21/3/13

Đức Khiết Tịnh

Đức khiết tịnh
Hình Minh họa
Khiết tịnh hoặc trinh tiết liên quan hành vi tình dục của nam giới hoặc nữ giới được chấp thuận theo tiêu chuẩn luân lý và văn hóa, văn minh hoặc tôn giáo. Trong thế giới Tây phương, giới hạn này được kết hợp (và thường được dùng hoán đổi nhau) với sự kiêng cữ tình dục, nhất là trước hôn nhân. Tuy nhiên, giới hạn này vẫn phù hợp với mọi người ở các quốc gia, độc thân hoặc kết hôn, giáo sĩ hoặc giáo dân, và có liên quan vượt ngoài sự chừng mực về giới tính.
Trong Do Thái giáo, Kitô giáo, Hồi giáo, và Bahai giáo (Baha'i), các hành vi tình dục đều được giới hạn trong hôn nhân. Với những người chưa kết hôn, khiết tịnh được đồng hóa với sự tiết chế tính dục. Các hành vi tình dục ngoài hôn nhân, như ngoại tình, gian dâm (thông dâm) và mại dâm, đều là tội lỗi.
Theo truyền thống Kitô giáo, khiết tịnh đồng nghĩa với sự thuần khiết về giới tính. Khiết tịnh nghĩa là không có mối quan hệ tình dục nào trước hôn nhân. Điều này cũng có nghĩa là sống chung thủy với chồng hoặc vợ trong hôn nhân. Theo luân lý Công giáo, khiết tịnh được đặt đối nghịch với tội dâm dục, và được coi là một trong bảy nhân đức (*). Kiềm chế ham muốn tình dục được coi là nhân đức. Lý do là ý và ham muốn có thể kết hợp hài hòa với nhau để làm điều tốt.
Quan điểm của Ấn giáo (Hinduism) về tình dục trước hôn nhân có nguồn gốc từ khái niệm về các giai đoạn của cuộc đời. Giai đoạn thứ nhất gọi là Brahmacharya, nghĩa là trinh khiết. Sự độc thân được coi là động thái thích hợp cho cả nam và nữ trong giai đoạn này, giai đoạn tiền hôn nhân. Nhiều tu sĩ Ấn giáo (Sadhus) cũng sống độc thân theo luật nghiêm ngặt. Theo Ấn giáo, việc giao cấu được coi là hành vi thánh của sự sinh sản trong hôn nhân.
Mặc dù các tín đồ Do Thái giáo theo hệ phái Digambara đều sống độc thân, nhưng đa số những người theo đạo Giana (Jains) đều thuộc về hệ phái Shvetambara, được phép kết hôn và sinh con. Đạo đức của đạo Giana đòi hỏi người ta không được làm hại các sinh vật từ trong tư tưởng, lời nói hoặc hành động. Ngoại tình là vi phạm thỏa hiệp luân lý với người phối ngẫu, do đó mà bị cấm, còn gian dâm cũng bị coi là vi phạm tình trạng trinh khiết.
Các giáo huấn của Phật bao gồm Noble Eightfold Path (tạm dịch: Bát Quý Đạo), gồm sự phân chia gọi là “hành động đúng”. Theo Ngũ Huấn (Five Precepts) về đạo đức, các thiện nam tín nữ theo Upāsaka và Upāsikā nên tránh phạm tội về tính dục, còn các tu viện theo Bhikkhu và Bhikkhuni phải giữ khiết tịnh nghiêm ngặt.
Ngũ Huấn của Lão giáo (Taoism hoặc Daoism) bao gồm luật cấm hành vi tính dục, được hiểu là cấm tình dục ngoài hôn nhân đối với các tín đồ, và cấm tình dục đối với các tu sĩ.
Chân phước Mẹ Teresa Calcutta nói rằng tặng phẩm quý giá nhất mà bạn có thể trao cho người phối ngẫu trong ngày cưới là sự trinh tiết. Hãy suy nghĩ về điều đó. Bạn không thể là người duy nhất trên thế giới này có thể trao tặng món quà đó sao? Món quà như thế rất đặc biệt, quý giá hơn cả vàng bạc, thế nên bạn muốn nâng niu nó và bảo vệ nó bằng mọi cách. Bạn chỉ có thể trao món quà này một lần mà thôi, vì thế mà người chồng hoặc người vợ tương lai của bạn chắc chắn là người duy nhất trên thế giới xứng đáng nhận món quà đó một cách trọn vẹn là chính con người của bạn – cả tâm hồn và thể xác.
Nếu các bạn trẻ có quyết định này sớm để giữ trinh tiết cho tới khi kết hôn, họ không phải đối mặt với nỗi giằng co. Họ biết mục đích của mình và sẽ vui lòng làm mọi cách để đạt được ước muốn tốt lành. Họ sẽ cẩn trọng ở mọi nơi và mọi lúc. Họ sẽ đề phòng những chước cám dỗ, mọi tình huống khó khăn, và chuẩn bị tốt để tránh né. Họ sẽ thoải mái trưởng thành và tìm kiếm kế hoạch mầu nhiệm của Thiên Chúa dành cho cuộc đời họ. Họ sẽ không lo lắng về chuyện có kinh nguyệt “trễ”, mang thai, phá thai, ngừa thai, bệnh hoa liễu, bệnh AIDS, và các hậu quả khác về thể lý, tâm lý, tình cảm và tâm linh đối với việc “ăn cơm trước kẻng”. Họ thực sự tự trọng và tôn trọng người yêu, họ tin rằng họ sống theo cách làm đẹp lòng Thiên Chúa. Họ sẽ bảo vệ và tự cứu mình vì người mà Thiên Chúa đã chọn làm người bạn đời nếu hôn nhân là ơn gọi của họ.
Các bạn trẻ nghĩ gì về những điều như vậy? Họ có bao giờ nghe nói tới “trinh tiết”, “khiết tịnh”, “trong sạch”, “thùy mị” hoặc “tự chủ”? Phải chăng các từ ngữ này nghe y như là “ngoại ngữ” vì chẳng có ai sử dụng? Món quà quý giá này là trao tẳng cả con người mình không đáng để giữ riêng cho người phối ngẫu chăng? Thiên Chúa muốn như vậy. Ngài nói với chúng ta rằng đây là điều mà Ngài muốn ở chúng ta vì Ngài yêu thương chúng ta. Và Ngài trao ban cho chúng ta mọi ân sủng cần thiết để chúng ta có thể đạt được đức khiết tịnh.
Điều này rất quan trọng đối với các cha mẹ, trường học và nhà thờ, phải dạy các điều chân thật một cách rõ ràng và động viên lẫn nhau. Nếu không, các bạn trẻ sẽ chẳng bao giờ nghe được những điều này hoặc biết chân lý của Thiên Chúa, vì những điều đó không hề có trên radio, ti-vi, phim ảnh, âm nhạc, mà thế giới cũng không yêu thương hoặc quan tâm chăm sóc trẻ em. Thế nên nhiều bạn trẻ không còn trinh tiết và cũng chẳng tự trọng, vì họ tin rằng nói dối là điều tất nhiên của thế gian. Chúng ta phải cho họ niềm hy vọng và sự tự do của “sự trinh tiết thứ hai”. Họ có thể xin Thiên Chúa tha thứ và được tha thứ. Họ có thể “tái khởi đầu” và thề hứa giữ đức khiết tịnh cho tới lúc kết hôn. Họ cần có cơ hội và sự động viên để bắt đầu lại và thay đổi nhờ Hồng ân của Thiên Chúa.
Nếu chúng ta nhận thấy hôn nhân và tình nghĩa phu thê là phần thánh thiện trong kế hoạch của Thiên Chúa, chúng ta có thể hiểu được tầm quan trọng của đức khiết tịnh. Sự khiết tịnh bảo vệ người ta, củng cố người ta, xây dựng tính cách của người ta, động viên người ta kiềm chế, truyền cảm hứng để người ta tôn trọng, bảo đảm sự tự do, chống lại tính ích kỷ, và thích hợp với mọi người. Không dễ giữ đức khiết tịnh, nhưng có thể giữ được nhờ ơn Chúa. Đức khiết tịnh tái củng cố hôn nhân và làm cho mối quan hệ phu thê tốt đẹp, đặc biệt và thánh thiện. Tính thánh thiện của việc hợp tác với Thiên Chúa trong công cuộc sáng tạo của Ngài là tạo những sinh linh mới, đó là tặng phẩm quý giá chỉ nên chia sẻ trong sự an toàn của mối quan hệ yêu thương, đại lượng và thề hứa. Đó là cách của Chúa, và điều đó xứng đáng chờ đợi, bởi vì tặng phẩm hoàn hảo của tình yêu thuần khiết mà cô dâu và chú rể trao cho nhau trong ngày cưới thực sự là món quà quý giá vô cùng.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ ChastityCall.org)
Tuần Thánh – 2013
_______________________________
(*) Theo Giáo lý Công giáo, bảy nhân đức liên quan việc kết hợp của 4 nhân đức chính (thận trọng, công bình, kiềm chế, và can đảm) và 3 nhân đức đối thần (tin, cậy, mến). Các nhân đức này được các Giáo phụ gọi là bảy nhân đức. Sau đó một danh sách khác được phát triển, đôi khi gọi là “bảy thiên đức” (seven heavenly virtues), được đề nghị bởi một thủ lĩnh Kitô giáo tên là Aurelius Prudentius (mất khoảng năm 410 sau công nguyên) trong bài thơ “Psychomachia” (Cuộc Chiến Của Linh Hồn) do ông sáng tác. Bài thơ này có ghi bảy nhân đức đối lập với bảy tội trọng. Các nhân đức đó là Khiết tịnh, Tiết chế, Bác ái, Chuyên cần, Kiên nhẫn, Tử tế, và Khiêm nhường.

ĐGH Phanxicô sẽ dâng thánh lễ Thứ Năm Tuần Thánh và rửa chân cho các tù nhân trẻ

ĐGH Phanxicô sẽ dâng thánh lễ Thứ Năm Tuần Thánh và rửa chân cho các tù nhân trẻ
Lm. Paul Phạm Văn Tuấn3/21/2013

ĐGH Phanxicô sẽ cử hành Thánh Lễ Thứ Năm Tuần Thánh trong nhà tù giam giữ thanh thiếu niên "Casal del Marmo" tại Rôma. Tin này đã được Tòa Thánh Vatican công bố vào thứ năm hôm nay.
Đức Giáo Hoàng Phanxicô muốn đến thăm nhà tù giam giữ thanh thiếu niên vào chiều thứ năm, 28.03.2013. Trong nhà tù "Casal del Marmo" ĐGH sẽ cử hành Thánh Lễ Tiệc Ly lúc 17g30 và rửa chân cho 12 tù nhân trẻ tuổi từ 16 đến 23, để tưởng niệm việc Chúa Giêsu cử hành Bữa Tiệc Ly với 12 môn đệ của Ngài và thực hành giới răn tình yêu của Chúa. 
Duc Hồng y Phanxico rửa chân cho các bệnh nhân khi Ngài còn là Hồng y


Đối với Đức Giáo Hoàng Phanxicô, từ khi còn là TGM của Buenos Aires Ngài vẫn dành ngày Thứ Năm Tuần Thánh đến với người nghèo hoặc tù nhân: khi thì ở nhà thương, nhà dưỡng lão, lúc thì đến nhà tù hoặc đến với khu ổ chuột. Một lần Ngài đã rửa chân cho các trẻ em bệnh Aids và kính cẩn cúi xuống hôn chân của các em. Theo yêu cầu của ĐGH thì thánh lễ tại "Casal del Marmo" được cử hành trong một "khuôn khổ đơn giản". Vào tháng 3 năm 2007, khi còn tại vị ĐGH Bênêđictô XVI đã đến thăm nhà tù "Casal del Marmo" và đã dâng thánh lễ cho các tù nhân trẻ. Trước đó ĐGH Gioan Phaolô II đã đến đây thăm tù nhân vào ngày 06.01.1980.

Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh, Đức Hồng Y Agostino Casaroli (1914-1998) đã thường xuyên đến thăm nhà tù "Casal del Marmo" trong 30 năm liền để phục vụ như một linh mục tuyên úy cho tù nhân. Ngay cả sau khi nghỉ hưu vào năm 1990 ĐHY Casaroli vẫn chăm sóc các thanh thiếu niên phạm tội - nhiều người trong số họ là những người trẻ nhập cư. Những tù nhân trẻ thương yêu gọi ngài một cách rất thân mật là "Cha Agostino".

Trong nhà tù "Casal del Marmo" hiện nay đang giam giữ thanh thiếu niên nam và nữ trong độ tuổi từ 16 đến 23. Đức Giáo Hoàng Phanxicô thăm nhà tù vào Thứ Năm Tuần Thánh để tiếp tục truyền thống "sống với người nghèo và tù nhân" của riêng mình, nghĩa là Ngài thực hành Lời Chúa trong sự "đơn sơ và khiêm nhường".

Hoa Mai Yêu Thương




     Ngày xửa ngày xưa, có một cô bé 5 tuổi rất giàu lòng yêu thương. Cô yêu bố mẹ mình, chị mình đã đành, cô còn yêu cả bà con quanh xóm, yêu cả ba ông Táo bằng đá đêm ngày chịu khói lửa để nấu cơm, hầm ngô, nướng thịt cho mọi người ăn. Một lần, thương ba ông Táo, trời đã nóng lại chịu lửa suốt ngày đêm, cô bé ấy đã lấy một gáo nước to dội lên đầu ba ông. Tro khói bốc lên mù mịt, ông Táo già nhất vụt hiện ra nói:

– Cháu thương ta nhưng chưa hiểu ta. Lửa càng nóng, ta càng vui. Cháu mà dội nước thì có ngày ta bị cảm mất.

     Từ đấy, cô bé không dội nước lên đầu ba ông Táo nữa. Nhưng ông Táo già thì thỉnh thoảng lại hiện lên trò chuyện với hai chị em cô bé. Một hôm, vì thương ông, cô em hỏi:

– Ông thích lửa thôi à? Ông còn thích gì nữa không?

– Có chứ! Năm sắp hết, ông phải về trời! Cháu bắt cho ông con cá chép ông cưỡi về Trời thì ông thích nhất. Cô bé liền rủ chị đi bắt cho bằng được một con cá chép về. Cô bỏ ngay vào bếp lửa rồi nói:

– Ông Táo ơi! Chúng cháu biếu ông con cá chép này đây!

Con cá chép vụt biến mất. Tối 23 Tết, quả nhiên hai chị em thấy ông Táo hiện ra, sau đó cưỡi con cá chép bay ra khỏi nhà và bay cao lên trời...

Bố cô bé là một người đi săn thú rất tài giỏi. Ông thường chỉ thích đi săn thú dữ. Ông bảo:

– Còn ác thú thì tôi còn đi săn cho kỳ hết!

     Ông không muốn truyền nghề cho con mình, vì cả hai đều là gái. Nhưng cô em lại rất thích nghề của cha. Mới 5 tuổi mà cô đã xin cha dạy cho mình đủ cả côn quyền và đao kiếm. Cô tuy nhỏ người nhưng nhanh nhẹn vô cùng, người cha còn phải kinh ngạc về sức mạnh của đôi tay cô. Lúc 9 tuổi, cô hăm hở xin theo cha đi săn thú. Người mẹ và người chị lo lắng, nhưng cô bé thưa ngay:

– Con không giết được con mồi bằng một nhát như cha thì con đâm ba nhát, năm nhát, mẹ và chị cứ yên tâm.

     Nói sao làm vậy, cô bé lần đầu theo cha đi săn đã giết ngay được một con lợn lòi rất hung dữ. Trong vùng bỗng xuất hiện một quái vật đầu người mình báo. Bà con ai cũng lo lắng, khiếp sợ. Quái vật này chỉ thích ăn thịt người, nhất là thịt trẻ con. Người cha liền dẫn cô gái nhỏ đi tìm quái vật để giết. Người mẹ và chị can ngăn nhưng không được. Người cha bảo:

– Tôi chỉ cho nó đi theo để xem, còn diệt quái vật là việc của tôi, hai mẹ con đừng lo.

     Hai cha con đi được mấy ngày thì có tin quái vật đã bị người cha giết chết thật. Bữa hai cha con trở về, bà con trong vùng mang rượu, gà và vịt đến làm cỗ ăn mừng. Cô gái nhỏ không quên đặt vào bếp lửa một con cá chép và khấn với ông Táo già:

– Chúng cháu xin gửi biếu ông con chép để thỉnh thoảng ông cưỡi đi chơi.

Ông Táo già lại hiện lên cám ơn cô bé và hỏi:

– Cháu thấy quái vật có sợ không?

– Cháu chỉ thích được cha cháu cho cháu được cùng đánh với nó, nhưng cha cháu không chịu.

     Sau đó, người cha bỗng bị ốm nặng. Người mẹ và hai cô gái hết lòng chăm sóc, bệnh người cha có đỡ nhưng sức khỏe thì không còn được như trước nữa. Vài năm sau, ở vùng trong xa, bỗng xuất hiện một quái vật khác đầu người nhưng mình rắn. Quái vật này có sức khỏe ghê gớm. Nó có thể quấn chết một con bò mộng chỉ trong chớp mắt. Nó cũng thích ăn thịt trẻ con và có thể ăn một lúc mấy đứa. Bà con vùng đó liền cử người ra mời cha con người đã giết quái vật đầu người mình rắn giúp bà con. Người cha nhìn cô gái nhỏ của mình hỏi:

– Liệu con có nhận lời đi giúp bà con được không?

Cô gái nhỏ liền đáp:

– Con xin cha mẹ và chị để cho con đi!

Người cha nói:

– Cha sẽ cùng đi với con, nhưng cha chỉ giúp con thôi. Lần này chính con phải lo diệt quái vật đấy. Người mẹ và chị càng lo lắng gấp bội.

– Ông ơi! Đường từ đây vào đó xa xôi cách trở. Quái vật dữ ác mà con bé thì mới 14 tuổi. Tôi sợ lắm!

– Cha ơi! Cha và em nhận lời, rủi có chuyện gì thì mẹ và con làm sao sống nổi?

Cô gái nhỏ liền thưa:

– Mẹ và chị à, con tuy còn nhỏ nhưng con có đủ sức để diệt quái vật. Bà con đã nhờ lẽ nào mình lại từ chối. Mẹ và chị cứ yên lòng. Cha và con diệt xong quái vật sẽ trở về ngay.

     Thấy không can ngăn được, người mẹ và chị đành lo chuẩn bị mọi thứ cho hai cha con lên đường. Trước đó người mẹ đã may áo mới cho hai con ăn Tết, bây giờ bà liền hỏi cô gái nhỏ:

– Con muốn mẹ nhuộm áo cho con màu gì?

Cô bé nhìn ra ngoài đồi núi rồi đáp:

– Con rất thích màu vàng!

     Người mẹ liền giã nghệ nhuộm cho con một màu vàng thật tươi. Ngày lên đường, cô bé mặc chiếc áo vàng, nhìn càng khỏe, càng đẹp. Cô nói với mẹ và chị:

– Diệt xong quái vật, lúc về con sẽ mặc áo này cho mẹ và chị nhận ra được con ngay từ xa.

Trước khi đi cô gái cũng không quên khấn chào ông Táo và hứa:

– Cháu sẽ trở về kể chuyện diệt quái cho ông nghe.

Ông Táo liền hiện ra nói:

– Chúc hai cha con mau trừ được quái vật. Ông sẽ chờ ngày trở về.

     Hai cha con đi ròng rã hơn một tháng trời mới vào đến nơi có quái vật đầu người mình rắn. Nghỉ ngơi được dăm ba ngày, hai cha con liền đi tìm quái vật để diệt. Hai cha con đánh nhau với nó hai ngày liền mà không diệt nổi. Sức của người cha cứ yếu dần. Cô bé liền thưa với cha:

– Cha ơi! Ngày mai cha cứ để cho con bám sát nó. Con sẽ lấy dao găm đâm đuôi nó dính vào thân cây này, đâm một con dao cắm chặt mình nó vào thân cây khác. Nó không quăng mình đi được thì ta sẽ lựa thế mà chặt đầu nó đi. Người cha biết cách đánh đó hay nhưng rất nguy hiểm. Tin vào tài nghệ của con, ông gật đầu:

– Được! Nhưng con phải đề phòng cẩn thận nếu nó dứt được đuôi ra.

– Cha cứ yên tâm.

     Ngày hôm sau, theo cách đánh ấy, hai cha con quả đã diệt được quái vật. Nhưng trước khi chết nó đã quẫy mạnh một cái, dứt được cái đuôi ra khỏi mũi dao. Sau đó nó liền cuốn ngay lấy người cô bé. Cô bé vừa chặt được cái đầu nó thì cũng bị nó quấn gẫy cả xương mềm nhũn người. Thấy con gái yêu của mình chết, người cha buông rơi thanh kiếm, chạy đến đỡ lấy xác con. Bà con trong vùng cũng vừa chạy đến. Họ đem xác cô gái về chôn cất rồi lập đền thờ. Nhưng cô gái đâu chịu “nằm yên” như vậy. Vì cô biết cha mẹ và chị mình cùng bà con vùng trong, vùng ngoài đều yêu quý mình, mà cô cũng yêu quý và muốn sống với họ. Cô xin Thổ thần (thần Đất) giúp cô biến thành một con chim lông vàng rực rỡ, một con chim chưa ai thấy bao giờ, rồi bay về quê nhà xin gặp ông Táo:

– Ông ơi! Cháu bị quái vật quấn chết. Nhưng cháu mà chết thì cha mẹ và chị cháu làm sao sống nổi! Vậy đêm nay, hăm ba tháng Chạp, ông có về Trời thì ông hãy tâu với Trời cho cháu sống lại.

Ông Táo liền hứa:

– Được, ông sẽ tâu giúp cho cháu.

     Con chim lông vàng rực rỡ liền bay xuống chỗ mẹ và chị đang ngồi, kêu lên mấy tiếng rồi bay đi. Cũng vừa lúc đó người mẹ và chị biết tin là cô gái nhỏ đã không còn nữa. Bà mẹ ngã ra chết ngất bên bếp lửa. Ông Táo liền đưa hai bàn tay ấm nóng áp vào trán cho bà tỉnh lại và nói ngay:

– Bà cứ yên tâm. Đêm nay về Trời, tôi sẽ xin Trời cho cháu sống lại.

Hai mẹ con nghe nói thì mừng quá, liền sụp xuống lạy tạ. Ông Táo đi tối hăm ba thì tối hăm tám ông trở về hạ giới. Ông nói với hai mẹ con:

– Trời rất thương cô bé nhưng cháu chết đã quá ngày, xin sống lại quá chậm. Vì vậy Trời chỉ có thể cứu cho cháu mỗi năm sống lại được 9 ngày.

Hai mẹ con nghe nói buồn lắm nhưng cũng lại mừng. Thôi thì cứ được trông thấy con, thấy em trong giây lát cũng đã đỡ khổ rồi, huống chi lại được thấy trong 9 ngày. Bà mẹ liền hỏi:

– Ông ơi! Bao giờ thì cháu sống lại được?

– Tùy hai mẹ con, cứ cầu Trời sống từ ngày nào, Trời sẽ cho ngày ấy.

– Vậy nhờ ông xin cho cháu sống lại ngay đêm nay!

– Đêm nay thì chưa được, sớm nhất là phải từ đêm mai!

– Vâng, ông xin cho cháu sống lại từ đêm mai vậy!

     Hai mẹ con suốt đêm hôm ấy cứ thức mãi. Cả ngày hôm sau, hai mẹ con đều chẳng muốn làm gì. Chỉ mong cho trời chóng tối. Rồi trời cũng tối. Hai mẹ con hồi hộp đợi, không biết con mình, em mình sẽ sống lại trở về như thế nào. Định khấn gọi ông Táo thì bỗng nghe ngoài cổng có tiếng gọi:

– Mẹ ơi! Chị ơi!

     Hai mẹ con vụt chạy ra và thấy đúng là cô gái nhỏ đã trở về trong chiếc áo vàng vẫn sáng lên, nhìn rất rõ. Ba mẹ con ôm nhau khóc như mưa. Ngày hôm sau, người cha cũng từ vùng xa trở về. Dọc đường, ông thương vợ con nhưng chưa biết sẽ nói gì cho vợ con ở nhà đỡ khổ. Không ngờ khi về đến nhà đã thấy cô gái nhỏ đang nằm ngủ bên cạnh mẹ và chị. Ông dụi mắt tưởng là con bé nhà ai đến chơi. Khi biết cô gái nhỏ đã được sống lại, trở về ông liền ôm chầm lấy con và cứ để cho nước mắt chảy dài trên má.

     Cô gái nhỏ ăn Tết với cha mẹ và chị đúng 9 ngày. Trong những ngày đó, cô gái nhỏ dành làm hết mọi công việc để giúp cha mẹ và chị. Nhưng cả nhà lại không muốn cô gái làm việc gì. Trong 9 ngày, họ sống bù cho cả một năm sắp phải xa nhau. Đến đêm thứ 9, khi trời vừa tối, cô bé vừa kịp ôm lấy cha mẹ và chị để chào ra đi thì người cô bỗng cứ mờ dần như sương khói rồi biến mất. Cả nhà buồn rầu, thương nhớ cô gái nhỏ vô cùng. Nhưng nghĩ đến Tết năm sau, cô sẽ về, mọi người lại an ủi nhau, lại kiên nhẫn chờ đợi.

     Và năm sau, cũng vào chiều 29 tháng Chạp, cô gái nhỏ áo vàng lại trở về ăn Tết với gia đình rồi đến tối mồng 7 Tết lại ra đi. Năm nào cũng thế. Nghe chuyện lạ, người vùng trong liền cử người ra mời cả gia đình vào sinh sống trong đó để bà con được trả ơn và gặp lại cô gái nhỏ đã giúp bà con diệt được con quái vật đầu người mình rắn. Thấy sức người cha đã suy yếu, cả nhà bàn với nhau và nhận lời. Từ đó, cứ vào ngày 29 tháng Chạp hàng năm, cô gái nhỏ áo vàng lại trở về sống đủ 9 ngày Xuân với cha mẹ, với chị và bà con trong vùng.

     Khi cha mẹ và chị đều mất cả, cô gái không về nữa. Cô hóa thành một cây hoa ngay ở ngôi đền bà con đã dựng lên để thờ cô. Cây ấy hầu như cả năm chỉ có lá, nhưng cứ vào khoảng gần Tết, hoa lại nở đầy. Hoa màu vàng tươi như màu áo của cô gái nhỏ ngày trước.

     Hoa vui Tết với bà con khoảng chục ngày rồi rụng xuống đất, biến mất để năm sau lại trở về. Cây hoa ấy ngày nay người ta gọi là cây Mai Vàng. Ngày Tết ở miền Trung và miền Nam, bà con thường mua một cành mai vàng về cắm trên bàn thờ ông bà. Họ tin rằng, có cành mai vàng vừa đẹp nhà vừa vui Tết, lại vừa có thể xua đuổi được hết các loài ma quái trong suốt cả năm.

Lời bàn:

     Sự tích hoa Mai chỉ là một truyền thuyết, nhưng trong đó chứa đựng bài học yêu thương mà chúng ta phải ghi nhớ. Bài học đó dạy chúng ta không chỉ yêu thương đồng loại mà còn phải yêu thương cả các loài động vật và thực vật, đó là chúng ta phải biết bảo vệ thiên nhiên và môi trường sống.

     Cô gái bé nhỏ, nhỏ cả về tuổi và về vóc dáng, nhưng cô bé lại có lòng yêu thương rộng lớn. Cô bé đã sống để yêu thương, và chết cũng vì yêu thương. Người nào có lòng yêu thương thì luôn là con người vĩ đại.

     Đạo Công giáo mệnh danh là Đạo Yêu thương, vì là Đạo của Thiên Chúa Tình Yêu (x. 1 Ga 4:8 & 16). Hai tiếng “yêu thương” là bản tóm lược của Mười Điều Răn. Cả cuộc đời Chúa Giêsu, khởi đầu từ lúc giáng sinh nghèo hèn nơi hang Belem tới lúc chết nhục nhã trên Thập giá tại đồi Can-vê, là “Tấm Thảm Yêu Thương” được dệt bằng Đức Vâng Lời, Lòng Khiêm Hạ và Lòng Thương Xót:

– Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha (Mt 26:42).

– Nếu Thầy là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau (Ga 13:14).

– Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người (Lc 1:50).

     Đức Giêsu xác định rạch ròi: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13:34). Luật Yêu Thương đó được Ngài gọi là “Điều Răn Mới” (Tân ước), vì luật cũ (Cựu ước) là Luật-Báo-Phục-Tương-Xứng:

– Nếu có gây tổn thương, thì ngươi phải lấy mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, vết bỏng đền vết bỏng, vết thương đền vết thương, vết bầm đền vết bầm (Xh 21:23-25).

– Nếu ai làm cho người đồng bào phải mang tật, thì phải xử với nó như nó đã xử với người ta: chỗ gãy đền chỗ gãy, mắt đền mắt, răng đền răng; nó đã làm cho người khác mang tật thế nào, thì người ta cũng sẽ làm cho nó như vậy. Ai đánh chết một con vật, thì phải đền; ai đánh chết người, sẽ bị xử tử (Lv 24:19-21).

– Mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân (Đnl 19:21).

     Với tên mắc nợ mà không biết thương xót đồng loại, Chúa Giêsu đã hỏi: “Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính Ta đã thương xót ngươi sao?” (Mt 18:32). Và đó cũng là câu hỏi mà Chúa Giêsu cũng chất vấn mỗi chúng ta từng giây, từng phút – nhất là trong Mùa Xuân này.

     Cô bé nhỏ kia bị quái vật quấn chết. Cái chết của em là cái chết vĩ đại, em chết nhưng lại vẫn bất tử, vì em chết thay cho cha mẹ, người chị, và dân chúng trong vùng. Em bé gái kia thật dễ thương và đáng khâm phục!

     Chúa Giêsu cũng bị những người thủ ác sát hại vì ghen tức, trong cái chết của Ngài cũng có chúng ta nhúng vào! Nhưng Ngài chết để chúng ta được sống dồi dào (x. Ga 10:10). Chính một người trong Thượng Hội Đồng tên là Cai-pha, làm thượng tế năm ấy, nói: “Thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt” (Ga 11:50-51).

     Mùa Xuân lại về, hoa Mai nở rực vàng trên khắp quê hương Việt Nam, nhắc nhở chúng ta về Luật Yêu Thương mà chính Đức Kitô đã truyền dạy và buộc chúng ta phải thực hiện vuông tròn.

     Nguyện xin Chúa Cha xót thương, nguyện xin Chúa Con tha thứ, nguyện xin Chúa Thánh Thần thánh hóa và biến đổi chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Tết Quý Tỵ – 2013

Nguồn: longchuathuongxot.vn

Ân Sủng Cho Giáo Hội hay Cho Nước Chúa?

ÂN SỦNG CHO GIÁO HỘI HAY CHO NƯỚC CHÚA?

Cha George Montague, SM, Cố Vấn thần học Hội Đồng Canh Tân Đặc Sủng Công Giáo Hoa Kỳ. Cựu chủ tịch Hiệp Hội Kinh Thánh Công Giáo, giáo sư thần học Đại Học St. Mary
tại Antonio, TX, Hoa Kỳ.


Khóa tĩnh tâm cuối tuần tại Duquesne! Chúng ta, những người đã và đang tham dự vào Canh Tân Đặc Sủng sung sướng biết bao mỗi khi được sống lại hoặc nghe nói về Khóa tĩnh tâm kỳ diệu đã đưa đến sự bùng nổ làm thay đổi đời sống đức tin của hàng trăm triệu người Công Giáo khắp nơi trên mặt địa cầu. Nhưng một phần của sự bùng nổ ấy đã được chuẩn bị từ ít năm trước tại Đền Thờ Giáo Hoàng và trên hai ngàn Giám mục đã thảo luận và đưa ra một khuôn khổ thần học nhờ vậy Canh Tân có thể nổ ra để xây dựng chứ không phải để tiêu hủy Giáo hội. Đó là hoạt dộng của Chúa Thánh Linh mà chúng ta gọi là Công Đồng Vatican II. Trước Công Đồng lịch sử này, một số nhà thần học như Yves Congar và ngay cả Đức Hồng Y Suenens cũng đã viết về vai trò quan trọng của người tín hữu giáo dân và các đặc sủng trong Giáo hội, nhưng phần đông, đặc sủng đã không được hiểu rõ giá trị hoặc không thực hành trong sự hiểu biết.


Dĩ nhiên cũng có các vị thánh như Gioan Vianney, cha xứ họ đạo Ars, ngài có thể nói tội của người khác trước khi họ xưng tội, hoặc các vị thánh khác đã làm nhiều phép lạ lớn lao trước và sau khi được phong thánh. Nhưng không trông mong rằng người tín hữu bình thường, hoặc ngay cả linh mục và các giám mục lại có thể cầu nguyện trong tiếng lạ hay nói tiên tri, hoặc chữa lành (ngoại trừ thỉnh thoảng có xảy ra qua bí tích xức dầu cho kẻ liệt). Vì thế quả là hứng thú lớn lao khi những sự việc này bắt đầu xảy ra qua những cái máng không ngờ trước được đó là những người tín hữu giáo dân mộc mạc ít được hướng dẩn, và ngay cả những người chẳng mấy thánh thiện. Họ chỉ có đức tin – và đặc sủng.


Hứng thú lớn lao, đúng vậy, nhưng cũng kinh ngạc, bởi vì sự kiện này làm sao lại có thể thích hợp với truyền thống thần học Công giáo. Bởi vì vụ nổ xảy ra đầu tiên tại khu lưu xá sinh viên của một Trường Đại Học và trong đó có cả những giáo sư người Công giáo bằt đầu đổ xô đi tìm sự giải thích thần học cho hiện tượng này. Đầu tiên, Kevin và Dorothy Ranaghan gọi đó là Catholic Ranaghan (Nhóm Ngũ Tuần Công giáo). Rồi các Cha Kilian McDonnell và Francis Sullivan bắt đầu xuất bản các đề mục. Sau đó, các tài liệu mang tựa đề Malines Documents được viết ra dưới sự bảo trợ của Đức Hồng Y Suenens. Sau cùng, cuốn sách Christian Initiation and Baptism in the Holy Spirit (Bí tích khai tâm Kitô giáo và sự Thanh tẩy trong Chúa Thánh Linh) do Cha McDonnell và tôi thực hiện đã khởi hứng cho tập Fanning the Flame (Khơi dậy ngọn Lửa Ân Sủng) do sự hợp tác của mười ba nhà thần học và các vị lãnh đạo Canh Tân Đặc Sủng, tập sách này được dùng như tài liệu hướng dẫn mục vụ. Người Công giáo luôn hiểu biết và đẩy mạnh những họat dộng xã hội dù vậy việc giải thích cho những hoạt động mới mẽ xuất hiện trong Canh Tân Đặc Sủng như: lời tiên tri và cầu nguyện chữa lành cũng chỉ là những việc bình thường.



Nhưng có lẽ đây là lúc chúng ta phải quay ngược ống kính lại để nhìn vào bức tranh đặc sủng một cách rộng lớn hơn. Và thật hiển nhiên, đây cũng chính là điều chúng ta tìm thấy trong tài liệu đã được Công Đồng Vatican đề ra.


Sự hiểu biết rộng rãi về các đặc sủng đã được bàn thảo và nêu ra trong tài liệu quan trọng của Công Đồng, Hiến Chế về Giáo Hội.


“Cũng chính Thánh Thần ấy, không chỉ thánh hóa và hướng dẫn Dân Chúa bằng các Bí Tích, các thừa tác vụ, và trang bị họ bằng các nhân đức, nhưng Ngài còn ban phát các ân sủng đặc biệt cho mọi cấp bậc các tín hữu ‘phân chia ân huệ cho mỗi người theo ý Ngài’ (1Cr 12:11), khiến người lãnh nhận các ân sủng ấy có đủ khả năng và sẵn lòng đảm nhận các công việc và nhiệm vụ khác nhau mưu ích cho việc canh tân, xây dựng và phát triển Giáo Hội như lời chép rằng: ‘Thánh Thần hiển hiện trong mỗi người hầu mang lợi ích’ (1Cr 12:7). Phải lãnh nhận những đoàn sủng này, từ các ơn chói lọi nhất đến các ơn thường mà nhiều người lãnh được, với lòng tri ân và yên ủi vì các ơn đó mang ích lợi và phù hợp với nhu cầu của Giáo Hội.” (Lumen Gentium, 12).


Nói cách khác, bên cạnh các đặc sủng Chúa ban cho để thực hành các tác vụ trong Giáo Hội, ngay cả phục vụ những người nghèo khổ và bất hạnh. Chúa còn muốn ban ơn cho người tín hữu giáo dân để họ xây dựng Giáo Hội trần thế. Điều này được thực hiện trong nhiều đường lối khác nhau. Sau khi xác định vai trò của người tín hữu giáo dân trong cộng đồng xứ đạo, trong việc thờ phượng và hướng dẫn. Tài liệu minh định năm phạm vi mà người tín hữu giáo dân được kêu gọi phục vụ nhưng họ cần tới đặc sủng: gia đình, giới trẻ, xã hội, quốc gia và thế giới.


Như vậy, Canh Tân nói với chúng ta cần phải làm gì? Có hai việc phải làm.



Trước nhất, chúng ta cần quảng bá sự hiểu biết về các đặc sủng để đón lấy những ơn huệ hướng chúng ta vào thế giới và xác định những người thực thực hành các đặc sủng này. Tôi không ước đoán rằng trong phạm vi này Canh Tân Đặc Sủng đã không thực hành được gì. Thí dụ, những người trong Canh Tân đã tích cực tham gia vào Phong Trào bảo vệ sự sống con người. Tuy nhiên, đôi khi, có những nhóm cầu nguyện dường như tự cô lập vì họ nghĩ rằng chỉ họ mới có Chúa Thánh Linh, và họ chỉ thực hành những gì trong “thế giới tâm linh” riêng của họ thôi.



Nhưng, thứ nhì, tôi tin rằng đây là ơn đặc biệt của Canh Tân để khẳng định rằng các tác vụ không thể tồn tại được nếu trước tiên không có sự nhận thức đặc sủng là những ơn huệ của Chúa Thánh Linh chứ không phải là những tài năng tự nhiên hay cái gì mình tự tạo ra được. Và những người thực hành các đặc sủng này sẽ hoàn thành những mục tiêu của Chúa phải được nuôi dưỡng bằng đặc sủng ca ngợi thờ phượng, lắng nghe Lời Chúa (ơn tiên tri) và chữa lành.\

 Nguon Thanhlinh
******************************************************

Mẹ Xuống Luyện Ngục

Xưa giáo dân thành Roma có tập quán cầm nến sáng ban đêm đi viếng các nhà thờ Đức Mẹ tối áp lễ Đức Mẹ Lên Trời. Có một phụ nữ quí phái cùng theo đoàn giáo dân đi viếng đền thờ Đức Mẹ. Khi bà quì cầu nguyện trong nhà thờ, vừa mở mắt ra thì thấy một đàn bà mình rất quen thân xưa, đã chết 6 tháng nay, đang quỳ bên cạnh mình đọc kinh. Bà quí phái bỡ ngỡ hết sức liền ra cửa nhà thờ đứng đợi. Khi thấy người quen bước ra liền hỏi ngay:
Chị có phải tên là Marozia không?
Phải, đúng tôi là Marozia
Ủa chị đã chết 6 tháng rồi mà? Chị được sống lại ư? Có được rỗi linh hồn không?
Thưa chị, từ lúc chết đến giờ, tôi bị giam phạt trong luyện tội khốn cực lắm, chỉ vì khi còn trẻ tôi đã hay làm đỏm làm dáng, làm dịp cho nhiều người. Song ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời thì đêm nay Đức Mẹ xuống luyện ngục đem tôi và một số linh hồn có lòng kính mến Đức Mẹ lên Thiên đàng.
Năm nào, đến lễ này cũng xẩy ra như vậy. Các linh hồn được cứu hôm nay thì nhiều lắm, đã kéo nhau đến nhà thờ này để tạ ơn Đức Mẹ. Bà chỉ được Chúa cho trông thấy một mình tôi thôi, chứ còn biết bao linh hồn khác đang quì chung quanh đây bà không được xem thấy.
Thấy bà bán tín bán ghi, thì linh hồn liền nói, “Cho bà được tin lời tôi, thì sang năm, chính ngày này lễ Đức Mẹ Lên trời bà sẽ chết.”
Thành Đamianô đã làm chứng tích chuyện này có thật và còn minh chứng rằng: Bà quí phái nghe nói như vậy tin ngay và từ hôm đó gắng làm nhiều việc lành, đến năm sau bà ngã bệnh và chết đúng ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời.
Source: dongcong.net

Giáo Hội và Canh Tân

GIÁO HỘI VÀ CANH TÂN

Cha Michael Scanlan
Viện Trưởng Đại Học St. Francis tại Stewbelleville, Ohio


Thật khó khi phải chọn con đường thánh thiện của Chúa cho đời sống chúng ta. Nhưng lại dễ cho chúng ta khi tự ý lựa chọn cho mình con đường riêng theo Chúa. Đó là sự thật kỳ quặc khi một phong trào có nền tảng đặc sủng trong Kinh Thánh, được Chúa Thánh Linh hướng dẫn đời sống, lại bị chống đối hoặc bị cấm đoán bởi những người có thẩm quyền trong Giáo Hội.


Sự căn thẳng này và những hậu quả tiếp theo sau thường thấy trong Giáo Hội, và đã trở thành những chứng cớ cáo buộc chúng ta trong suốt 30 năm qua, kể từ khi Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng Công Giáo xuất hiện. Bên cạnh những ơn phúc lớn lao của Phong Trào Canh Tân này, còn có những bực lòng, chạm trán, và xung đột xảy ra.

Nhiều Linh Mục và Giám Mục thường cảm thấy không thoải mái với những cách thức thờ phượng Chúa trong Canh Tân Đặc Sủng. Những người trong các Nhóm Cầu Nguyện cũng như trong các Cộng Đồng Canh Tân, và những người được ơn phục vụ, đã phải phấn đấu khó khăn để đem Canh Tân vào giữa lòng Giáo Hội. Những vị lãnh đạo của “Cộng Đoàn Canh Tân Các Linh Mục Anh Em” thường nói về một ngày nào đó Canh Tân sẽ “đến với xứ đạo trong buổi sáng Chúa Nhật bằng lối đi giữa nhà thờ.” Nhưng điều mơ ước đó chẳng xảy ra!

Chúa Thánh Linh được ban để đưa chúng ta vào sự thật (đọc Gioan 16:13). Kinh Thánh nói rõ, Chúa Thánh Linh được ban để thực hiện nhiệm vụ tông đồ (đọc Gioan 20:22-23), các đặc sủng cũng vậy (Công Vụ 2). Chỉ có một Thánh Linh, và mục đích của Chúa Thánh Linh là kết hợp hai điều trên trong một phương cách đáng ca ngợi.


Công Đồng Vatican dạy: “Cũng chính Thánh Thần ấy, không chỉ thánh hóa và hướng dẫn Dân Chúa bằng các Bí Tích, các thừa tác vụ và trang bị họ bằng các nhân đức, nhưng Ngài còn ban phát các ân sủng đặc biệt cho mọi cấp bậc tín hữu ‘phân chia ân huệ cho mỗi người theo ý Ngài’ (đọc 1Cor 12:11), khiến người lãnh nhận các ân sủng ấy có đủ khả năng và sẵn lòng đảm nhận các công việc và nhiệm vụ khác nhau mưu ích cho việc canh tân, xây dựng và phát triển Giáo Hội như lời Thánh Tông Đồ, ‘Thần Khí hiển trị như vậy được ban xuống cho mỗi người để mưu ích lợi chung’ (1Cor 12:7). Phải lãnh nhận những đặc sủng này, từ các ơn chói lọi nhất đến các ơn thường mà nhiều người lãnh nhận được, với lòng tri ân và an ủi vì các ơn đó mang ích lợi và phù hợp với nhu cầu của Giáo Hội.” (Hiến Chế Giáo Hội, 12).

Mỗi lần đọc những câu trên, tôi lại tìm ra được sự giải thích phong phú hơn về hoạt động của Chúa Thánh Linh. Tôi cũng được tăng thêm sự hiểu biết về công việc lớn lao mà Chúa Thánh Linh đem đến để hiệp nhất sức sống Giáo Hội.
Trong vấn đề này, phải làm sao để đạt tới đời sống thánh thiện? Trước hết, Thiên Chúa có chương trình của Ngài cho đời sống của chúng ta, và trong đó, Ngài hành động qua sự căng thẳng giữa Canh Tân Đặc Sủng và các cơ chế thẩm quyền Giáo Hội để tẩy luyện chúng ta như “lửa luyện vàng” (1Phêrô 1:6-9), và đem lại hoa trái là sự ăn năn sám hối trong đời sống Giáo Hội.

Tôi luôn luôn kinh ngạc về mục đích duy nhất của Chúa khi Ngài đưa tôi tới sự thánh thiện. Ngài xem ra ít chăm sóc cho những chương trình kế hoạch và các công việc mục vụ của tôi so với việc tôi tiếp tục hối cải và lớn lên trong thánh thiện. Tôi được biết có rất nhiều người cũng cảm nghiệm được điều này khi họ phải đối phó với những sự chống đối, và gặp những chuyện bực mình trong việc xây dựng các Nhóm Cầu Nguyện, các Cộng Đồng Canh Tân Thánh Linh, và thực hành các tác vụ.


Thiên Chúa dường như luôn đưa chúng ta vào sự tôi luyện, rồi kết thúc. Ngài cứu chúng ta ra khỏi những khó khăn và những cơn khủng hoảng. Thiên Chúa không thờ ơ lãnh đạm đối với các Nhóm Cầu Nguyện, các Cộng Đồng Canh Tân, và những người thực hành tác vụ.
 Nguon Thanhlinh
*****************************************

Học làm Người

Học Làm Người

Đăng lúc: Thứ năm - 07/03/2013 06:31 - Người đăng bài viết: tinvui@dmin

Học Làm Người
Học Làm Người

Có những khoảnh khắc làm ta rưng rưng nước mắt khi nhìn thấy những người nghèo khổ, thiếu thốn cả những gì cơ bản nhất. Cái dư thừa của người này, thậm chí với họ chỉ là… rác, nhưng với người nghèo thì có thể là điều họ khao khát. Quả thật, “một miếng khi đó bằng một gói khi no”… Miếng ăn thêm khi chúng ta no là miếng ăn của người nghèo khổ. Nếu vậy thì chúng ta thiếu nhân đạo! Một danh nhân đã xác định: “Chỉ những ai có lòng thương người thì mới xứng đáng nhận danh hiệu con người”. Câu này đáng để chúng ta suy ngẫm và xem lại chính mình!


Trong một liên hoan phim ngắn tại Berlin (Đức), khi xem phim ngắn Chicken à la Carte (có thể xem ở http://www.cultureunplugged.com/play/1081/Chicken-a-la-Carte), cả ban giám khảo và khán giả đã xúc động khi thấy người cha nghèo ngăn đứa con gái thò tay lấy miếng thịt gà, rồi cả nhà cùng làm dấu, tạ ơn Chúa và cầu nguyện trước khi ăn. Thật ra những miếng thịt gà kia chỉ là những cổ, chân, cánh,… bị gặm dở mà người cha đã lấy từ thùng rác của một nhà hàng sang trọng và đem về cho vợ con ăn.
Yêu thương là luật của Thiên Chúa. Đức Kitô đã chạnh lòng thương hàng ngàn người đi theo mình nên Ngài hóa bánh ra nhiều cho họ được no nê (x. Mt 14:13-21 và 15:32-39). Ngài rất thực tế, không nói suông, cũng không nói bóng gió. Ngài đã bỏ đàn chiên 99 con để đi tìm chỉ 1 con chiên lạc (x. Mt 18:12-14). Đặc biệt là Bát Phúc trong Bài Giảng Trên Núi (x. Mt 5:3-12). Đó là những bài học làm người mà Ngài dạy chúng ta.
Chuyện kể rằng Ðại sư Tinh Vân có một đệ tử, sau khi tốt nghiệp đại học liền đi học Thạc sĩ, rồi lại học Tiến sĩ. Sau nhiều năm dùi mài kinh sử, đệ tử đó hoàn thành luận án tiến sĩ nên vô cùng mừng vui. Một hôm đệ tử đó về vinh qui bái tổ và thưa với ngài Tinh Vân: "Bạch Sư phụ, nay con đã có bằng Tiến sĩ rồi, con còn phải học những gì nữa không?"
Ngài Tinh Vân bảo: “Học làm người”. Học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được. Ngài Tinh Vân cho rằng bất luận là sĩ, nông, công, thương là những người ở tầng lớp có học thức và có tiến bộ, hãy chia sẻ với người khác về những điều mình hiểu biết. Nhưng dù là ai thì vẫn cần phải học không ngừng. Phải tu thân trước, rồi mới đủ uy tín trị quốc, và sau đó mới khả dĩ bình thiên hạ. Đạo Làm Người là đạo quan yếu nhất, dù theo đạo nào và ở cương vị nào thì trước tiên vẫn phải biết Làm Người. Đây là vài “tín chỉ” trong “môn học làm người”:
1. Học Nhận Lỗi. Con người thường không chịu nhận phần lỗi mình, tất cả lỗi lầm đều đổ cho người khác, vì chúng ta cho rằng bản thân mình mới đúng. Thật ra “không biết mình” là lỗi lầm lớn nhất. Đừng nghĩ mình “lớn” thì hoàn hảo và vô tội. Càng lớn càng dễ lỗi lầm vì có thể đổ lỗi cho người dưới. Ðối tượng mà mình nhận lỗi có thể là ông bà, cha mẹ, anh chị em, bạn bè,… và bất kỳ ai trong xã hội, thậm chí là người nhỏ hơn mình và với chính người không tốt với mình. Nhận lỗi như vậy bản thân chẳng mất mát gì, ngược lại còn thể hiện được sự độ lượng của bản thân và được khâm phục. Biết nhận lỗi là một điều rất tốt, là sự tu thân lớn và là một nhân đức.
2. Học Khiêm Nhu. Răng cứng, lưỡi mềm. Nhưng cuối cuộc đời, răng rụng hết mà lưỡi vẫn còn nguyên. Đó là bài học về sự mềm mỏng, khiêm nhu. Được vậy thì đời người mới có thể tồn tại dài lâu, chứ “cứng” thì chỉ thiệt thòi. Tâm hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu thân. Có tâm hòa thì mới có nhân hòa. Chúng ta thường hình dung những người cố chấp có tấm lòng và tính cách rất “lạnh”, rất “cứng” như sắt thép vậy. Nếu chúng ta có thể điều hòa hơi thở và tâm tính, dần dần khiến “ngựa chứng” phải thuần thục thì cuộc sống sẽ vui tươi, hạnh phúc và kiên vững.
3. Học Đức Nhẫn. Nhẫn nhục là loại “cỏ quý”, là “bùa hộ thân” đặc biệt. Biết nhẫn một chút thì có thể làm sóng yên biển lặng. Nhường nhịn không phải là chiến bại. Nhẫn để tiêu trừ điều ác. Nhẫn là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không. Muốn sinh tồn thì phải biết nhẫn để có thể phân biệt đúng – sai, thiện – ác, tốt – xấu, thậm chí chấp nhận nó.
4. Học Thấu Hiểu. Không hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm,... Nên thấu hiểu để biết cảm thông và giúp đỡ nhau. Không cảm thông nhau không thể tha thứ cho nhau, không thể có hòa bình. Tâm phẫn xí tắc bất đắc kỳ chính!
5. Học Khước Từ. Cuộc đời như một chiếc va-li, lúc cần dùng thì xách nó lên, không cần thì đặt nó xuống. Lúc cần đặt xuống lại không đặt xuống, cũng như kéo túi hành lý nặng nề vậy, cuộc đời luôn trĩu nặng. Cuộc đời hữu hạn, biết phục thiện, biết tự trọng và tôn trọng, biết bao dung thì mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết khước từ chính mình để có thể sinh tồn.
6. Học Xúc Ðộng. Nhận ra ưu điểm của người khác thì chúng ta nên hoan hỷ, thấy điều không may của người khác nên biết xúc động. Vui với người vui, buồn với người buồn. Trắc ẩn là lòng thương yêu, là thiện tâm. Trên đời có rất nhiều cảnh thương tâm, nhiều cuộc đời rất đáng thương, vô cảm là độc ác.
7. Học Sinh Tồn. Ðể sinh tồn, chúng ta phải biết giữ gìn sức khỏe – tinh thần và thể lý. Tinh thần thoải mái thì thân thể khỏe mạnh, và ngược lại. Thân thể khỏe mạnh không chỉ ích lợi cho bản thân mà còn làm cho gia đình, bạn bè an tâm. Đó cũng là biết sống hiếu đễ với người thân.
TRẦM THIÊN THU

20/3/13

Lam Chồng và làm cha

Làm chồng và làm cha

Làm chồng và làm cha
Làm Chồng và Làm Cha

Làm chồng và làm cha là hai bổn phận khác nhau, nhưng vẫn nối kết với nhau, vì hai trách nhiệm nhưng chỉ có một người phải thực hiện sao cho vuông tròn.

Muốn làm cha thì dễ nhưng để làm cha thì khó. Đối với con cái, người mẹ quan yếu về lĩnh vực tình cảm, người cha quan yếu về lĩnh vực tính cách. Vai trò nào cũng có tầm vóc riêng, nhưng phải làm sao giáo dục cho con cái biết sống có trách nhiệm, như R. Tagore nói: “Từ thuở ấu thơ đến lúc trưởng thành, những bài học về nghĩa vụ được coi là sự giáo dục toàn diện”.
Nữ giới hướng nội, nam giới hướng ngoại. Đó là quan niệm cổ xưa, bất cân bằng. Nữ là âm, nam là dương. Càn khôn phải có âm dương hòa hợp. Nội hay ngoại đều cần, không thể tuyệt đối bất di bất dịch mà chỉ nhiều hơn hay ít hơn một chút, nội hay ngoại đều có một vị trí nhất định. Thói gia trưởng đã và đang là mối quan ngại đối với phụ nữ trong việc lập gia đình, sinh con, tham gia hoạt động xã hội,… Làm chồng thì đừng áp chế vợ, và làm cha thì đừng đè nén con cái.
Chăm sóc gia đình không chỉ là đưa tiền về nhà với động thái “ban phát”, mà nam giới còn phải cởi mở thân thiện để vợ con không ngại trò chuyện hoặc cảm thấy xa cách. Xã hội ngày nay cần có sự bình đẳng tích cực, cha mẹ cùng chăm sóc con cái. Dĩ nhiên không ai được phép ỷ lại hoặc đùn đẩy trách nhiệm. Đừng tự quan trọng hóa cũng đừng khinh suất!
Sẽ là bình đẳng nếu nam giới biết chia sẻ một nửa công việc chăm sóc gia đình với phụ nữ, nhưng vẫn giữ vai trò “chống mũi chịu sào” của gia đình. Và như vậy, người chồng luôn được người vợ nể trọng, người cha luôn được con cái kính yêu.
Để có được cái nhìn bình đẳng thực sự trong gia đình, chính nam giới phải có sự thay đổi ngay từ trong nếp nghĩ. Thật vậy, càng hiểu biết nhiều thì người ta càng dễ cảm thông và tha thứ. Sự khiêm nhường luôn có hệ lụy với sự khoan dung, còn lòng kiêu ngạo luôn gắn liền với lòng ghen tỵ.
Sống tốt là sống chân thành, không xu nịnh, không vụ lợi hoặc thực dụng, dù là trong các vấn đề sinh tử. Đó là bổn phận làm người. Lão Tử dạy: “Lo thắng người thì loạn, lo thắng mình thì bình”. Sống tốt ngay từ trong gia đình, vì gia đình là nền tảng của đất nước và xã hội, để tạo lập và bảo vệ hạnh phúc đích thực – cái mà không thể mua bằng vàng bạc hay bất cứ loại châu báu nào.
Mọi người đều là thiên thần, nhưng thiên thần chỉ mới có một cánh. Chúng ta có thể bay lên cao được nhờ biết hợp tác, biết đồng lao cộng khổ và cùng chung lưng đấu cật ở mọi hoàn cảnh. Nghèo không sợ và khổ không nao, đó là con người không bao giờ bị khuất phục. Syrius khuyên: “Nên tin vào sự can đảm của mình hơn là sự may mắn”. Không ghen ghét ai và không cầu cạnh ai thì làm gì cũng tốt.
Ca dao Việt Nam có triết lý sống đơn giản nhưng vẫn thâm thúy:
Bề trên lượng cả khoan hồng
Khiến cho bề dưới đem lòng kính yêu
Thiên Chúa luôn đề cao gia đình, vì chính Chúa Giêsu cũng sống trong một gia đình và được cha mẹ chăm sóc. Hôn nhân là một trong bảy bí tích được Thiên Chúa thiết lập. Kinh thánh dạy: “Hãy thảo kính cha mẹ” (Hc 3:1-16). Và rồi Chúa Giêsu đã nêu gương vâng phục cha mẹ (Lc 2:51).
Thánh Phaolô đưa ra lời khuyên về đời sống gia đình: “Người làm vợ hãy phục tùng chồng, như thế mới xứng đáng là người thuộc về Chúa. Người làm chồng hãy yêu thương chứ đừng cay nghiệt với vợ. Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là điều đẹp lòng Chúa. Những bậc làm cha mẹ đừng làm cho con cái bực tức, kẻo chúng ngã lòng” (Cl 3:18-21).
Thánh Phaolô cũng nói riêng về trách nhiệm cha mẹ: “Những bậc làm cha mẹ, đừng làm cho con cái tức giận, nhưng hãy giáo dục chúng thay mặt Chúa bằng cách khuyên răn và sửa dạy” (Ep 6:4).
Phàm điều gì là bổn phận và trách nhiệm thì không hề dễ thực hiện, nhưng vẫn phải làm, vì thế mới phải không ngừng cố gắng! Riêng ngày 8-3, quý ông có kế hoạch gì cho “một nửa của mình” hay không???
TRẦM THIÊN THU

Kinh Thanh về Chúa Thánh Thần (trích đoạn)



VÀI NÉT VỀ
CANH TÂN ĐẶC SỦNG CÔNG GIÁO

TÀI LIỆU * LỜI CHỨNG * CẢM NGHIỆM



BÀI 9 : KINH THÁNH VỀ CHÚA THÁNH THẦN
(MỘT SỐ TRÍCH ĐOẠN)


MT 3:11 Tôi làm phép rửa cho các anh trong nước để giục lòng các anh sám hối. Còn Ðấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho các anh trong THÁNH THẦN và lửa.


GA 3:4 Ông Ni-cô-đê-mô thưa: "Một người đã già rồi, làm sao có thể sinh ra được? Chẳng lẽ người đó có thể trở vào lòng mẹ lần thứ hai để sinh ra sao?" 3:5 Ðức Giê-su đáp: "Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và THẦN KHÍ. 3:6 Cái gì bởi xác thịt mà sinh ra, thì là xác thịt; còn cái gì bởi THẦN KHÍ mà sinh ra, thì là THẦN KHÍ. 3:7 Ông đừng ngạc nhiên vì tôi đã nói: các ông cần phải được sinh lại bởi ơn trên. 3:8 Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi THẦN KHÍ mà sinh ra thì cũng vậy."


GA 4:23 Nhưng giờ đã đến - và chính là lúc này đây - giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong THẦN KHÍ và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. 4:24 Thiên Chúa là THẦN KHÍ, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong THẦN KHÍ và sự thật."


GA 14:25 Các điều đó, Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em. 14:26 Nhưng Ðấng Bảo Trợ là THÁNH THẦN Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Ðấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.

GA 15:26 Khi Ðấng Bảo Trợ đến, Ðấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là THẦN KHÍ sự thật phát xuất từ Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy. 15:27 Cả anh em nữa, anh em cũng làm chứng, vì anh em ở với Thầy ngay từ đầu.


CV 1:4 Một hôm, đang khi dùng bữa với các Tông Ðồ, Ðức Giê-su truyền cho các ông không được rời khỏi Giê-ru-sa-lem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa, "điều mà anh em đã nghe Thầy nói tới, 1:5 đó là: ông Gio-an thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong THÁNH THẦN."


CV 2:1 Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, 2:2 bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhaø, nơi họ đang tụ họp. 2:3 Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. 2:4 Và ai nấy đều được tràn đầy ơn THÁNH THẦN, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng THÁNH THẦN ban cho.

CV 2:17 Thiên Chúa phán: Trong những ngày cuối cùng, Ta sẽ đổ THẦN KHÍ Ta trên hết thảy người phàm, con trai con gái các ngươi sẽ trở thành ngôn sứ, thanh niên sẽ thấy thị kiến, bô lão sẽ được báo mộng. 2:18 Trong những ngày đó, Ta cũng sẽ đổ THẦN KHÍ Ta cả trên tôi nam tớ nữ của Ta, và chúng sẽ trở thành ngôn sứ.

CV 4:31 Họ cầu nguyện xong, thì nơi họ họp nhau rung chuyển; ai nấy đều được tràn đầy THÁNH THẦN và bắt đầu mạnh dạn nói lời Thiên Chúa.


CV 7:51 "Hỡi những người cứng đầu cứng cổ, lòng và tai không cắt bì, các ông luôn luôn chống lại THÁNH THẦN. Cha ông các ông thế nào, thì các ông cũng vậy. 7:52 Có ngôn sứ nào mà cha ông các ông không bắt bớ? Họ đã giết những vị tiên báo Ðấng Công Chính sẽ đến.


CV 8:15 Khi đến nơi, hai ông cầu nguyện cho họ, để họ nhận được THÁNH THẦN. 8:16 Vì THÁNH THẦN chưa ngự xuống một ai trong nhóm họ: họ mới chỉ chịu phép rửa nhân danh Chúa Giê-su. 8:17 Bấy giờ hai ông đặt tay trên họ, và họ nhận được THÁNH THẦN.


CV 9:17 Ông Kha-na-ni-a liền đi; ông vào nhà, đặt tay trên ông Sao-lô và nói: "Anh Sa-un, Chúa đã sai tôi đến đây, Người là Ðức Giê-su, Ðấng đã hiện ra với anh trên đường anh tới đây. Người sai tôi đến để anh lại thấy được và để anh được đầy THÁNH THẦN." 9:18 Lập tức có những cái gì như vảy bong ra khỏi mắt ông Sao-lô, và ông lại thấy được. Ông đứng dậy và chịu phép rửa.


CV 10:38 Quý vị biết rõ: Ðức Giê-su xuất thân từ Na-da-rét, Thiên Chúa đã dùng THÁNH THẦN và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người. Ði tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người.


CV 10:45 Những tín hữu thuộc giới cắt bì cùng đến đó với ông Phê-rô đều kinh ngạc vì thấy Thiên Chúa cũng ban THÁNH THẦN xuống trên cả các dân ngoại nữa, 10:46 bởi họ nghe những người này nói các thứ tiếng và tán dương Thiên Chúa. Bấy giờ ông Phê-rô nói rằng: 10:47 "Những người này đã nhận được THÁNH THẦN cũng như chúng ta, thì ai có thể ngăn cản chúng ta lấy nước làm phép rửa cho họ?"

CV 19:1 Trong khi ông A-pô-lô ở Cô-rin-tô thì ông Phao-lô đi qua miền thượng du đến Ê-phê-xô. Ông Phao-lô gặp một số môn đệ 19:2 và hỏi họ: "Khi tin theo, anh em đã nhận được THÁNH THẦN chưa?" Họ trả lời: "Ngay cả việc có THÁNH THẦN, chúng tôi cũng chưa hề được nghe nói." 19:3 Ông hỏi: "Vậy anh em đã được chịu phép rửa nào?" Họ đáp: "Phép rửa của ông Gio-an."


CV 19:4 Ông Phao-lô nói: "Ông Gio-an đã làm một phép rửa tỏ lòng sám hối, và ông bảo dân tin vào Ðấng đến sau ông, tức là Ðức Giê-su." 19:5 Nghe nói thế, họ chịu phép rửa nhân danh Chúa Giê-su. 19:6 Và khi ông Phao-lô đặt tay trên họ, thì Thánh Thần ngự xuống trên họ, họ nói tiếng lạ và nói tiên tri.


CV 28:24 Nghe ông nói, người thì được thuyết phục, người thì không chịu tin. 28:25 Khi giải tán, họ vẫn không đồng ý với nhau; ông Phao-lô chỉ nói thêm một lời: "THÁNH THẦN đã nói rất đúng khi dùng ngôn sứ I-sai-a mà phán với cha ông anh em 28:26 rằng: Hãy đến gặp dân này và nói: Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy, 28:27 vì lòng dân này đã ra đần độn, chúng đã nặng tai, còn mắt thì chúng nhắm lại, kẻo mắt chúng thấy, tai chúng nghe, và lòng hiểu được mà hoán cải, và rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành”.


RM 8:5 Những ai sống theo tính xác thịt, thì hướng về những gì thuộc tính xác thịt; còn những ai sống theo THẦN KHÍ, thì hướng về những gì thuộc THẦN KHÍ. 8:6 Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của THẦN KHÍ là sự sống và bình an. 8:8 Những ai bị tính xác thịt chi phối thì không thể vừa lòng Thiên Chúa. 8:9 Nhưng anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được THẦN KHÍ chi phối, bởi vì THẦN KHÍ của Thiên Chúa ngự trong anh em. Ai không có THẦN KHÍ của Ðức Ki-tô, thì không thuộc về Ðức Ki-tô. 8:10 Nhưng nếu Ðức Ki-tô ở trong anh em, thì dầu thân xác anh em có phải chết vì tội đã phạm, THẦN KHÍ cũng ban cho anh em được sống, vì anh em đã được trở nên công chính.


RM 8:14 Quả vậy, phàm ai được THẦN KHÍ Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa. 8:15 Vì THẦN KHÍ mà anh em đã lãnh nhận được, đâu phải là tinh thần nô lệ, khiến anh em phải sợ sệt như xưa; nhưng là THẦN KHÍ làm cho anh em nên nghĩa tử, khiến chúng ta được kêu lên: "Áp-ba! Cha ơi!" 8:16 Chính THẦN KHÍ chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa.

RM 8:25 Nhưng nếu chúng ta trông mong điều mình chưa thấy, thì đó là chúng ta bền chí đợi chờ. 8:26 Hơn nữa, lại có THẦN KHÍ giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính THẦN KHÍ cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn ta û (ơn tiếng lạ). 8:27 Và Thiên Chúa, Ðấng thấu suốt tâm can, biết THẦN KHÍ muốn nói gì, vì THẦN KHÍ cầu thay nguyện giúp cho các thánh theo đúng ý Thiên Chúa.


RM 14:15 Nếu vì bạn ăn một thức ăn, mà bạn làm phiền lòng người anh em, thì bạn không còn sống theo đức ái nữa. Ðừng vì thức ăn của bạn mà làm cho người đã được Ðức Ki-tô chết cho phải hư mất! 14:16 Vậy đừng để cho thiên hạ chê bai điều mà anh em cho là tốt. 14:17 Vì Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong THÁNH THẦN.

RM 15:18 Thật thế, tôi đâu dám nhắc đến chuyện nào khác, ngoài những gì Ðức Ki-tô đã dùng tôi mà thực hiện để đưa các dân ngoại về phục vụ Thiên Chúa, thực hiện bằng lời nói việc làm, 15:19 bằng sức mạnh của những dấu lạ điềm thiêng, bằng quyền năng của THÁNH THẦN.


PL 2:1 Nếu quả thật sự liên kết với Ðức Ki-tô đem lại cho chúng ta một niềm an ủi, nếu tình bác ái khích lệ chúng ta, nếu chúng ta được hiệp thông trong THẦN KHÍ, nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau, 2:2 thì xin anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn, là hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau. 2:3 Ðừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. 2:4 Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác.


2PR 4:14 Nếu bị sỉ nhục vì danh Ðức Ki-tô, anh em thật có phúc, bởi lẽ THẦN KHÍ vinh hiển và uy quyền, là THẦN KHÍ của Thiên Chúa, ngự trên anh em.


1GA 4:1-2 Anh em thân mến, anh em đừng cứ THẦN KHÍ nào cũng tin, nhưng hãy cân nhắc các THẦN KHÍ em có phải bởi Thiên Chúa hay không (ơn biện phân), vì đã có nhiều ngôn sứ giả an tràn khắp thế gian. 4:2 Căn cứ vào điều này, anh em nhận ra THẦN KHÍ của Thiên Chúa: THẦN KHÍ nào tuyên xưng Ðức Giê-su Ki-tô là Ðấng đã đến và trở nên người phàm, thì THẦN KHÍ ấy bởi Thiên Chúa; 4:3 Còn THẦN KHÍ nào không tuyên xưng Ðức Giê-su, thì không bởi Thiên Chúa; đó là THẦN KHÍ của tên phản Ki-tô. Anh em đã nghe nói là nó đang tới, và hiện nay nó ở trong thế gian rồi.


1GA 5:6 Chính Ðức Giê-su Ki-tô là Ðấng đã đến, nhờ nước và máu; không phải chỉ trong nước mà thôi, nhưng trong nước và trong máu. Chính THẦN KHÍ là chứng nhân, và THẦN KHÍ là sự thật. 5:7 Có ba chứng nhân: 5:8 THẦN KHÍ, nước và máu. Cả ba cùng làm chứng một điều.


GL 5:15 Nhưng nếu anh em cắn xé nhau, anh em hãy coi chừng, anh em tiêu diệt lẫn nhau đấy! 5:16 Tôi xin nói với anh em là hãy sống theo THẦN KHÍ, và như vậy, anh em sẽ không còn thoả mãn đam mê của tính xác thịt nữa. 5:17 Vì tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với THẦN KHÍ, còn THẦN KHÍ lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt, đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn. 5:18 Nếu anh em để cho THẦN KHÍ hướng dẫn, thì anh em không còn lệ thuộc Lề Luật nữa.

GL 5:22 Còn hoa quả của THẦN KHÍ là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, 5:23 hiền hoà, tiết độ (hoa quả của Thần khí). Không có luật nào chống lại những điều như thế. 5:24 Những ai thuộc về Ðức Ki-tô Giê-su thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê. 5:25 Nếu chúng ta sống nhờ THẦN KHÍ, thì cũng hãy nhờ THẦN KHÍ mà tiến bước.


EP 4:22 Vì thế, anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, 4:23 anh em phải để THẦN KHÍ đổi mới tâm trí anh em, 4:24 và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện.

EP 4:29 Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp, để xây dựng và làm ích cho người nghe. 4:30 Anh em chớ làm phiền lòng THÁNH THẦN của Thiên Chúa, vì chính Người là dấu ấn ghi trên anh em, để chờ ngày cứu chuộc. 4:31 Ðừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thoá mạ, và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác.


1COR 2:4 Tôi nói, tôi giảng mà chẳng có dùng lời lẽ khôn khéo hấp dẫn, nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thực của THẦN KHÍ và quyền năng Thiên Chúa. 2:5 Có vậy, đức tin của anh em mới không dựa vào lẽ khôn ngoan người phàm, nhưng dựa vào quyền năng Thiên Chúa.


1COR 2:10 Còn chúng ta, chúng ta đã được Thiên Chúa mặc khải cho, nhờ THẦN KHÍ. Thật vậy, THẦN KHÍ thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa. 2:11 Vậy ai trong loài người biết được những gì nơi con người, nếu không phải là thần trí của con người trong con người? Cũng thế, không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là THẦN KHÍ của Thiên Chúa. 2:12 Phần chúng ta, chúng ta đã không lãnh nhận thần trí của thế gian, nhưng là THẦN KHÍ phát xuất từ Thiên Chúa, để nhận biết những ân huệ Thiên Chúa đã ban cho chúng ta. 2:13 Ðể nói về những điều đó, chúng tôi không dùng những lời lẽ đã học được nơi trí khôn ngoan của loài người, nhưng dùng những lời lẽ học được nơi THẦN KHÍ; chúng tôi dùng những lời lẽ THẦN KHÍ linh hứng để diễn tả thực tại thuộc về THẦN KHÍ. 2:14 Con người sống theo tính tự nhiên thì không đón nhận những gì của THẦN KHÍ Thiên Chúa, vì cho đó là sự điên rồ; họ không thể biết được, bởi vì phải nhờ THẦN KHÍ mới có thể xét đoán. 2:15 Nhưng con người sống theo THẦN KHÍ thì xét đoán được mọi sự, mà chẳng có ai xét đoán được người đó.


1COR 4:19 Nhưng nếu Chúa muốn, chẳng bao lâu nữa tôi sẽ đến với anh em, và tôi sẽ được biết, không phải tài ăn nói của những kẻ kiêu ngạo đó, mà là quyền năng của THẦN KHÍ. 4:20 Thật vậy, Nước Thiên Chúa không cốt ở tài ăn nói, nhưng ở quyền năng.


1COR 6:19 Hay anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Ðền Thờ của THÁNH THẦN sao? Mà THÁNH THẦN đang ngự trong anh em là THÁNH THẦN chính Thiên Chúa đã ban cho anh em. Như thế, anh em đâu còn thuộc về mình nữa, 6:20 vì Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc lấy anh em. Vậy anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em.


1COR 12:4 Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một THẦN KHÍ. 12:5 Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. 12:6 Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. 12:7 THẦN KHÍ tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung. 12:8 Người thì được THẦN KHÍ ban cho ơn khôn ngoan để giảng dạy, người thì được THẦN KHÍ ban cho ơn hiểu biết để trình bày. 12:9 Kẻ thì được THẦN KHÍ ban cho lòng tin; kẻ thì cũng được chính THẦN KHÍ duy nhất ấy ban cho những đặc sủng để chữa bệnh. 12:10 Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri; kẻ thì được ơn phân định THẦN KHÍ; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa lại được ơn giải thích các tiếng lạ. 12:11 Nhưng chính THẦN KHÍ duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tuỳ theo ý của Người.


1COR 14:1 Anh em hãy cố đạt cho được đức mến, hãy khao khát những ơn của THẦN KHÍ, nhất là ơn nói tiên tri. 14:2 Thật vậy, kẻ nói tiếng lạ thì không nói với người ta, nhưng là nói với Thiên Chúa, bởi vì chẳng ai hiểu được: nhờ THẦN KHÍ, kẻ ấy nói ra những điều nhiệm mầu.


1COR 14:5 Tôi muốn cho tất cả anh em nói các tiếng lạ, và nhất là tôi muốn cho anh em nói tiên tri. Người nói tiên tri thì cao trọng hơn người nói các tiếng lạ, trừ phi người này giải thích để xây dựng Hội Thánh.


1COR 14:18 Tôi cảm tạ Thiên Chúa vì tôi nói các tiếng lạ nhiều hơn tất cả anh em.


1COR 14:37 Nếu ai tưởng mình là ngôn sứ hoặc được THẦN KHÍ linh hứng, thì hãy nhìn nhận rằng các điều tôi viết đây là mệnh lệnh của Chúa. 14:38 Ai không nhận biết điều ấy, thì cũng không được Chúa biết đến. 14:39 Cho nên, thưa anh em, anh em hãy khao khát ơn nói tiên tri và đừng ngăn cấm nói các tiếng lạ.


2COR 3:17-18 Chúa là THẦN KHÍ, và ở đâu có THẦN KHÍ của Chúa, thì ở đó có tự do. 3:18 Tất cả chúng ta, mặt không che màn, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương; như vậy, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là THẦN KHÍ.

 Nguồn thanhlinh
***************************************************

Comment

Translate