28/3/13

Thứ Năm Tuần Thánh

Thứ Năm Tuần Thánh (Maundy Thursday hoặc Holy Thursday) khởi đầu Tam Nhật Vượt Qua – ba ngày quan trọng nhất trong năm phụng vụ. Thời gian này kỷ niệm Bữa Tiệc Ly, Cuộc Khổ Nạn, và Sự Phục Sinh của Đức Kitô.
Tiệc Vượt Qua
Trong khi dùng Tiệc Vượt Qua , Chúa Giêsu cầm lấy bánh và rượu, rồi trao cho các môn đệ. Các Kitô hữu tiếp tục cùng chia sẻ bánh và rượu là một phần trong việc thờ phượng trong Giáo hội. Đó là Thánh Thể Đức Kitô.
Bữa Tiệc Ly là tiệc Vượt Qua – bữa ăn mà người Do Thái chia sẻ với nhau để kỷ niệm thời gian Thiên Chúa giải thoát dân khỏi ách nô lệ người Ai Cập. Đêm Thứ Năm Tuần Thánh là đêm Chúa Giêsu bị môn đệ Giuđa phản bội tại Vườn Gết-sê-ma-ni (Vườn Dầu).

Nguồn gốc chữ Maundy
Chữ Maundy có gốc tiếng Latin là “mandatum”, nghĩa là “điều răn” hoặc “mệnh lệnh”. Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu truyền lệnh: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13:34).
Rửa chân
Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ. Hành động này đôi khi được thực hiện theo nghĩa đen như một cách tốt để nhắc nhở những người cai trị rằng họ có chức có quyền là để phục vụ mọi người chứ không phải để được phục vụ hoặc hưởng thụ.
Thứ Năm Tuần Thánh ở Anh quốc
Tại Anh quốc, thói quen Quốc vương rửa chân cho người khác được thể hiện tới năm 1689. Lúc đó Hoàng đế hoặc Nữ hoàng rửa chân cho người nghèo vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh tại Tu viện Westminster. Tuy nhiên, nên lưu ý rằng các chủ tiệm giặt quần áo phải rửa chân cho người khác trước khi Quốc vương phải rửa và hôn chân họ. Thực phẩm và quần áo được trao tặng cho người nghèo.
Ngày nay, tại Anh quốc, Nữ hoàng theo truyền thống là “lì xì” tiền cho những người hưu trí, gọi là Maundy Money (tạm dịch “tiền lệnh”). Truyền thống “lì xì” tiền cho người nghèo có từ thế kỷ XIII, thời Vua Edward I.
Có một thời, những người nhận tiền phải cùng phái tính với Quốc vương, nhưng từ thế kỷ VIII, luật này không còn. Hằng năm, vào ngày này, Nữ hoàng tham dự Lễ Hoàng Gia (Royal Maundy service) tại một trong các đại giáo đường trong nước. “Tiền lệnh” được “lì xì” cho quý ông và quý bà hưu trí ở gần nhà thờ đó.
Phục vụ
Các vệ sĩ đựng “tiền lệnh” trong các ví da đỏ và trắng trên khay vàng để trên đầu. Tiền trong ví đỏ là tiền thay cho thực phẩm và quần áo, còn tiền trong ví trắng là tiền đồng bằng kim loại dùng để “lì xì”. Năm 2009, mỗi người nhận được trao 2 ví – ví đỏ có đồng 5 Bảng Anh, kỷ niệm lần thứ 500 ngày lên ngôi của Vua Henry VIII và đồng 50 xu để kỷ niệm ngày thành lập Vườn Kew, còn ví trắng có 83 xu vì Nữ hoàng được 83 tuổi.
Kỷ niệm Bữa Tiệc Ly
Nhiều Kitô hữu kỷ niệm Bữa Tiệc Ly là cử hành Thánh lễ chiều Thứ Năm Tuần Thánh. Tại nhiều nhà thờ có nghi thức rửa chân. Sau Thánh lễ, bàn thờ được bỏ khăn. Nhiều nơi tổ chức chầu Thánh Thể suốt đêm cho tới sáng, với ý thông phần đau khổ với Đức Kitô trong những giờ cuối đời của Ngài tại Vườn Dầu, trước khi Ngài bị xử tử vào Thứ Sáu Tuần Thánh.
Hãy cầm lấy tấm-bánh-cuộc-đời-mình, tạ ơn Chúa, bẻ ra và trao cho nhau, để thực hiện mệnh lệnh yêu thương của Thầy Chí Thánh Giêsu!
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Resources.Woodlands-Junior.kent.sch.uk)
Tuần Thánh – 2013

Nhạc ca ngợi Chúa

Nhân dịp mừng Chúa Phục Sinh, nhóm ChoQuan chia sẽ những bài hát ca ngợi Chúa dưới dạng Powerpoint có hình ảnh, có nhạc sẵn, tự động đổi slide trên powerpoint, 
rất tiện lợi sử dụng trong các buổi cầu nguyện, họp nhóm khi không có ca đoàn. Quí vị không biết  làm powerpoint hay video files hay không có thời gian thì đây là DVD sẽ giúp Quí vị. 
Quí vị có thể chọn một trong các bộ nhạc đã làm sẵn hoặc có thể chọn các bài hát mình muốn dạng powerpoint và cho vào máy computer chiếu lên qua projector,  DVD này để sử dụng với computer, không phải để cho vào máy DVD player xem.
Xin Quí vị download về sử dụng miễn phí. ấn vào nút: Tải về thiết bị của bạn




Gồm 13 phần (1.4 GB), các bạn phải download hết 13 phần xong rồi bấm chuột phải chọn Extract to Tên File.rar


Sau khi giải nén xong, mở flie tên : 000 menu.pptx  trong powerpoint, bấm F5 để xem. Lưu ý : Nên dùng Office 2007 mói mở được 
Bản đemo hiện giờ



26/3/13

Linh mục sống cho người nghèo (Thứ năm Thánh)

Đăng bởi lúc
VRNs (26.03.2013) – Đồng Nai – Người ta nói rằng: chim Yến là loài chim không thích cạnh tranh với muôn loài, nên đã chọn nơi thâm sơn cùng cốc, hải đảo xa xôi để xây tổ ấm. Chim yến luôn bay theo hướng mặt trời và không hề đậu lại để nghỉ ngơi. Chim Yến ăn những loài côn trùng sống và đang bay trong không gian. Chim Yến cũng không bao giờ uống nước sông suối ao hồ mà uống hơi sương của sáng sớm và chiều tà. Điều đặc biệt của chim Yến là chúng làm tổ bằng cách tiết nước bọt đặc biệt của mình- đôi khi trộn với cả máu, tạo thành sợi, kết làm tổ để chuẩn bị sẵn sàng cho những Yến con sắp ra đời. Với cách làm tổ bằng chất liệu từ ruột gan rút ra, phải có một tình yêu con mãnh liệt lắm, Yến mới không ngại hy sinh cho con sự sống.
Vâng, chim Yến đã rút ruột cho con. Chim Yến dùng mạng sống mình để bảo vệ, che chở và nuôi sống đàn con. Đây quả thực là một mẫu mực cho tình yêu. Một tình yêu không nói bằng lời nhưng diễn tả bằng hành động. Một tình yêu không so đo tính toán, không toan tính thiệt hơn nhưng chỉ biết yêu là yêu cho đến cùng. Đây quả thực là một tình yêu cao quý mà trong muôn loài mới có một loài dám chết cho người mình yêu, vì “không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu dám thí mạng mình vì người mình yêu”. Đây quả thực là một tình yêu cao thượng cho đi mà không lấy lại, trao ban mà không bao giờ mong đền đáp.
Hôm nay, thứ Năm Tuần Thánh, chúng ta lại được chiêm ngắm một tình yêu cao sâu như thế nhưng được thể hiện nơi con người là Đức Giê-su thành Nagiaret. Một tình yêu sáng tạo đến mức độ tận hiến chính thân mình làm của ăn của uống cho người mình yêu. Một tình yêu rút ruột để làm nên bí tích nhiệm màu là Thánh Thể yêu thương. Một tình yêu không nói bằng lời mà bằng chính hành vi trao ban máu thịt mình nên của ăn nuôi dưỡng đàn chiên.
Chúa Giê-su khi lập bí tích Thánh Thể, Ngài đã làm cử chỉ thật cảm động khi quỳ gối rửa chân cho các môn đệ. Điều này như muốn nói Thánh Thể là đỉnh cao của tận hiến hy sinh, của phục vụ quên mình. Việc rửa chân là nhịp cầu không thể thiếu để dẫn tới việc cử hành Thánh Thể. Trước khi cử hành Thánh Thể cần phải thể hiện tinh thân phục vụ hy sinh qua hành vi khiêm tốn như một người tôi tớ phục vụ chủ mình. Vì Thánh Thể là tình yêu tự hiến quên mình cũng cần được thể hiện cụ thể rõ nét trong đời sống đời thường khi hết mình phục vụ tha nhân. Cũng vậy, việc sống đạo, giữ đạo không chỉ dừng lại ở nhà thờ quanh bàn tiệc thánh mà còn phải thể hiện qua việc dấn thân xây dựng xã hội công bằng, bác ái, hiệp nhất, yêu thương.
Khi ĐHY Jorge Mario Bergoglio được bầu chọn làm giáo hoàng, Ngài đã lấy tên gọi là Phanxicô . Chúng ta biết thánh Phanxicô Assisi của thế kỷ 13 là một con người sống cho người nghèo và dấn thân vì người nghèo. Thánh nhân đã muốn “xây dựng lại Giáo Hội Công Giáo với những viên đã sống động là những người nghèo”. Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô  cũng đã từng sống như vậy và với những gì Ngài đã thể hiện, có lẽ Ngài sẽ tiếp tục dấn thân cho người nghèo trong cương vị chủ chăn hoàn vũ. Ngài cũng đã từng  “sống trong một căn nhà nhỏ, chứ không phải tại nơi cư trú nguy nga của giám mục. 
Dù là Hồng Y, ngài thường sử dụng các phương tiện giao thông công cộng, và tự mình nấu ăn cho mình.”
Hôm nay, cũng là ngày cầu cho các linh mục, chúng ta cầu xin Chúa cho Giáo hội có nhiều linh mục như lòng Chúa mong ước. Cầu xin Chúa cho có nhiều linh mục biết đến để phục vụ chứ không để người khác phục vụ. Cầu xin Chúa cho có nhiều linh mục sống cho người nghèo và vì người nghèo chứ không sống trong nhung lụa mà gạt bỏ người nghèo. Cầu xin Chúa cho có nhiều linh mục biết cử hành việc phục vụ Chúa nơi các đền thờ tâm hồn con người chứ không dừng lại nơi bàn thờ hiến lễ trong nhà thờ. Cầu xin cho có nhiều linh mục biết cúi mình phục vụ chứ không cao ngạo kiêu căng. Chớ gì các linh mục luôn là hiện thân của tình mục tử sẵn sàng hiến thân vì đàn chiên.
Nguyện xin Chúa là Đấng đã cúi mình phục vụ xin giúp chúng con biết sống khiêm tốn để phục vụ nhau. Amen
Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

22/3/13

ĐỨC TIN VÀ SỰ CHỮA LÀNH

ĐỨC TIN VÀ SỰ CHỮA LÀNH

Lời chia sẻ của Lm. Fio Mascarenhas S.J.

Tôi xin bắt đầu chia sẻ về một câu chuyện chữa lành rất đáng ghi nhớ mà tôi là một nhân chứng tại Bombay vào năm 1978. Thành phố này có một hệ thống xe điện tốc hành, mỗi ngày chuyên chở trên năm triệu người từ các vùng ngoại ô vào khu thương mại thành phố, và họ trở về mỗi buổi chiều. Một hôm vào giờ đông người (6 giờ chiều), đã xảy ra một tai nạn. Một chiếc xe điện đang ngừng để chờ đèn xanh, đã bị một xe điện khác đâm mạnh vào phía sau vì bị đức thắng. Cả hai xe đều bị bẹp dúm lại.


Ở Bombay thường dành cho phụ nữ toa xe cuối cùng, và đó là toa bị đụng mạnh nhất. Trên thực tế tất cả những ai ở trong toa xe đó đều bị chết. Nhưng có sự ngoại lệ cho Pauline, một cô giáo Công Giáo từ trường học trở về nhà sau một ngày làm việc. Từ sáu giờ chiều cho mãi đến hai giờ sáng đoàn cứu hỏa mới giải quyết được vấn nạn, họ dùng mỏ hàn xì bằng khí đốt để cắt rời các mảnh sắt và đưa được Pauline ra ngoài, trong khi cô nghe tiếng rên la của những người khác sắp chết. Cô bị thương nặng, được đưa vào nhà thương điều trị nhiều tuần lễ. Xương sống cô bị hư vĩnh viễn, và cô chỉ có thể bước đi với một dụng cụ trợ lực đặc biệt và phải dùng một chiếc giầy có đế cao 6 phân Anh (một chân co lại ngắn hơn chân kia). Ngoài ra, vì bị chấn thương nặng nên cô thường bị đau đớn bởi những cơn ác mộng và ban eđem không ngủ được. Cô cần được chữa lành cả hai phương diện: nội tâm và thể xác.


Một hôm vào tháng Mười năm 1978, trong thời gian Đại Hội Canh Tân Đặc Sủng Công Giáo Toàn Quốc của chúng tôi tại Ấn Độ, cô đã được chữa lành hoàn toàn! Trên hai chục ngàn người hiện diện khi sự kiện này xảy ra. Thật là lạ lùng, trong buổi sáng ngày hôm đó, trước khi rời nhà để được đua đến tham dự buổi cầu nguyện chữa lành trong Đại Hội, Pauline đã cảm thấy cần phải lua chùi sạch sẽ đôi giầy trước đây cô thường đi hằng ngày nhưng đã không dùng cả mấy tháng nay. Mẹ cô ngạc nhiên, hỏi: “Tại sao con làm vậy?” Cô trả lời: “Má, hôm nay con sẽ đi về nhà bằng đôi giầy này.” Chúa Thánh Linh đã ban cho cô một đức tin dời non chuyển núi!

Trong buổi cầu nguyện chữa lành, chúng tôi kêu cô lên khán đài để được đặt tay cầu nguyện, vì cô được nhiều người biết là một nạn nhân sống sát trong vụ tai nạn xe điện khủng khiếp. Toán cầu nguyện của chúng tôi, gồm có một Giám Mục Ấn Độ, tôi, và một số khách trong Ban Giảng Huấn đến từ Hoa Kỳ, cùng đạt tay cầu nguyện cho cô. Cô té xuống sàn nhà và bắt đầu nghỉ ngơi trong Chúa Thánh Linh. Khoảng mười phút sau, cô đứng dậy, bỏ nạng và tháo bỏ chiếc giầy đặc biệt, rồi lôi từ trong bịch ra đôi giầy cô đã lau chùi sạch sẽ sáng nay và xỏ vào chân rồi bước xuống khỏi khán đài hoàn toàn được chữa lành! Cả hai chân cô lại được dài bằng nhau!

Sau đó tôi hỏi cô: “Chuyện gì đã xảy ra khi con nằm xuống khán đài? Con có cảm thấy gì không?” Cô trả lời: “Con đã nhìn thấy Chúa Giêsu và Mẹ Maria đến với con và đặt tay trên con. Và Chúa Giêsu nói với con: ‘Hãy đứng dậy, con đã được khỏi’.” Cô không còn bị những cơn ác mộng ám ảnh nữa, mới đây (18 năm sau khi được chữa lành) cô nói với tôi rằng, xương sống cô cũng không còn bị trở ngại nữa. Những việc lạ lùng của Chúa thật là vĩ đại, ngay cả ngày nay!

Khi cầu nguyện chữa lành cùng với người khác, dù có hay không có đặc sủng chữa lành, chúng ta vẫn có thể thực hiện được. Cầu nguyện với tấm lòng đơn sơ chân thành, vẫn có thể có hiệu quả. Chúa Giêsu đã nói: Nếu hai người trong các ngươi họp lại kêu xin điều gì, thì Cha Ta trên trời sẽ ban cho các ngươi họp lại kêu xin điều ấy, thì Cha Ta trên trời sẽ ban cho các ngươi.” (Mt 18:19). Trong các chuyến du hành của tôi đến nhiều quốc gia, tôi đã chứng kiến rằng, những cộng đoàn nào người ta thật sự đồng tâm nhất trí với nhau thì trong lúc cầu nguyện chữa lành nhiều bệnh nhân được khỏi, nhưng ở nơi nào cộng đoàn không vững mạnh, thì rất ít trường hợp được chữa lành xảy ra. Như vậy, không chỉ có sự liên hệ giữa sự chữa lành và đức tin mà thôi, nhưng còn có sự liên hệ giữa sự chữa lành với lòng mến yêu, và lòng mến yêu ở trong một nhóm cầu nguyện hoặc một cộng đoàn tín hữu.
 Nguồn Thanhlinh
**********************************

21/3/13

Đức Khiết Tịnh

Đức khiết tịnh
Hình Minh họa
Khiết tịnh hoặc trinh tiết liên quan hành vi tình dục của nam giới hoặc nữ giới được chấp thuận theo tiêu chuẩn luân lý và văn hóa, văn minh hoặc tôn giáo. Trong thế giới Tây phương, giới hạn này được kết hợp (và thường được dùng hoán đổi nhau) với sự kiêng cữ tình dục, nhất là trước hôn nhân. Tuy nhiên, giới hạn này vẫn phù hợp với mọi người ở các quốc gia, độc thân hoặc kết hôn, giáo sĩ hoặc giáo dân, và có liên quan vượt ngoài sự chừng mực về giới tính.
Trong Do Thái giáo, Kitô giáo, Hồi giáo, và Bahai giáo (Baha'i), các hành vi tình dục đều được giới hạn trong hôn nhân. Với những người chưa kết hôn, khiết tịnh được đồng hóa với sự tiết chế tính dục. Các hành vi tình dục ngoài hôn nhân, như ngoại tình, gian dâm (thông dâm) và mại dâm, đều là tội lỗi.
Theo truyền thống Kitô giáo, khiết tịnh đồng nghĩa với sự thuần khiết về giới tính. Khiết tịnh nghĩa là không có mối quan hệ tình dục nào trước hôn nhân. Điều này cũng có nghĩa là sống chung thủy với chồng hoặc vợ trong hôn nhân. Theo luân lý Công giáo, khiết tịnh được đặt đối nghịch với tội dâm dục, và được coi là một trong bảy nhân đức (*). Kiềm chế ham muốn tình dục được coi là nhân đức. Lý do là ý và ham muốn có thể kết hợp hài hòa với nhau để làm điều tốt.
Quan điểm của Ấn giáo (Hinduism) về tình dục trước hôn nhân có nguồn gốc từ khái niệm về các giai đoạn của cuộc đời. Giai đoạn thứ nhất gọi là Brahmacharya, nghĩa là trinh khiết. Sự độc thân được coi là động thái thích hợp cho cả nam và nữ trong giai đoạn này, giai đoạn tiền hôn nhân. Nhiều tu sĩ Ấn giáo (Sadhus) cũng sống độc thân theo luật nghiêm ngặt. Theo Ấn giáo, việc giao cấu được coi là hành vi thánh của sự sinh sản trong hôn nhân.
Mặc dù các tín đồ Do Thái giáo theo hệ phái Digambara đều sống độc thân, nhưng đa số những người theo đạo Giana (Jains) đều thuộc về hệ phái Shvetambara, được phép kết hôn và sinh con. Đạo đức của đạo Giana đòi hỏi người ta không được làm hại các sinh vật từ trong tư tưởng, lời nói hoặc hành động. Ngoại tình là vi phạm thỏa hiệp luân lý với người phối ngẫu, do đó mà bị cấm, còn gian dâm cũng bị coi là vi phạm tình trạng trinh khiết.
Các giáo huấn của Phật bao gồm Noble Eightfold Path (tạm dịch: Bát Quý Đạo), gồm sự phân chia gọi là “hành động đúng”. Theo Ngũ Huấn (Five Precepts) về đạo đức, các thiện nam tín nữ theo Upāsaka và Upāsikā nên tránh phạm tội về tính dục, còn các tu viện theo Bhikkhu và Bhikkhuni phải giữ khiết tịnh nghiêm ngặt.
Ngũ Huấn của Lão giáo (Taoism hoặc Daoism) bao gồm luật cấm hành vi tính dục, được hiểu là cấm tình dục ngoài hôn nhân đối với các tín đồ, và cấm tình dục đối với các tu sĩ.
Chân phước Mẹ Teresa Calcutta nói rằng tặng phẩm quý giá nhất mà bạn có thể trao cho người phối ngẫu trong ngày cưới là sự trinh tiết. Hãy suy nghĩ về điều đó. Bạn không thể là người duy nhất trên thế giới này có thể trao tặng món quà đó sao? Món quà như thế rất đặc biệt, quý giá hơn cả vàng bạc, thế nên bạn muốn nâng niu nó và bảo vệ nó bằng mọi cách. Bạn chỉ có thể trao món quà này một lần mà thôi, vì thế mà người chồng hoặc người vợ tương lai của bạn chắc chắn là người duy nhất trên thế giới xứng đáng nhận món quà đó một cách trọn vẹn là chính con người của bạn – cả tâm hồn và thể xác.
Nếu các bạn trẻ có quyết định này sớm để giữ trinh tiết cho tới khi kết hôn, họ không phải đối mặt với nỗi giằng co. Họ biết mục đích của mình và sẽ vui lòng làm mọi cách để đạt được ước muốn tốt lành. Họ sẽ cẩn trọng ở mọi nơi và mọi lúc. Họ sẽ đề phòng những chước cám dỗ, mọi tình huống khó khăn, và chuẩn bị tốt để tránh né. Họ sẽ thoải mái trưởng thành và tìm kiếm kế hoạch mầu nhiệm của Thiên Chúa dành cho cuộc đời họ. Họ sẽ không lo lắng về chuyện có kinh nguyệt “trễ”, mang thai, phá thai, ngừa thai, bệnh hoa liễu, bệnh AIDS, và các hậu quả khác về thể lý, tâm lý, tình cảm và tâm linh đối với việc “ăn cơm trước kẻng”. Họ thực sự tự trọng và tôn trọng người yêu, họ tin rằng họ sống theo cách làm đẹp lòng Thiên Chúa. Họ sẽ bảo vệ và tự cứu mình vì người mà Thiên Chúa đã chọn làm người bạn đời nếu hôn nhân là ơn gọi của họ.
Các bạn trẻ nghĩ gì về những điều như vậy? Họ có bao giờ nghe nói tới “trinh tiết”, “khiết tịnh”, “trong sạch”, “thùy mị” hoặc “tự chủ”? Phải chăng các từ ngữ này nghe y như là “ngoại ngữ” vì chẳng có ai sử dụng? Món quà quý giá này là trao tẳng cả con người mình không đáng để giữ riêng cho người phối ngẫu chăng? Thiên Chúa muốn như vậy. Ngài nói với chúng ta rằng đây là điều mà Ngài muốn ở chúng ta vì Ngài yêu thương chúng ta. Và Ngài trao ban cho chúng ta mọi ân sủng cần thiết để chúng ta có thể đạt được đức khiết tịnh.
Điều này rất quan trọng đối với các cha mẹ, trường học và nhà thờ, phải dạy các điều chân thật một cách rõ ràng và động viên lẫn nhau. Nếu không, các bạn trẻ sẽ chẳng bao giờ nghe được những điều này hoặc biết chân lý của Thiên Chúa, vì những điều đó không hề có trên radio, ti-vi, phim ảnh, âm nhạc, mà thế giới cũng không yêu thương hoặc quan tâm chăm sóc trẻ em. Thế nên nhiều bạn trẻ không còn trinh tiết và cũng chẳng tự trọng, vì họ tin rằng nói dối là điều tất nhiên của thế gian. Chúng ta phải cho họ niềm hy vọng và sự tự do của “sự trinh tiết thứ hai”. Họ có thể xin Thiên Chúa tha thứ và được tha thứ. Họ có thể “tái khởi đầu” và thề hứa giữ đức khiết tịnh cho tới lúc kết hôn. Họ cần có cơ hội và sự động viên để bắt đầu lại và thay đổi nhờ Hồng ân của Thiên Chúa.
Nếu chúng ta nhận thấy hôn nhân và tình nghĩa phu thê là phần thánh thiện trong kế hoạch của Thiên Chúa, chúng ta có thể hiểu được tầm quan trọng của đức khiết tịnh. Sự khiết tịnh bảo vệ người ta, củng cố người ta, xây dựng tính cách của người ta, động viên người ta kiềm chế, truyền cảm hứng để người ta tôn trọng, bảo đảm sự tự do, chống lại tính ích kỷ, và thích hợp với mọi người. Không dễ giữ đức khiết tịnh, nhưng có thể giữ được nhờ ơn Chúa. Đức khiết tịnh tái củng cố hôn nhân và làm cho mối quan hệ phu thê tốt đẹp, đặc biệt và thánh thiện. Tính thánh thiện của việc hợp tác với Thiên Chúa trong công cuộc sáng tạo của Ngài là tạo những sinh linh mới, đó là tặng phẩm quý giá chỉ nên chia sẻ trong sự an toàn của mối quan hệ yêu thương, đại lượng và thề hứa. Đó là cách của Chúa, và điều đó xứng đáng chờ đợi, bởi vì tặng phẩm hoàn hảo của tình yêu thuần khiết mà cô dâu và chú rể trao cho nhau trong ngày cưới thực sự là món quà quý giá vô cùng.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ ChastityCall.org)
Tuần Thánh – 2013
_______________________________
(*) Theo Giáo lý Công giáo, bảy nhân đức liên quan việc kết hợp của 4 nhân đức chính (thận trọng, công bình, kiềm chế, và can đảm) và 3 nhân đức đối thần (tin, cậy, mến). Các nhân đức này được các Giáo phụ gọi là bảy nhân đức. Sau đó một danh sách khác được phát triển, đôi khi gọi là “bảy thiên đức” (seven heavenly virtues), được đề nghị bởi một thủ lĩnh Kitô giáo tên là Aurelius Prudentius (mất khoảng năm 410 sau công nguyên) trong bài thơ “Psychomachia” (Cuộc Chiến Của Linh Hồn) do ông sáng tác. Bài thơ này có ghi bảy nhân đức đối lập với bảy tội trọng. Các nhân đức đó là Khiết tịnh, Tiết chế, Bác ái, Chuyên cần, Kiên nhẫn, Tử tế, và Khiêm nhường.

ĐGH Phanxicô sẽ dâng thánh lễ Thứ Năm Tuần Thánh và rửa chân cho các tù nhân trẻ

ĐGH Phanxicô sẽ dâng thánh lễ Thứ Năm Tuần Thánh và rửa chân cho các tù nhân trẻ
Lm. Paul Phạm Văn Tuấn3/21/2013

ĐGH Phanxicô sẽ cử hành Thánh Lễ Thứ Năm Tuần Thánh trong nhà tù giam giữ thanh thiếu niên "Casal del Marmo" tại Rôma. Tin này đã được Tòa Thánh Vatican công bố vào thứ năm hôm nay.
Đức Giáo Hoàng Phanxicô muốn đến thăm nhà tù giam giữ thanh thiếu niên vào chiều thứ năm, 28.03.2013. Trong nhà tù "Casal del Marmo" ĐGH sẽ cử hành Thánh Lễ Tiệc Ly lúc 17g30 và rửa chân cho 12 tù nhân trẻ tuổi từ 16 đến 23, để tưởng niệm việc Chúa Giêsu cử hành Bữa Tiệc Ly với 12 môn đệ của Ngài và thực hành giới răn tình yêu của Chúa. 
Duc Hồng y Phanxico rửa chân cho các bệnh nhân khi Ngài còn là Hồng y


Đối với Đức Giáo Hoàng Phanxicô, từ khi còn là TGM của Buenos Aires Ngài vẫn dành ngày Thứ Năm Tuần Thánh đến với người nghèo hoặc tù nhân: khi thì ở nhà thương, nhà dưỡng lão, lúc thì đến nhà tù hoặc đến với khu ổ chuột. Một lần Ngài đã rửa chân cho các trẻ em bệnh Aids và kính cẩn cúi xuống hôn chân của các em. Theo yêu cầu của ĐGH thì thánh lễ tại "Casal del Marmo" được cử hành trong một "khuôn khổ đơn giản". Vào tháng 3 năm 2007, khi còn tại vị ĐGH Bênêđictô XVI đã đến thăm nhà tù "Casal del Marmo" và đã dâng thánh lễ cho các tù nhân trẻ. Trước đó ĐGH Gioan Phaolô II đã đến đây thăm tù nhân vào ngày 06.01.1980.

Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh, Đức Hồng Y Agostino Casaroli (1914-1998) đã thường xuyên đến thăm nhà tù "Casal del Marmo" trong 30 năm liền để phục vụ như một linh mục tuyên úy cho tù nhân. Ngay cả sau khi nghỉ hưu vào năm 1990 ĐHY Casaroli vẫn chăm sóc các thanh thiếu niên phạm tội - nhiều người trong số họ là những người trẻ nhập cư. Những tù nhân trẻ thương yêu gọi ngài một cách rất thân mật là "Cha Agostino".

Trong nhà tù "Casal del Marmo" hiện nay đang giam giữ thanh thiếu niên nam và nữ trong độ tuổi từ 16 đến 23. Đức Giáo Hoàng Phanxicô thăm nhà tù vào Thứ Năm Tuần Thánh để tiếp tục truyền thống "sống với người nghèo và tù nhân" của riêng mình, nghĩa là Ngài thực hành Lời Chúa trong sự "đơn sơ và khiêm nhường".

Hoa Mai Yêu Thương




     Ngày xửa ngày xưa, có một cô bé 5 tuổi rất giàu lòng yêu thương. Cô yêu bố mẹ mình, chị mình đã đành, cô còn yêu cả bà con quanh xóm, yêu cả ba ông Táo bằng đá đêm ngày chịu khói lửa để nấu cơm, hầm ngô, nướng thịt cho mọi người ăn. Một lần, thương ba ông Táo, trời đã nóng lại chịu lửa suốt ngày đêm, cô bé ấy đã lấy một gáo nước to dội lên đầu ba ông. Tro khói bốc lên mù mịt, ông Táo già nhất vụt hiện ra nói:

– Cháu thương ta nhưng chưa hiểu ta. Lửa càng nóng, ta càng vui. Cháu mà dội nước thì có ngày ta bị cảm mất.

     Từ đấy, cô bé không dội nước lên đầu ba ông Táo nữa. Nhưng ông Táo già thì thỉnh thoảng lại hiện lên trò chuyện với hai chị em cô bé. Một hôm, vì thương ông, cô em hỏi:

– Ông thích lửa thôi à? Ông còn thích gì nữa không?

– Có chứ! Năm sắp hết, ông phải về trời! Cháu bắt cho ông con cá chép ông cưỡi về Trời thì ông thích nhất. Cô bé liền rủ chị đi bắt cho bằng được một con cá chép về. Cô bỏ ngay vào bếp lửa rồi nói:

– Ông Táo ơi! Chúng cháu biếu ông con cá chép này đây!

Con cá chép vụt biến mất. Tối 23 Tết, quả nhiên hai chị em thấy ông Táo hiện ra, sau đó cưỡi con cá chép bay ra khỏi nhà và bay cao lên trời...

Bố cô bé là một người đi săn thú rất tài giỏi. Ông thường chỉ thích đi săn thú dữ. Ông bảo:

– Còn ác thú thì tôi còn đi săn cho kỳ hết!

     Ông không muốn truyền nghề cho con mình, vì cả hai đều là gái. Nhưng cô em lại rất thích nghề của cha. Mới 5 tuổi mà cô đã xin cha dạy cho mình đủ cả côn quyền và đao kiếm. Cô tuy nhỏ người nhưng nhanh nhẹn vô cùng, người cha còn phải kinh ngạc về sức mạnh của đôi tay cô. Lúc 9 tuổi, cô hăm hở xin theo cha đi săn thú. Người mẹ và người chị lo lắng, nhưng cô bé thưa ngay:

– Con không giết được con mồi bằng một nhát như cha thì con đâm ba nhát, năm nhát, mẹ và chị cứ yên tâm.

     Nói sao làm vậy, cô bé lần đầu theo cha đi săn đã giết ngay được một con lợn lòi rất hung dữ. Trong vùng bỗng xuất hiện một quái vật đầu người mình báo. Bà con ai cũng lo lắng, khiếp sợ. Quái vật này chỉ thích ăn thịt người, nhất là thịt trẻ con. Người cha liền dẫn cô gái nhỏ đi tìm quái vật để giết. Người mẹ và chị can ngăn nhưng không được. Người cha bảo:

– Tôi chỉ cho nó đi theo để xem, còn diệt quái vật là việc của tôi, hai mẹ con đừng lo.

     Hai cha con đi được mấy ngày thì có tin quái vật đã bị người cha giết chết thật. Bữa hai cha con trở về, bà con trong vùng mang rượu, gà và vịt đến làm cỗ ăn mừng. Cô gái nhỏ không quên đặt vào bếp lửa một con cá chép và khấn với ông Táo già:

– Chúng cháu xin gửi biếu ông con chép để thỉnh thoảng ông cưỡi đi chơi.

Ông Táo già lại hiện lên cám ơn cô bé và hỏi:

– Cháu thấy quái vật có sợ không?

– Cháu chỉ thích được cha cháu cho cháu được cùng đánh với nó, nhưng cha cháu không chịu.

     Sau đó, người cha bỗng bị ốm nặng. Người mẹ và hai cô gái hết lòng chăm sóc, bệnh người cha có đỡ nhưng sức khỏe thì không còn được như trước nữa. Vài năm sau, ở vùng trong xa, bỗng xuất hiện một quái vật khác đầu người nhưng mình rắn. Quái vật này có sức khỏe ghê gớm. Nó có thể quấn chết một con bò mộng chỉ trong chớp mắt. Nó cũng thích ăn thịt trẻ con và có thể ăn một lúc mấy đứa. Bà con vùng đó liền cử người ra mời cha con người đã giết quái vật đầu người mình rắn giúp bà con. Người cha nhìn cô gái nhỏ của mình hỏi:

– Liệu con có nhận lời đi giúp bà con được không?

Cô gái nhỏ liền đáp:

– Con xin cha mẹ và chị để cho con đi!

Người cha nói:

– Cha sẽ cùng đi với con, nhưng cha chỉ giúp con thôi. Lần này chính con phải lo diệt quái vật đấy. Người mẹ và chị càng lo lắng gấp bội.

– Ông ơi! Đường từ đây vào đó xa xôi cách trở. Quái vật dữ ác mà con bé thì mới 14 tuổi. Tôi sợ lắm!

– Cha ơi! Cha và em nhận lời, rủi có chuyện gì thì mẹ và con làm sao sống nổi?

Cô gái nhỏ liền thưa:

– Mẹ và chị à, con tuy còn nhỏ nhưng con có đủ sức để diệt quái vật. Bà con đã nhờ lẽ nào mình lại từ chối. Mẹ và chị cứ yên lòng. Cha và con diệt xong quái vật sẽ trở về ngay.

     Thấy không can ngăn được, người mẹ và chị đành lo chuẩn bị mọi thứ cho hai cha con lên đường. Trước đó người mẹ đã may áo mới cho hai con ăn Tết, bây giờ bà liền hỏi cô gái nhỏ:

– Con muốn mẹ nhuộm áo cho con màu gì?

Cô bé nhìn ra ngoài đồi núi rồi đáp:

– Con rất thích màu vàng!

     Người mẹ liền giã nghệ nhuộm cho con một màu vàng thật tươi. Ngày lên đường, cô bé mặc chiếc áo vàng, nhìn càng khỏe, càng đẹp. Cô nói với mẹ và chị:

– Diệt xong quái vật, lúc về con sẽ mặc áo này cho mẹ và chị nhận ra được con ngay từ xa.

Trước khi đi cô gái cũng không quên khấn chào ông Táo và hứa:

– Cháu sẽ trở về kể chuyện diệt quái cho ông nghe.

Ông Táo liền hiện ra nói:

– Chúc hai cha con mau trừ được quái vật. Ông sẽ chờ ngày trở về.

     Hai cha con đi ròng rã hơn một tháng trời mới vào đến nơi có quái vật đầu người mình rắn. Nghỉ ngơi được dăm ba ngày, hai cha con liền đi tìm quái vật để diệt. Hai cha con đánh nhau với nó hai ngày liền mà không diệt nổi. Sức của người cha cứ yếu dần. Cô bé liền thưa với cha:

– Cha ơi! Ngày mai cha cứ để cho con bám sát nó. Con sẽ lấy dao găm đâm đuôi nó dính vào thân cây này, đâm một con dao cắm chặt mình nó vào thân cây khác. Nó không quăng mình đi được thì ta sẽ lựa thế mà chặt đầu nó đi. Người cha biết cách đánh đó hay nhưng rất nguy hiểm. Tin vào tài nghệ của con, ông gật đầu:

– Được! Nhưng con phải đề phòng cẩn thận nếu nó dứt được đuôi ra.

– Cha cứ yên tâm.

     Ngày hôm sau, theo cách đánh ấy, hai cha con quả đã diệt được quái vật. Nhưng trước khi chết nó đã quẫy mạnh một cái, dứt được cái đuôi ra khỏi mũi dao. Sau đó nó liền cuốn ngay lấy người cô bé. Cô bé vừa chặt được cái đầu nó thì cũng bị nó quấn gẫy cả xương mềm nhũn người. Thấy con gái yêu của mình chết, người cha buông rơi thanh kiếm, chạy đến đỡ lấy xác con. Bà con trong vùng cũng vừa chạy đến. Họ đem xác cô gái về chôn cất rồi lập đền thờ. Nhưng cô gái đâu chịu “nằm yên” như vậy. Vì cô biết cha mẹ và chị mình cùng bà con vùng trong, vùng ngoài đều yêu quý mình, mà cô cũng yêu quý và muốn sống với họ. Cô xin Thổ thần (thần Đất) giúp cô biến thành một con chim lông vàng rực rỡ, một con chim chưa ai thấy bao giờ, rồi bay về quê nhà xin gặp ông Táo:

– Ông ơi! Cháu bị quái vật quấn chết. Nhưng cháu mà chết thì cha mẹ và chị cháu làm sao sống nổi! Vậy đêm nay, hăm ba tháng Chạp, ông có về Trời thì ông hãy tâu với Trời cho cháu sống lại.

Ông Táo liền hứa:

– Được, ông sẽ tâu giúp cho cháu.

     Con chim lông vàng rực rỡ liền bay xuống chỗ mẹ và chị đang ngồi, kêu lên mấy tiếng rồi bay đi. Cũng vừa lúc đó người mẹ và chị biết tin là cô gái nhỏ đã không còn nữa. Bà mẹ ngã ra chết ngất bên bếp lửa. Ông Táo liền đưa hai bàn tay ấm nóng áp vào trán cho bà tỉnh lại và nói ngay:

– Bà cứ yên tâm. Đêm nay về Trời, tôi sẽ xin Trời cho cháu sống lại.

Hai mẹ con nghe nói thì mừng quá, liền sụp xuống lạy tạ. Ông Táo đi tối hăm ba thì tối hăm tám ông trở về hạ giới. Ông nói với hai mẹ con:

– Trời rất thương cô bé nhưng cháu chết đã quá ngày, xin sống lại quá chậm. Vì vậy Trời chỉ có thể cứu cho cháu mỗi năm sống lại được 9 ngày.

Hai mẹ con nghe nói buồn lắm nhưng cũng lại mừng. Thôi thì cứ được trông thấy con, thấy em trong giây lát cũng đã đỡ khổ rồi, huống chi lại được thấy trong 9 ngày. Bà mẹ liền hỏi:

– Ông ơi! Bao giờ thì cháu sống lại được?

– Tùy hai mẹ con, cứ cầu Trời sống từ ngày nào, Trời sẽ cho ngày ấy.

– Vậy nhờ ông xin cho cháu sống lại ngay đêm nay!

– Đêm nay thì chưa được, sớm nhất là phải từ đêm mai!

– Vâng, ông xin cho cháu sống lại từ đêm mai vậy!

     Hai mẹ con suốt đêm hôm ấy cứ thức mãi. Cả ngày hôm sau, hai mẹ con đều chẳng muốn làm gì. Chỉ mong cho trời chóng tối. Rồi trời cũng tối. Hai mẹ con hồi hộp đợi, không biết con mình, em mình sẽ sống lại trở về như thế nào. Định khấn gọi ông Táo thì bỗng nghe ngoài cổng có tiếng gọi:

– Mẹ ơi! Chị ơi!

     Hai mẹ con vụt chạy ra và thấy đúng là cô gái nhỏ đã trở về trong chiếc áo vàng vẫn sáng lên, nhìn rất rõ. Ba mẹ con ôm nhau khóc như mưa. Ngày hôm sau, người cha cũng từ vùng xa trở về. Dọc đường, ông thương vợ con nhưng chưa biết sẽ nói gì cho vợ con ở nhà đỡ khổ. Không ngờ khi về đến nhà đã thấy cô gái nhỏ đang nằm ngủ bên cạnh mẹ và chị. Ông dụi mắt tưởng là con bé nhà ai đến chơi. Khi biết cô gái nhỏ đã được sống lại, trở về ông liền ôm chầm lấy con và cứ để cho nước mắt chảy dài trên má.

     Cô gái nhỏ ăn Tết với cha mẹ và chị đúng 9 ngày. Trong những ngày đó, cô gái nhỏ dành làm hết mọi công việc để giúp cha mẹ và chị. Nhưng cả nhà lại không muốn cô gái làm việc gì. Trong 9 ngày, họ sống bù cho cả một năm sắp phải xa nhau. Đến đêm thứ 9, khi trời vừa tối, cô bé vừa kịp ôm lấy cha mẹ và chị để chào ra đi thì người cô bỗng cứ mờ dần như sương khói rồi biến mất. Cả nhà buồn rầu, thương nhớ cô gái nhỏ vô cùng. Nhưng nghĩ đến Tết năm sau, cô sẽ về, mọi người lại an ủi nhau, lại kiên nhẫn chờ đợi.

     Và năm sau, cũng vào chiều 29 tháng Chạp, cô gái nhỏ áo vàng lại trở về ăn Tết với gia đình rồi đến tối mồng 7 Tết lại ra đi. Năm nào cũng thế. Nghe chuyện lạ, người vùng trong liền cử người ra mời cả gia đình vào sinh sống trong đó để bà con được trả ơn và gặp lại cô gái nhỏ đã giúp bà con diệt được con quái vật đầu người mình rắn. Thấy sức người cha đã suy yếu, cả nhà bàn với nhau và nhận lời. Từ đó, cứ vào ngày 29 tháng Chạp hàng năm, cô gái nhỏ áo vàng lại trở về sống đủ 9 ngày Xuân với cha mẹ, với chị và bà con trong vùng.

     Khi cha mẹ và chị đều mất cả, cô gái không về nữa. Cô hóa thành một cây hoa ngay ở ngôi đền bà con đã dựng lên để thờ cô. Cây ấy hầu như cả năm chỉ có lá, nhưng cứ vào khoảng gần Tết, hoa lại nở đầy. Hoa màu vàng tươi như màu áo của cô gái nhỏ ngày trước.

     Hoa vui Tết với bà con khoảng chục ngày rồi rụng xuống đất, biến mất để năm sau lại trở về. Cây hoa ấy ngày nay người ta gọi là cây Mai Vàng. Ngày Tết ở miền Trung và miền Nam, bà con thường mua một cành mai vàng về cắm trên bàn thờ ông bà. Họ tin rằng, có cành mai vàng vừa đẹp nhà vừa vui Tết, lại vừa có thể xua đuổi được hết các loài ma quái trong suốt cả năm.

Lời bàn:

     Sự tích hoa Mai chỉ là một truyền thuyết, nhưng trong đó chứa đựng bài học yêu thương mà chúng ta phải ghi nhớ. Bài học đó dạy chúng ta không chỉ yêu thương đồng loại mà còn phải yêu thương cả các loài động vật và thực vật, đó là chúng ta phải biết bảo vệ thiên nhiên và môi trường sống.

     Cô gái bé nhỏ, nhỏ cả về tuổi và về vóc dáng, nhưng cô bé lại có lòng yêu thương rộng lớn. Cô bé đã sống để yêu thương, và chết cũng vì yêu thương. Người nào có lòng yêu thương thì luôn là con người vĩ đại.

     Đạo Công giáo mệnh danh là Đạo Yêu thương, vì là Đạo của Thiên Chúa Tình Yêu (x. 1 Ga 4:8 & 16). Hai tiếng “yêu thương” là bản tóm lược của Mười Điều Răn. Cả cuộc đời Chúa Giêsu, khởi đầu từ lúc giáng sinh nghèo hèn nơi hang Belem tới lúc chết nhục nhã trên Thập giá tại đồi Can-vê, là “Tấm Thảm Yêu Thương” được dệt bằng Đức Vâng Lời, Lòng Khiêm Hạ và Lòng Thương Xót:

– Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha (Mt 26:42).

– Nếu Thầy là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau (Ga 13:14).

– Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người (Lc 1:50).

     Đức Giêsu xác định rạch ròi: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13:34). Luật Yêu Thương đó được Ngài gọi là “Điều Răn Mới” (Tân ước), vì luật cũ (Cựu ước) là Luật-Báo-Phục-Tương-Xứng:

– Nếu có gây tổn thương, thì ngươi phải lấy mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, vết bỏng đền vết bỏng, vết thương đền vết thương, vết bầm đền vết bầm (Xh 21:23-25).

– Nếu ai làm cho người đồng bào phải mang tật, thì phải xử với nó như nó đã xử với người ta: chỗ gãy đền chỗ gãy, mắt đền mắt, răng đền răng; nó đã làm cho người khác mang tật thế nào, thì người ta cũng sẽ làm cho nó như vậy. Ai đánh chết một con vật, thì phải đền; ai đánh chết người, sẽ bị xử tử (Lv 24:19-21).

– Mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân (Đnl 19:21).

     Với tên mắc nợ mà không biết thương xót đồng loại, Chúa Giêsu đã hỏi: “Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính Ta đã thương xót ngươi sao?” (Mt 18:32). Và đó cũng là câu hỏi mà Chúa Giêsu cũng chất vấn mỗi chúng ta từng giây, từng phút – nhất là trong Mùa Xuân này.

     Cô bé nhỏ kia bị quái vật quấn chết. Cái chết của em là cái chết vĩ đại, em chết nhưng lại vẫn bất tử, vì em chết thay cho cha mẹ, người chị, và dân chúng trong vùng. Em bé gái kia thật dễ thương và đáng khâm phục!

     Chúa Giêsu cũng bị những người thủ ác sát hại vì ghen tức, trong cái chết của Ngài cũng có chúng ta nhúng vào! Nhưng Ngài chết để chúng ta được sống dồi dào (x. Ga 10:10). Chính một người trong Thượng Hội Đồng tên là Cai-pha, làm thượng tế năm ấy, nói: “Thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt” (Ga 11:50-51).

     Mùa Xuân lại về, hoa Mai nở rực vàng trên khắp quê hương Việt Nam, nhắc nhở chúng ta về Luật Yêu Thương mà chính Đức Kitô đã truyền dạy và buộc chúng ta phải thực hiện vuông tròn.

     Nguyện xin Chúa Cha xót thương, nguyện xin Chúa Con tha thứ, nguyện xin Chúa Thánh Thần thánh hóa và biến đổi chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Tết Quý Tỵ – 2013

Nguồn: longchuathuongxot.vn

Ân Sủng Cho Giáo Hội hay Cho Nước Chúa?

ÂN SỦNG CHO GIÁO HỘI HAY CHO NƯỚC CHÚA?

Cha George Montague, SM, Cố Vấn thần học Hội Đồng Canh Tân Đặc Sủng Công Giáo Hoa Kỳ. Cựu chủ tịch Hiệp Hội Kinh Thánh Công Giáo, giáo sư thần học Đại Học St. Mary
tại Antonio, TX, Hoa Kỳ.


Khóa tĩnh tâm cuối tuần tại Duquesne! Chúng ta, những người đã và đang tham dự vào Canh Tân Đặc Sủng sung sướng biết bao mỗi khi được sống lại hoặc nghe nói về Khóa tĩnh tâm kỳ diệu đã đưa đến sự bùng nổ làm thay đổi đời sống đức tin của hàng trăm triệu người Công Giáo khắp nơi trên mặt địa cầu. Nhưng một phần của sự bùng nổ ấy đã được chuẩn bị từ ít năm trước tại Đền Thờ Giáo Hoàng và trên hai ngàn Giám mục đã thảo luận và đưa ra một khuôn khổ thần học nhờ vậy Canh Tân có thể nổ ra để xây dựng chứ không phải để tiêu hủy Giáo hội. Đó là hoạt dộng của Chúa Thánh Linh mà chúng ta gọi là Công Đồng Vatican II. Trước Công Đồng lịch sử này, một số nhà thần học như Yves Congar và ngay cả Đức Hồng Y Suenens cũng đã viết về vai trò quan trọng của người tín hữu giáo dân và các đặc sủng trong Giáo hội, nhưng phần đông, đặc sủng đã không được hiểu rõ giá trị hoặc không thực hành trong sự hiểu biết.


Dĩ nhiên cũng có các vị thánh như Gioan Vianney, cha xứ họ đạo Ars, ngài có thể nói tội của người khác trước khi họ xưng tội, hoặc các vị thánh khác đã làm nhiều phép lạ lớn lao trước và sau khi được phong thánh. Nhưng không trông mong rằng người tín hữu bình thường, hoặc ngay cả linh mục và các giám mục lại có thể cầu nguyện trong tiếng lạ hay nói tiên tri, hoặc chữa lành (ngoại trừ thỉnh thoảng có xảy ra qua bí tích xức dầu cho kẻ liệt). Vì thế quả là hứng thú lớn lao khi những sự việc này bắt đầu xảy ra qua những cái máng không ngờ trước được đó là những người tín hữu giáo dân mộc mạc ít được hướng dẩn, và ngay cả những người chẳng mấy thánh thiện. Họ chỉ có đức tin – và đặc sủng.


Hứng thú lớn lao, đúng vậy, nhưng cũng kinh ngạc, bởi vì sự kiện này làm sao lại có thể thích hợp với truyền thống thần học Công giáo. Bởi vì vụ nổ xảy ra đầu tiên tại khu lưu xá sinh viên của một Trường Đại Học và trong đó có cả những giáo sư người Công giáo bằt đầu đổ xô đi tìm sự giải thích thần học cho hiện tượng này. Đầu tiên, Kevin và Dorothy Ranaghan gọi đó là Catholic Ranaghan (Nhóm Ngũ Tuần Công giáo). Rồi các Cha Kilian McDonnell và Francis Sullivan bắt đầu xuất bản các đề mục. Sau đó, các tài liệu mang tựa đề Malines Documents được viết ra dưới sự bảo trợ của Đức Hồng Y Suenens. Sau cùng, cuốn sách Christian Initiation and Baptism in the Holy Spirit (Bí tích khai tâm Kitô giáo và sự Thanh tẩy trong Chúa Thánh Linh) do Cha McDonnell và tôi thực hiện đã khởi hứng cho tập Fanning the Flame (Khơi dậy ngọn Lửa Ân Sủng) do sự hợp tác của mười ba nhà thần học và các vị lãnh đạo Canh Tân Đặc Sủng, tập sách này được dùng như tài liệu hướng dẫn mục vụ. Người Công giáo luôn hiểu biết và đẩy mạnh những họat dộng xã hội dù vậy việc giải thích cho những hoạt động mới mẽ xuất hiện trong Canh Tân Đặc Sủng như: lời tiên tri và cầu nguyện chữa lành cũng chỉ là những việc bình thường.



Nhưng có lẽ đây là lúc chúng ta phải quay ngược ống kính lại để nhìn vào bức tranh đặc sủng một cách rộng lớn hơn. Và thật hiển nhiên, đây cũng chính là điều chúng ta tìm thấy trong tài liệu đã được Công Đồng Vatican đề ra.


Sự hiểu biết rộng rãi về các đặc sủng đã được bàn thảo và nêu ra trong tài liệu quan trọng của Công Đồng, Hiến Chế về Giáo Hội.


“Cũng chính Thánh Thần ấy, không chỉ thánh hóa và hướng dẫn Dân Chúa bằng các Bí Tích, các thừa tác vụ, và trang bị họ bằng các nhân đức, nhưng Ngài còn ban phát các ân sủng đặc biệt cho mọi cấp bậc các tín hữu ‘phân chia ân huệ cho mỗi người theo ý Ngài’ (1Cr 12:11), khiến người lãnh nhận các ân sủng ấy có đủ khả năng và sẵn lòng đảm nhận các công việc và nhiệm vụ khác nhau mưu ích cho việc canh tân, xây dựng và phát triển Giáo Hội như lời chép rằng: ‘Thánh Thần hiển hiện trong mỗi người hầu mang lợi ích’ (1Cr 12:7). Phải lãnh nhận những đoàn sủng này, từ các ơn chói lọi nhất đến các ơn thường mà nhiều người lãnh được, với lòng tri ân và yên ủi vì các ơn đó mang ích lợi và phù hợp với nhu cầu của Giáo Hội.” (Lumen Gentium, 12).


Nói cách khác, bên cạnh các đặc sủng Chúa ban cho để thực hành các tác vụ trong Giáo Hội, ngay cả phục vụ những người nghèo khổ và bất hạnh. Chúa còn muốn ban ơn cho người tín hữu giáo dân để họ xây dựng Giáo Hội trần thế. Điều này được thực hiện trong nhiều đường lối khác nhau. Sau khi xác định vai trò của người tín hữu giáo dân trong cộng đồng xứ đạo, trong việc thờ phượng và hướng dẫn. Tài liệu minh định năm phạm vi mà người tín hữu giáo dân được kêu gọi phục vụ nhưng họ cần tới đặc sủng: gia đình, giới trẻ, xã hội, quốc gia và thế giới.


Như vậy, Canh Tân nói với chúng ta cần phải làm gì? Có hai việc phải làm.



Trước nhất, chúng ta cần quảng bá sự hiểu biết về các đặc sủng để đón lấy những ơn huệ hướng chúng ta vào thế giới và xác định những người thực thực hành các đặc sủng này. Tôi không ước đoán rằng trong phạm vi này Canh Tân Đặc Sủng đã không thực hành được gì. Thí dụ, những người trong Canh Tân đã tích cực tham gia vào Phong Trào bảo vệ sự sống con người. Tuy nhiên, đôi khi, có những nhóm cầu nguyện dường như tự cô lập vì họ nghĩ rằng chỉ họ mới có Chúa Thánh Linh, và họ chỉ thực hành những gì trong “thế giới tâm linh” riêng của họ thôi.



Nhưng, thứ nhì, tôi tin rằng đây là ơn đặc biệt của Canh Tân để khẳng định rằng các tác vụ không thể tồn tại được nếu trước tiên không có sự nhận thức đặc sủng là những ơn huệ của Chúa Thánh Linh chứ không phải là những tài năng tự nhiên hay cái gì mình tự tạo ra được. Và những người thực hành các đặc sủng này sẽ hoàn thành những mục tiêu của Chúa phải được nuôi dưỡng bằng đặc sủng ca ngợi thờ phượng, lắng nghe Lời Chúa (ơn tiên tri) và chữa lành.\

 Nguon Thanhlinh
******************************************************

Mẹ Xuống Luyện Ngục

Xưa giáo dân thành Roma có tập quán cầm nến sáng ban đêm đi viếng các nhà thờ Đức Mẹ tối áp lễ Đức Mẹ Lên Trời. Có một phụ nữ quí phái cùng theo đoàn giáo dân đi viếng đền thờ Đức Mẹ. Khi bà quì cầu nguyện trong nhà thờ, vừa mở mắt ra thì thấy một đàn bà mình rất quen thân xưa, đã chết 6 tháng nay, đang quỳ bên cạnh mình đọc kinh. Bà quí phái bỡ ngỡ hết sức liền ra cửa nhà thờ đứng đợi. Khi thấy người quen bước ra liền hỏi ngay:
Chị có phải tên là Marozia không?
Phải, đúng tôi là Marozia
Ủa chị đã chết 6 tháng rồi mà? Chị được sống lại ư? Có được rỗi linh hồn không?
Thưa chị, từ lúc chết đến giờ, tôi bị giam phạt trong luyện tội khốn cực lắm, chỉ vì khi còn trẻ tôi đã hay làm đỏm làm dáng, làm dịp cho nhiều người. Song ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời thì đêm nay Đức Mẹ xuống luyện ngục đem tôi và một số linh hồn có lòng kính mến Đức Mẹ lên Thiên đàng.
Năm nào, đến lễ này cũng xẩy ra như vậy. Các linh hồn được cứu hôm nay thì nhiều lắm, đã kéo nhau đến nhà thờ này để tạ ơn Đức Mẹ. Bà chỉ được Chúa cho trông thấy một mình tôi thôi, chứ còn biết bao linh hồn khác đang quì chung quanh đây bà không được xem thấy.
Thấy bà bán tín bán ghi, thì linh hồn liền nói, “Cho bà được tin lời tôi, thì sang năm, chính ngày này lễ Đức Mẹ Lên trời bà sẽ chết.”
Thành Đamianô đã làm chứng tích chuyện này có thật và còn minh chứng rằng: Bà quí phái nghe nói như vậy tin ngay và từ hôm đó gắng làm nhiều việc lành, đến năm sau bà ngã bệnh và chết đúng ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời.
Source: dongcong.net

Comment

Translate