhiệm Ba Ngôi.


Sự thống nhất siêu việt ấy của Ba Ngôi đã được Đức Giêsu chỉ cho chúng ta như gương mẫu tối cao để chúng ta bắt chước và thể hiện trong đời sống của mình. Kitô hữu là một hữu thể cộng đoàn. Nếu không ai là một hòn đảo thì điều ấy lại càng đúng đối với tất cả những ai đã chịu phép rửa tội. Chính Đức Giáo Hoàng cũng không thể tự cô lập. Thượng phụ Athénagoras từng nói: «Đức Giáo Hoàng cũng cần có anh em».


Để Đức Giêsu đặc biệt hiện diện, chúng ta cần phải hợp thành một cộng đoàn, tối thiểu là hai hoặc ba người. Người ta phải sống Kitô giáo chung với nhau. Không gần gũi anh chị em mình, làm sao ta có thể chia sẻ lương thực thiêng liêng với họ? Mỗi người phải làm sao phát triển các đoàn sủng mình nhận được để ích lợi cho tất cả mọi người. Trước khi trở thành Giáo Hội hoàn cầu, thì Giáo Hội đã từng là Giáo Hội Cô-rin-tô hoặc Giáo Hội Ê-phê-sô. Chúng ta càng ý thức về sức sống cộng đoàn cụ thể, thì Giáo Hội càng hiện diện linh động và càng triển nở.


Đời sống cộng đoàn và nhu cầu con người ngày nay


Kitô giáo tự bản chất là cộng đoàn. Điều này đúng trong mọi nơi mọi lúc; nhưng người Kitô hữu hôm nay lại cần phải phục hoạt những cộng đoàn Kitô hữu, không phải chỉ để sống đức tin của mình, mà còn để tồn tại với tư cách Kitô hữu trong một thế giới ngày càng xa lạ với Kitô giáo. Chèo ngược dòng nước thì lúc nào cũng vất vả; người ta hầu như bị miễn cưỡng lôi đi. Con người là con cái của thời đại mình nhiều hơn là con cái của cha mẹ mình. Chúng ta bị đe doạ trầm trọng bởi khuôn mẫu tập thể; xã hội đang áp đặt hình ảnh và các tiêu chuẩn độc đoán của nó trên chúng ta. Nếu nhân loại tiến bộ trong một số lãnh vực thì nó lại thụt lùi trong biết bao lãnh vực khác: phong hóa đồi bại, tội ác gia tăng, bạo lực, mưu sát, v..v.. Người Kitô hữu đang hít thở không khí của một thế giới như thế. Không thể sống Kitô giáo trong hầm kín, biệt cư để mong tránh khỏi các loại chướng khí độc hại ấy .


Cộng đoàn Kitô hữu cơ bản là gì?


Do đó, hơn bao giờ hết, chúng ta cảm thấy khẩn thiết phải làm sống dậy những cộng đoàn Kitô hữu đích thực. Thế nhưng danh hiệu «cộng đoàn cơ bản» thường bao hàm những thực tế hết sức khác nhau, ngay cả trong môi trường Kitô giáo. Một linh mục người Bỉ, cha Max Delespesse, giám đốc Trung tâm cộng đoàn quốc tế ở Bruxelles, nhận xét như sau: Người ta hay dùng tên ấy để nói đến những cộng đoàn «cùng hành động với nhau» hơn là «cùng sống với nhau». Các cộng đoàn cùng hành động với nhau đương nhiên có lý do hiện hữu của mình, tuy nhiên, ở đây chúng ta không đề cập đến những cộng đoàn này. Cộng đoàn Kitô hữu mà chúng tôi muốn nói tới là loại cộng đoàn «cùng sống với nhau» để rồi cùng hành động với nhau.


Việc sống cùng với nhau ấy có thể thực hiện ở nhiều mức độ khác nhau. Ở đây chúng ta không cần phân tích các mức độ ấy. Nhưng đối với Kitô hữu, cùng sống với nhau mà thôi thì chưa đủ để thành một cộng đoàn Kitô hữu. Chỉ là cộng đoàn Kitô hữu nếu họ thực sự cùng sống với nhau vì Đức Giêsu Kitô, Đấng mà họ công khai tuyên xưng, Đấng mà họ cố gắng bước theo vì Ngài là Chủ Tể sự sống, là Đấng Cứu Độ, là Chúa. Một cộng đoàn chỉ đích thực là Kitô giáo nếu biết đáp lại lời gọi của Đức Giêsu Kitô để Thánh Thần Ngài dẫn dắt đi giữa lòng thế giới. Bonhoeffer lưu ý đến điều kiện đầu tiên này, ông viết:
«Ngay từ đầu cần phải ý thức rằng tình huynh đệ Kitô giáo trước hết không phải là một lý tưởng do con người suy nghĩ ra, mà là một thực tế được Thiên Chúa ban tặng. Tiếp đó, ý thức rằng thực tế nầy thuộc trật tự thiêng liêng chứ không thuộc trật tự tâm lý. Không thể đếm hết những cộng đoàn Kitô hữu bị băng rã vì đã sống theo một hình ảnh ảo tưởng về Giáo Hội».41


Suy nghĩ trên đây rất chính xác và đúng lúc. Có lần tôi đọc lướt qua một tạp chí nọ, bỗng đọc thấy một định nghĩa về cộng đoàn cơ bản như sau: «Các cộng đoàn cơ bản ít nhắm tới việc loan báo Đức Giêsu Kitô cho bằng tự tra vấn mình về chính Ngài, và sống đức tin như một cuộc tìm kiếm liên lỉ. Các cộng đoàn này muốn liên kết hoạt động chính trị với việc sống đạo Kitô giáo của mình». Trong đoạn trên, cần hiểu rõ từng chữ một. Theo nghĩa đích xác và mạnh mẽ của bản chất mình thì một cộng đoàn Kitô giáo không thể nào không rao truyền Đức Giêsu Kitô: «Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng» (1Cr 9,16). Nói thế không có nghĩa là phải thực hiện ơn gọi nầy một cách thiếu suy xét, cẩu thả. Có rất nhiều cách «trình bày về Đức Giêsu Kitô». Dầu sao đi nữa thì người Kitô hữu phải luôn luôn nghĩ đến chuyện làm sao mang sứ điệp đến với mọi người bất chấp trở ngại và chống đối có thể xảy ra.


Trong câu định nghĩa trên có câu: «Tự tra vấn mình về Đức Giêsu Kitô và sống đức tin như một cuộc tìm kiếm». Nhưng chúng ta cần đồng ý với nhau lối hiểu câu nầy: Hẳn nhiên người ta có thể thắc mắc về Đức Giêsu Kitô và tìm cách nhận biết Ngài rõ hơn khởi từ đức tin nguyên thủy vào Ngài và trong khuôn khổ đức tin ấy. Đó chính là sứ mạng của thần học. Hoặc là theo giả thuyết hoàn toàn khác, người ta thắc mắc từ nơi ngưỡng cửa đức tin, rốt ráo đặt lại vấn đề đức tin của mình.
Có thể có những nhóm người dọ dẫm còn xa lạ với đức tin đang cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa của Kitô giáo. Nhưng những nhóm người như thế chưa phải những cộng đoàn Kitô hữu theo nghĩa chính xác. Còn nếu là những người đã chịu phép rửa, thì cuộc tìm kiếm của họ lại mang một ý nghĩa khác. Nếu ta thắc mắc nghi ngờ thần tính Đức Giêsu Kitô hay về sự phục sinh của Ngài – không phải về việc mầu nhiệm ấy xảy ra thế nào, mà về chính việc chấp nhận mầu nhiệm ấy –, thì ta không còn là Kitô hữu nữa. Một cộng đoàn tìm kiếm như thế không phải là một cộng đoàn Kitô giáo. Cần phải tôn trọng giá trị của từ ngữ. Bất hạn một cộng đoàn Kitô giáo nào, ngay từ nền tảng, cũng phải cùng nhau nhìn nhận Đức Giêsu và sứ điệp của Ngài.



Khi hỏi: «Người Kitô hữu là ai?» người ta thường trả lời: đó là một người tốt, công bình, bác ái, có đạo đức và có ý thức xã hội. Nhưng rất nhiều người không là Kitô hữu cũng có những đức tính ấy, đôi khi còn hơn cả chúng ta. Thế thì sao? Đặc tính duy nhất và cấu thành Kitô giáo không phải là toàn bộ các nguyên tắc hay giá trị, mà là Đức Giêsu Kitô. Điều cốt yếu của Kitô giáo chính là ý nghĩa của cuộc đời, của sự chết, của sự sống lại của Đức Giêsu Kitô, và của sự hiện diện sống động của Ngài nhờ Thánh Thần.


Nếu Đức Kitô chỉ là một danh hiệu mơ hồ, kỳ thực chỉ là nhằm mô phỏng tình yêu đối với nhân loại mà thôi, và nếu Tin Mừng bị giản lược thành một chủ nghĩa nhân bản xã hội nào đó, thì danh hiệu Giêsu hẳn có thể gán cho tên của bất kỳ vị tiên tri vĩ đại nào đó của nhân loại. Cổ võ canh tân trong Giáo Hội để làm gì nếu việc canh tân này không giúp người ta tái khám phá một cách sâu xa tương quan cá nhân của người Kitô hữu với Đức Giêsu Kitô. Nếu muốn sống đời Kitô hữu một cách trung thực, trước tiên phải tìm cho ra ý nghĩa chính xác của phép rửa trong Đức Giêsu Kitô.
Đức Giêsu Kitô là viên đá gốc, là nền của mọi cộng đoàn Kitô hữu. Để một cộng đoàn Kitô hữu có thể sống và tồn tại, cần phải có lẽ sống, và lẽ sống ấy chính là Đức Kitô. Không thể thay thế lẽ sống ấy bằng bất cứ thứ gì. Ngài làm cộng đoàn sinh động từ bên trong nhờ Thánh Thần của Ngài. Không có Ngài, không thể có gặp gỡ, không thể có hiệp thông đích thực giữa con người với nhau.


Không ai diễn tả chức năng của Thánh Thần là mối dây liên kết con người lại với nhau một cách tuyệt vời như Dietrich Bonhoeffer. Thần học gia Tin Lành bị Đức Quốc Xã sát hại này vẫn là một trong những nhà tư tưởng được giới trẻ yêu thích. Người ta trích dẫn những lá thư ông viết trong tù nhiều hơn tất cả những tác phẩm khác của ông. Tôi nghĩ rằng trang trích dẫn sau đây nói lên tư tưởng chính yếu của tác phẩm của ông: «Bàn về bản chất đích thực của Giáo Hội». Trong trang này, ông nhắc nhở rằng từ kể từ biến cố Hiện Xuống, chính Thánh Thần luôn làm cho mọi «cuộc tụ họp nhau» trở thành «Giáo Hội»:
«Người ta tụ họp lại: Thánh Thần ngự xuống trên họ... Trước tiên là tụ họp lại, tiếp đến là Thánh Thần ngự xuống. Tụ họp mà thôi thì chưa phải là Giáo Hội: chính Thánh Thần mới làm cho sự tụ họp ấy thành Giáo Hội. Nhưng Thánh Thần chỉ đến trên những người đã tụ họp lại với nhau. Con người chẳng thể làm gì để cứu rỗi mình, nhưng họ có thể hướng về Giáo Hội: lời hứa ban Thánh Thần được hứa cho từng người với điều kiện người ấy phải là thành viên của một cộng đoàn tập hợp lại. Điều mới mẻ xảy đến cho người ấy chính là Thánh Thần đến. Việc Thánh Thần ngự đến và việc thành lập Giáo Hội là một biến cố nhìn thấy được chứ không phải một ý tưởng mơ hồ. Thánh Thần tự tạo cho mình một chỗ trong thế gian và Ngài ngự đến với những dấu chỉ hữu hình. Cộng đoàn lập tức thành hình, mọi người đều có thể nhìn thấy và chân nhận.



Thành lập Giáo Hội không phải là một việc được thực hiện giấu giếm trong một xó xỉnh nào đó, mà là một biểu hiện rõ ràng đối với tất cả những ai được kêu gọi. Thánh Thần cho thế gian thấy cộng đoàn của Ngài: Cộng đoàn ấy lập tức trở nên “một thành xây trên núi không thể giấu được”. Thánh Thần tràn ngập Lời Chúa: Ngài không ấp úng nhưng nói thật rõ ràng; ai nấy đều hiểu. Chính đó là ý nghĩa của phép lạ nói nhiều thứ tiếng. Lời Chúa liên kết lại và đặt con người trước trách nhiệm của mình. Thánh Thần nói Lời duy nhất mà mọi người đều hiểu. Khi trở nên hữu hình, Giáo Hội liền chịu thế gian phê phán: sự hữu hình của Giáo Hội gây mâu thuẩn. Thế gian xem sự hiện diện của Thánh Thần có vẻ như say sưa và điên rồ. Sự nhạo cười ấy chính là dấu chỉ luôn luôn đổi mới cho biết Giáo Hội đang đi đúng đường. Dấu chỉ ấy còn rõ ràng hơn cả những lời vỗ tay tán tụng của thế gian. Khi nào Giáo Hội ẩn mình để khỏi ai nhìn thấy, thì bấy giờ là Giáo Hội đã hiểu sai thực tại Thánh Thần».




3. GIÁO XỨ VÀ CỘNG ĐOÀN


Là hơi thở sống động của Giáo Hội, Thánh Thần làm Giáo Hội sinh động nơi từng bộ phận nhỏ, chứ không phải chỉ cho toàn thể Giáo Hội một cách tổng quát. Như chúng ta đã nói ở phần trên, công cuộc canh tân tâm linh chỉ thành công nếu bắt đầu từ nơi đời sống cụ thể, thường nhật, của những Kitô hữu có khả năng sống đạo Kitô giáo của mình trong một môi trường sống bình thường. Người Kitô hữu còn bị chi phối bởi môi trường họ sống nhiều hơn bởi các cơ chế. Ảnh hưởng của môi trường sống còn quan trọng hơn các cơ chế. Phải bắt đầu từ những cộng đoàn Kitô hữu đích thực mới có thể làm cho Kitô giáo sống động trở lại. Các cộng đoàn tạo nên mô tế bào cho cơ thể là Giáo Hội.
Điều này dẫn chúng ta đến một vấn đề tế nhị, đó là những tương quan giữa các cộng đoàn cơ bản và đơn vị nền tảng của cơ chế là giáo xứ.


Cộng đoàn Kitô hữu và cơ cấu giáo xứ


Chúng ta không thuật lại ở đây lịch sử hình thành giáo xứ như ta đang có hiện nay. Gần như ở khắp nơi, cơ cấu giáo xứ là nền tảng đầu tiên của Giáo Hội. Nói chung, trước đây giáo xứ đúng là môi trường sống của người Kitô hữu, và không có vấn đề gì phải đặt ra: giáo xứ đã được cảm nhận là tổ ấm thông thường của đời sống Kitô hữu. Nhưng rồi vấn đề đô thị hóa, đời sống tân tiến, sự di chuyển, trào lưu tục hóa, chủ nghĩa đa nguyên xã hội đã làm đảo lộn tình trạng quân bình ấy. Các giáo xứ ở thành phố và ở các thị trấn lớn không còn nằm trong khuôn khổ sinh hoạt bình thường nữa. Chủ chăn và Kitô hữu khó tạo được những tương giao thân thiết làm cho mọi cộng đoàn trở nên sống động. Để tìm ra nét tương phản, chúng ta hãy đọc lại đoạn kết của thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Roma. Thật tha thiết nồng ấm!


«Tôi xin gửi lời thăm chị Pơ-rít-ca và anh A-qui-la, những người cộng tác với tôi để phục vụ Đức Kitô Giêsu ; hai anh chị đã liều mất đầu để cứu mạng tôi. Không chỉ mình tôi, mà còn các Hội Thánh trong dân ngoại cũng phải mang ơn anh chị. Tôi cũng xin gửi lời thăm Hội Thánh vẫn họp tại nhà anh chị ấy.


«Xin gửi lời thăm anh Ê-pê-nét, bạn yêu quý của tôi, là của đầu mùa miền A-xi-a dâng lên Đức Kitô. Xin gửi lời thăm chị Maria, người đã vất vả nhiều vì anh em. Xin gửi lời thăm các anh An-rô-ni-cô và Giu-ni-a, bà con với tôi, và đã từng ngồi tù với tôi ; các anh là những người xuất sắc trong các Tông Đồ, lại còn theo Đức Kitô trước tôi. Xin gửi lời thăm anh Am-li-át, bạn yêu quý của tôi trong Chúa. Xin gửi lời thăm anh Ua-ban, người cộng tác với chúng tôi trong Đức Kitô, và anh Ta-khy, bạn yêu quý của tôi. Xin gửi lời thăm anh A-pe-lê, người đã từng được tôi luyện trong Đức Kitô. Xin gửi lời thăm mọi người trong nhà anh A-rít-tô-bu-lô. Xin gửi lời thăm anh Hê-rô-đi-on, bà con với tôi. Xin gửi lời thăm bà con anh Na-ki-xô, những người đang ở trong Chúa. Xin gửi lời thăm hai chị Try-phen và Try-phô-xa, những người đang vất vả vì Chúa. Xin gửi lời thăm chị Péc-xi-đê yêu quý, người đã vất vả nhiều vì Chúa. Xin gửi lời thăm anh Ru-phô, người được Chúa chọn, và thăm mẹ của anh, cũng là mẹ của tôi. Xin gửi lời thăm các anh A-xinh-rít, Phơ-lê-gon, Héc-mê, Pát-rô-ba, Héc-ma và những anh em ở với các anh ấy. Xin gửi lời thăm anh Phi-lô-lô-gô và chị Giu-li-a, anh Nê-rê và cô em anh ấy, anh Ô-lim-pa và mọi người trong dân thánh đang ở với các anh chị ấy. Anh em hãy hôn chào nhau một cách thánh thiện. Tất cả các Hội Thánh Đức Kitô gửi lời chào anh em» (Rm 16,3-16).



Mặc dù đời sống hờ hững vô tình của các thành phố ngày nay, các giáo xứ đã cố gắng rất nhiều để trở nên sống động và tăng cường các sinh hoạt cộng đồng. Kể từ Công Đồng Vatican II, phụng vụ đã được canh tân để hướng đến mục tiêu đó. Nếu so sánh các buổi cử hành Thánh Thể trước kia và hiện nay, nói chung, người ta phải nhìn nhận rằng đã có một cuộc canh tân quan trọng. Chúng ta tìm lại được cộng đồng Kitô hữu cùng cầu nguyện với nhau, cùng lắng nghe lời Chúa, ý thức rằng Thánh Thể phải được hoàn thanh trong hiệp thông và phải tràn ra bên ngoài thành những cử chỉ tỏ bày tình huynh đệ. Tuy chưa đạt tới lý tưởng, nhưng bước đi khả quan.



Dầu vậy, nếu chúng ta nhìn kỹ cộng đồng được mời qui tụ trong các nhà thờ ngày chủ nhật, chúng ta phải thú nhận rằng cộng đoàn này chưa tạo được ấn tượng về mối tình huynh đệ thân thiết. Ngày Chúa Nhật, tại điểm hẹn ấy, ta thường thấy các Kitô hữu đủ loại đủ kiểu, từ những người dấn thân thực sự cho đến những người giữ đạo theo truyền thống. Ở đây chả ai nghĩ đến giai cấp xã hội hay sự ngăn cách giữa các giai cấp; còn lòng đạo hạnh vẫn luôn là một bí mật của Thiên Chúa. Theo ước lệ, chúng ta gọi những ai có thực hành đời sống bí tích một cách tối thiểu, là «Kitô hữu», mà không tìm hiểu xem trong đó có bao nhiêu người thực hành Kitô giáo cho trọn các chiều kích cần thiết. Nhiều Kitô hữu sống đạo hời hợt; còn những người sống phù hợp với định nghĩa đầy đủ về người Kitô hữu đích thực thì hiếm hơn. Tuy nhiên, ngoài nhận xét bàng quan đó, vấn đề quan trọng là phải ý thức đến các cấp độ khác nhau trong việc sống đời Kitô hữu, để định hướng nỗ lực mục vụ và thích ứng nỗ lực ấy cho những Kitô hữu kiểu đại trà cũng như những Kitô hữu dấn thân mạnh mẽ. Đàng khác, chúng ta phải làm sao để hai cách thức mục vụ ấy ăn khớp và đồng quy với nhau.


Giữa những giáo xứ và những cộng đoàn sống động hiện hữu bên ngoài những giáo xứ ấy, có thể xây dựng những tương quan đa biệt tuỳ hoàn cảnh và nhân sự. Phải làm sao để các sáng kiến, các dự án và sinh hoạt hòa hợp với nhau. Điều quan trọng là những cộng đoàn này không được nằm ngoài tầm giám sát của giám mục là trung tâm sống động của cộng đoàn Giáo Hội.



Có giáo xứ cho rằng cứ để các cộng đoàn ấy sinh hoạt và cho phép mỗi cộng đoàn phát triển theo con đường riêng của mình, nhưng rán giữ được sự hiệp nhất tối thiểu và cần thiết. Một lối hiệp nhất đa nguyên có thể mang lại kết quả tốt. Có giáo xứ lại nhờ một «cộng đoàn sống động» tạo năng động cho cho cả giáo xứ mình; nhờ cách nầy nhiều giáo xứ có được sự «phụ lực tâm linh». Có thể tiên liệu chắc chắn sẽ có đụng chạm và khó chịu. Tuy nhiên, khổ đau do sự hiểu lầm nhau cũng góp phần vào việc cứu chuộc nhân loại.


Về các nhóm đoàn sủng, Kevin Ranaghan đã mô tả sự hòa nhập có thể thực hiện được trong khung cảnh giáo xứ như sau:
«Chúng ta phải nỗ lực để giúp các nhóm cầu nguyện và những cộng đoàn của chúng ta hòa nhập vào các giáo xứ và các giáo phận của chúng ta. Không có một kiểu mẫu nào chung cho sự hòa nhập này. Mỗi nhóm cầu nguyện đoàn sủng và mỗi cộng đoàn đều có phong cách riêng của mình và cũng phong phú đa dạng như các giáo xứ và các giáo phận vậy.
«Tại một số nơi, Phong Trào Canh Tân Đoàn Sủng có thể là cuộc tiếp cận mục vụ nhằm canh tân mục vụ cho giáo xứ. Tại một số nơi khác, nhóm cầu nguyện chỉ là một hoạt động được giáo xứ chuẩn nhận. Tại một số thành phố, các nhóm đoàn sủng đông hơn, hoặc các cộng đoàn lớn hơn, qui tụ các Kitô hữu thuộc nhiều giáo xứ, thì cần thiết phải quan hệ với vị giám mục và các cộng sự viên của ngài. Đôi khi, cộng đoàn có thể xuất hiện nơi thành phố như một kiểu mới qui tụ các Kitô hữu; ở những nơi khác, cộng đoàn ấy lại mang hình thức một hiệp hội mới trải rộng khắp giáo phận».43


Để kết thúc đoạn văn nói về các giáo xứ và các cộng đoàn cơ bản, chúng ta cần nhìn về tương lai đầy hứa hẹn mà đôi bên có thể bổ sung cho nhau. Luis Rétif đã viết nên những hình ảnh tuyệt vời của chân trời ấy:



«Những đơn vị nhẹ nhàng hơn, những tập hợp phát sinh từ cuộc sống, một lối phụng vụ tìm lại được hơi ấm của lễ hội quen thuộc, những tác vụ được phân phối lại giữa linh mục và giáo dân, tình trạng thức tỉnh lương tâm ngôn sứ, linh mục hòa nhập lại vào cuộc sống tập thể cộng đoàn: đó là một số hứa hẹn đã chứng thực nơi các nhóm nhỏ. Miễn là cho họ thời gian để hình thành và chấp nhận cho họ quyền được sai lầm. Điều thiết yếu là phải tái tạo một cơ phận Kitô giáo sống động. Chỉ những cộng đoàn vừa mức sinh hoạt con người, bám rễ vào môi trường cụ thể địa phương, hiện diện ở những nơi có những con người tương thân tương ái đang sinh sống, đang chiến đấu và hy vọng, chỉ những cộng đoàn hoặc những nhóm Công Giáo tiến hành, cảm nhạy trước những thôi thúc của Thánh Thần để dấn thân cho chân lý trong mối hiệp thông với toàn thể Giáo Hội: chỉ những cộng đoàn như thế mới có thể làm hồi sinh toàn cơ thể là Giáo Hội.44





4. VAI TRÒ NGÔN SỨ CỦA CÁC CỘNG ĐOÀN KITÔ HỮU SỐNG ĐỘNG


Công Đồng Vatican II nói rằng Giáo Hội «là bí tích sự hiệp nhất nhân loại». Điều này có nghĩa là Giáo Hội vừa là dấu chỉ vừa là mối hy vọng cho thế giới đang khao khát hiệp nhất, bình an và phát triển toàn diện. Để chu toàn sứ mạng này, Giáo Hội phải có khả năng cống hiến cho thế giới những chứng nghiệm chỉ đạo; những chứng nghiệm nầy là tiền cảnh của một cộng đồng nhân loại mà con người mơ ước và tìm kiếm không ngơi. Giáo Hội phải có khả năng, qua tiền cảnh ấy, chỉ cho thế giới hé thấy được tương lai của nhân loại, một khi thế giới biết đón nhận Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ, là chìa khóa giải quyết những vấn đề của mình. Tôi cố ý sử dụng hình ảnh chìa khóa để minh chứng rằng căn rễ ẩn đằng sau mọi khổ đau của thế gian này chính là lòng căm ghét, ganh tị, ích kỷ cá nhân hoặc tập thể, thiếu tình thương dưới mọi hình thức. Tóm lại, nói theo ngôn ngữ Kitô giáo, đó chính là tội lỗi. Thế nhưng chỉ mình Đức Giêsu mới có thể thay đổi trái tim con người một cách sâu xa, nhờ đó mà thay đổi được mọi cơ chế. Chỉ khi biết đón nhận Đức Giêsu là đường, là sự thật và là sự sống, thì người ta mới có thể triệt để đi sâu vào trọng tâm vấn đề. Chỉ Giáo Hội Ngài mới có năng lực canh tân không những bộ mặt Giáo Hội mà cả bộ mặt trái đất này. Điều này có vẻ khó lọt tai những Kitô hữu có đức tin yếu kém, đức cậy lung lay. Nhưng đã là Kitô hữu thì phải tin hết mình vào điều ấy, không hơn không kém.


Khi chứng nghiệm được “ trời mới đất mới”, vượt lên trên muôn ngàn trở ngại như một dấu chỉ tiên phong, thì Kitô hữu có thể cống hiến niềm hy vọng ấy cho thế giới qua hình ảnh của nếp sống các cộng đoàn Kitô giáo cơ bản. Nhìn vào lối sống của các Kitô hữu nầy, người ta không khỏi ngạc nhiên tự hỏi: đâu là bí quyết giúp họ yêu thương nhau, sống thanh thản và quên mình như thế? Bấy giờ danh Đức Giêsu sẽ vụt nổi bật lên, vì chính cuộc sống của các Kitô hữu là ánh sáng giúp nhận ra khuôn mặt Ngài. Chính đó là dấu chỉ Đức Giêsu dùng để giúp thế giới có thể tin vào Ngài; và đó cũng là phương cách minh giáo hữu hiệu nhất. Cuộc sống Kitô hữu là chứng tá của sự thật, là giá trị ngôn sứ cho thế giới. J. J. von Allmen diễn tả điều ấy cách tuyệt vời:


«Mỗi người chịu phép rửa là một niềm hy vọng cho mọi người. Mỗi bữa tiệc Thánh Thể là một hứa hẹn cho mọi bữa ăn. Và Giáo Hội là bến mong chờ cho mọi xã hội con người».


Chúng ta có khuynh hướng coi nhẹ vai trò trung gian của cộng đoàn, trung gian giữa người Kitô hữu và thế giới. Nhờ cuộc sống cộng đoàn, chúng ta có thể sống đạo «tại gia» trước khi đưa đạo vào đời. Cần phải nghiên cứu sâu sát tương quan giữa các Kitô hữu theo Thánh Kinh: Tình yêu giữa anh chị em với nhau phải là ưu tiên. Thánh Phaolô nói: «Chúng ta hãy thực hành điều thiện cho mọi người, nhất là đối với anh em trong cùng đại gia đình đức tin» (Gl 6,10). Hãy coi chừng kẻo giống như hạng người «việc nhà thì nhác việc chú bác thì siêng». Bác ái phải bắt đầu từ trong gia đình mình rồi dần dà lan rộng ra tới người khác. Không thể bỏ qua những bước trung gian, những trạm trung chuyển. Phần lớn, công cuộc canh tân trong Giáo Hội được thực hiện khởi từ những cộng đoàn Kitô hữu đã trở thành tổ ấm ánh sáng và sức nóng đối với môi trường chung quanh.

Theo cái nhìn nhân loại, xem ra như nghịch lý khi cho rằng tương lai Giáo Hội tùy thuộc vào những cộng đoàn Kitô hữu bé nhỏ, vì những cộng đoàn ấy – dẫu nhiệt thành đến đâu – cũng chỉ là một giọt nước trong đại dương. Đúng vậy. Nhưng nếu lưu ý đến năng lực thiêng liêng toát ra từ bất cứ nhóm người nào chấp nhận để cho Đức Kitô làm sinh động bằng Thánh Thần Ngài, ta sẽ thấy tất cả đều thay đổi giá trị, vì chúng ta đang đi vào sức mạnh và quyền năng của chính Thiên Chúa. «Bầy chiên nhỏ bé trong Tin Mừng» tượng trưng cho thiểu số Kitô hữu mà Đức Cha Helder Camara ưa gọi là thiểu số A-bra-ham. Quả thật, chính những nhóm thiểu số ấy biến đổi thế giới.


Hồng Y Newman đã nhấn mạnh cách tuyệt vời về năng lực của những nhóm nhỏ bề ngoài có vẻ yếu đuối này:
«Không phải những gã khổng lồ làm được những chuyện to tát nhất... Mô-sê có một mình, Ê-li-a cũng một mình, Đa-vít, Phaolô, A-tha-na-di-ô, Lê-ô... đều một mình. Ân sủng luôn hoạt động thông qua một số ít người. Cái nhìn sắc bén, xác tín nồng nàn, quyết tâm không lay chuyển của nhóm nhỏ, máu của vị tử đạo, lời nguyện cầu của vị thánh, hành vi anh hùng, cơn khủng hoảng sớm vượt qua, năng lực tập trung vào một lời nói hay một ánh nhìn, đó là những dụng cụ của trời cao! Hỡi đoàn chiên nhỏ bé, đừng sợ, vì Đấng ngự giữa anh chị em có đầy quyền năng, Ngài sẽ làm cho anh chị em những điều kì diệu».



***************************************************
Nguồn thanhlinh

Comment

Translate